Ni Sư Thích Nữ Nhật Đạo

    648

    (1957 – 2012)

     

    “Hạnh nguyện vào đời để độ sanh

    Rồi nay công quả đã viên thành

    Xả báo an tường về tự tại

    Trả rồi bi nguyện cõi phù sanh”.

    1. THÂN THẾ

    Ni sư Thích Nữ Nhật Đạo, thế danh Hồ Thị Hương, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1957 – Đinh Dậu tại Tân An – Phong Dinh, nay là Thành Phố Cần Thơ. thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 41, thuộc tôn phong Phi Lai miền Tây Nam bộ, đệ tử của Cố Hòa thượng thượng Hoàn hạ Tâm. Thân phụ là cụ ông Dương Văn Sến, thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Phấn, Ni sư là người con cả trong gia đình có 6 anh chị em, ba trai và ba gái, gia đình thuộc thành phần trung lưu.

    chùa Khánh Quang
    1. XUẤT GIA TU HỌC

    Nhờ có duyên lành với Phật Pháp, thuở nhỏ Ni sư thường xuyên đến chùa Khánh Quang – Cần Thơ để tụng kinh, học pháp và tham gia Gia đình Phật Tử. Ngày tháng trôi qua, nhận chân được giá trị và ý