Ni trưởng huệ hương người tiên phong nhận cờ luân lưu

857

<HĐ> Cho đến thời điểm này Ni giới Việt Nam hẳn không còn ai xa lạ với Sakyadhita, (tiếng Phạn có nghĩa là con gái của Đức Phật). Từ năm 1987, Sakyadhita đã trở thành tên của Hiệp hội Nữ giới Phật giáo Quốc tế – một tổ chức của Ni giới và nữ Phật tử trên toàn thế giới.

Hội nghị Quốc tế của nữ giới Phật giáo lần đầu tiên tổ chức tại Bodhgaya, Ấn Độ. Tại buổi lễ ra mắt sự kiện lịch sử này, 1500 đại biểu nữ giới Phật giáo và một số vị Tăng đến từ 27 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới vinh dự được cung đón đức Dalai Lama XIV đến chứng minh và ban đạo từ cho một tổ chức nữ giới Phật giáo chính thức được thành lập lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo thế giới.

Hiệp hội Sakyadhita được thành lập với mong ước thực hiện những sứ mệnh cao cả thông qua lời dạy của Đức Phật, như xây dựng nền hòa bình thế giới, quan tâm đến những quyền lợi thể chất và tinh thần trong đời sống người phụ nữ, trong giáo dục văn hóa, phổ cập việc nghiên cứu, ấn hành các tác phẩm về lịch sử của nữ giới Phật giáo và các chủ đề liên quan, phát triển tu tập thiền định và vấn đề thọ giới Tỳ kheo ni, khuyến khích bảo tồn các địa điểm di tích tâm linh của Phật giáo cũng như khuyến khích các hoạt động từ thiện vì phúc lợi xã hội.

Vấn đề cần yếu là thiết lập kết nối liên lạc phụ nữ Phật giáo toàn cầu qua các mạng truyền thông và các hội nghị Sakyadhita được tổ chức hai năm một lần luân phiên ở các nước tự nguyện đăng cai.

Kể từ ngày thành lập vào năm 1987 đến nay, với hơn 30 năm hoạt động, Hiệp hội đã tổ chức thành công 15 Hội nghị Nữ giới Phật giáo Quốc tế tại các nước và vùng lãnh thổ (hầu hết thuộc châu Á):
1. Bodh Gaya, Ấn Độ năm 1987;
2. Bangkok, Thái Lan năm 1991;
3. Colombo, Sri Lanka năm 1993;
4. Thủ phủ Leh thuộc bang Jammu và Kashmir, Ấn Độ năm 1995;
5. Thủ đô Phnom Penh, Cambodia năm 1998;
6. Lumbini, Nepal năm 2000;
7. Đài Bắc, Đài Loan năm 2002;
8. Seoul, Hàn Quốc năm 2004;
9. Kuala Lumpur, Malaysia năm 2006;
10. Ulaanbaatar, Mông Cổ năm 2008;
11. TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam năm 2009-2010;
12. Bangkok, Thái Lan năm 2011;
13. Vaishali – Bihar, Ấn Độ năm 2013;
14. Yogyakarta, Indonesia, năm 2015;
15. Hong Kong, năm 2017.

Ngoài việc tổ chức các hội nghị quốc tế, Sakyadhita còn tổ chức các khóa tu thiền, các nhóm nghiên cứu và hội nghị tại nhiều quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Anh, Đức, Ấn Độ, Thái Lan, Sri Lanka… Các diễn đàn Phật giáo cũng được tổ chức tại Đại học Claremont Graduate, Đại học Smith và nhiều trung tâm nghiên cứu khác.

Những bài tham luận xuất sắc trong các hội nghị Nữ giới Phật giáo Quốc tế đã được Hiệp hội xuất bản thành các tập kỷ yếu hội nghị theo từng chủ đề. Rất nhiều tác phẩm và dự án nghiên cứu được trước tác từ các hoạt động của hiệp hội Sakyadhita, tạo nên một nền văn học mới của nữ giới Phật giáo, đã được xuất bản. Dịch phẩm của các tác phẩm này cũng đã xuất hiện tại các quốc gia: Mỹ, Đức, Miến Điện, Ấn Độ, Tây Tạng, Việt Nam và còn được dịch sang tiếng Trung Quốc, Mông Cổ và các ngôn ngữ khác.

Ni giới Việt Nam đã có mặt trong các hội nghị này từ năm đầu tiên khi Hiệp hội mới thành lập. Bắt đầu là những Tỳ kheo ni nghiên cứu sinh Việt Nam học tập tại Delhi, Ấn Độ đã đến Bodhgaya để dự lễ ra mắt Ban Tổ chức Hiệp hội những người con gái của Đức Phật.
Suốt 30 năm qua, hầu hết các kỳ hội nghị Sakyadhita luôn có sự hiện diện của nữ giới Phật giáo Việt Nam với những bài tham luận có giá trị đóng góp cho sự giới thiệu nền văn hóa lịch sử nước nhà cũng như gương sáng Ni giới Việt Nam. Người viết chưa quên một lần hội nghị được tổ chức vào năm 2008 tại Ulaanbaatar – Mông Cổ. Đây là một trong những lần có ít đại biểu Việt Nam tham dự. Có lẽ đất nước Mông Cổ xa xôi cách trở quá chăng? Vào mùa hè năm 2008, Phân ban Ni giới Trung ương cũng chưa thành lập. Đi dự hội nghị Sakyadhita tại Mông Cổ năm đó gồm có Ni trưởng Huệ Hương (Phó BTS GHPGVN Đồng Nai), Ni sư Diệu Ngộ (BTS GHPGVN Cần Thơ), Sư cô Diệu Minh (chùa Quan Âm, Cần Thơ), Ni sư Hương Nhũ (Học viện Phật giáo Việt Nam).

Chuyến đi Mông Cổ cũng là một chuyến đi nhiều kỷ niệm, bởi Mông Cổ – đặc thù của một đất nước toàn là đồng cỏ mênh mông. Phật giáo xứ Mông Cổ và Tây Tạng như hai anh em ruột vậy. Mông Cổ là một quốc gia Trung Á có diện tích lớn trên thế giới đồng thời là quốc gia không hề giáp biển, nhưng dân số chỉ khoảng 3 triệu người nên Mông Cổ trở thành nước có mật độ dân cư thấp nhất thế giới. Phần lớn đất đai Mông Cổ không thể trồng trọt được, chủ yếu là thảo nguyên, đồi núi và sa mạc. Thủ đô và thành phố lớn nhất của Mông Cổ là Ulan Bator. Hội nghị năm 2008 tổ chức ở một khu nghỉ dưỡng mà phòng ở được thiết kế theo dáng lều bạt tròn của đồng cỏ Mông Cổ thời xưa vậy.

Với xứ Mông Cổ, thực phẩm chay vô cùng đắt đỏ vì rau củ quả đều phải nhập về từ Nga, chỉ có thịt động vật nghe nói rất rẻ và phổ biến vì Mông Cổ là xứ đồng cỏ với những thảo nguyên rộng bao la và sự ưu thế của những động vật ăn cỏ. Gia súc ở Mông Cổ cũng chiếm số lượng rất lớn và đông đúc như ngựa, dê, cừu, bò, lạc đà…

Chúng tôi dự hội nghị từ năm 2008, nghĩa là ngót nghét 10 năm rồi, mà hồi đó tất cả đại biểu đến dự hội nghị muốn ăn chay đều phải đóng thêm tiền ăn là 500 USD cho một tuần lễ hội nghị, ngoại trừ những tham luận viên thì mới được miễn.

Chương trình hội nghị diễn ra mấy ngày tại Mông Cổ rất sinh động trong các diễn đàn hay tại workshop. Ni sư Hương Nhũ đại diện đoàn Việt Nam trình bày tham luận “Ni giới Việt Nam ngày nay” giới thiệu cả ba truyền thống Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ với những truyền thống tu học tiêu biểu và những hoạt động tích cực làm tốt đời đẹp đạo, đã gây sự chú ý và quan tâm lớn đối với nữ giới các nước trên diễn đàn quốc tế, thể hiện qua phần đặt các câu hỏi trong buổi thảo luận.

Ni Sư Lekshe Tsomo

Nhưng ấn tượng khó quên nhất vẫn là tiếng nói và khả năng diễn đạt của Ni trưởng Huệ Hương trong chương trình hội nghị Sakyadhita đã thể hiện đưỗc khả năng và kinh nghiệm của người làm công tác ngoại giao. Đặc biệt hơn nữa, trong chương trình bế mạc hội nghị, Ni trưởng Huệ Hương đã quyết định thay mặt Ni giới Việt Nam nhận cờ luân lưu đăng cai tổ chức hội nghị Sakyadhita lần thứ XI tại Việt Nam. Lời phát biểu của Ni trưởng giữa hội nghị thật rõ ràng, mạch lạc kêu gọi sự đoàn kết của nữ giới Phật giáo toàn cầu và cả sự quyết tâm của Ni giới Việt Nam sẽ tổ chức thành công hội nghị Sakyadhita lần thứ 11.

Có thể nói, lá cờ luân lưu của Hiệp hội nữ giới Phật giáo Quốc tế mà Ni trưởng Huệ Hương đã đem về Việt Nam sau hội nghị tại Mông Cổ đã góp phần thúc đẩy cho các hoạt động tổ chức hội nghị, các bài nghiên cứu, hoạt động văn hóa, nghi lễ… của nữ giới Phật giáo cả nước khởi sắc tỏa hương và đưa đến thành công viên mãn của hội nghị.

Phân ban Ni giới Việt Nam tuy mới hình thành chưa tới nửa năm, nhưng do nhu cầu hội nghị quốc tế nên Ni giới cả nước siết chặt tay nhau đồng tâm hiệp lực cùng thể hiện bằng những khả năng kiệt xuất tiềm tàng trong mật hạnh của các vị Trưởng lão Ni và tinh thần trách nhiệm, chịu khó của chư Ni trẻ Việt Nam.

Việc chuẩn bị Hội nghị gồm nhân sự, thành phần đại biểu, các khâu triển lãm, họp báo, bài vở, công tác phiên dịch đều được triển khai nghiêm túc sau nhiều lần họp với Ban Tổ chức Sakyadhita và Ni giới Việt Nam…

Nhìn lại quá trình tổ chức Sakyadhita lần thứ 11 tại Việt Nam, chúng ta cũng khó mà quên những ngày cuối năm 2009 và đầu năm 2010, hội nghị đã được tổ chức hoành tráng và thu hút đông đảo nữ giới Việt Nam và thế giới tại TP.HCM (gần 400 đại biểu quốc tế đến từ 41 quốc gia, vùng lãnh thổ cùng 1500 đại biểu trong cả nước và 587 khách mời). Như vậy, vào thời điểm đó, khu vực Nhà Truyền thống Văn hóa Phật giáo TP.HCM đã chào đón trên 2.000 đại biểu tham dự hội nghị.

Lo lắng cho Ni giới Việt Nam lần đầu tiên đứng trước trách nhiệm đăng cai một sự kiện mang tầm vóc quốc tế, một nhà báo đã viết “Ni giới Việt Nam lần đầu tiên ra biển lớn”. Nhưng cuối cùng kết quả của Hội nghị đã thể hiện trí tuệ, nhiệt tâm, lòng hiếu khách, sự hào phóng của Ni giới Việt Nam và để lại dấu ấn khó quên trong lòng Ni giới và những người phụ nữ quốc tế cho đến tận bây giờ.

Sau lần tổ chức hội nghị quốc tế thành công, Ni giới Việt Nam đã tạo uy tín lớn trên trường quốc tế. Ni sư Lekshe Tsomo – Chủ tịch Sakyadhita đã có lần nói với chúng tôi: “Ni giới Việt Nam đã có một dấu ấn tốt đối với thế giới. Các bạn nói và làm đi đôi, đến với Ni giới Việt Nam sẽ thấy rõ đây là những Ni tu hành có giới hạnh đầy đủ, sáng tỏ trong pháp học và pháp hành”.

Nhắc lại, chúng ta cũng sẽ không thể quên một vị Trưởng lão Ni, người đã mang lá cờ luân lưu về Việt Nam với niềm tin tưởng lớn, đó chính là Ni trưởng Huệ Hương – Phó Phân ban Ni giới Trung ương, phụ trách Tiểu ban Phật giáo Quốc tế của Phân ban Ni giới Trung ương đã cùng với nữ giới Phật giáo Việt Nam hoàn thành tốt công tác tổ chức và điều hành hội nghị. Và năm nay 2018, Ni trưởng Huệ Hương cũng là Trưởng ban Tổ chức Lễ Tưởng niệm Thánh Tổ Kiều Đàm Di Đại Ái Đạo năm 2018 tại Đồng Nai.

Kể từ khi hội nghị Sakyadhita tại TP.HCM đến nay đã gần mười năm trôi qua, nhưng những hình ảnh của hàng ngàn vị Ni với màu cờ sắc áo và dư âm của hội nghị vẫn vang vọng đâu đây, tựa như giọng nói hào hùng rất đặc biệt của Ni trưởng Huệ Hương. Người như hoa rạng ngời giữa rừng công đức sau hơn 36 năm cống hiến cho sự nghiệp Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội. Rừng công đức của Ni trưởng Huệ Hương vẫn đang thắp sáng cả trời đêm, xóa đi màn đêm u tối của vô minh, đau khổ. Hương của hoa trí tuệ vẫn lan tỏa như hương ưu đàm vẫn thơm ngát ngàn năm.

TKN. Hương Nhũ


 

  1. Sakyadhita – Những người con gái của Đức Phật, là tên của Hiệp hội Nữ giới Phật giáo Quốc tế.
  2. Hiện nay Ni giới ở các nước theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy vẫn chưa được thọ Cụ túc giới, do vấn đề “bị đứt đoạn” bởi các yếu tố lịch sử. Tuy nhiên, Ni đoàn Nguyên thủy đã được phục hoạt tại Tích Lan (Sri Lanka), nếu một Thức xoa ma na muốn thọ giới Tỳ kheo ni theo truyền thống Nguyên thủy có thể thọ ở Tích Lan, chắc chắn đây là cơ hội để việc thọ đại giới Tỳ kheo ni được truyền bá rộng rãi ở phương Tây.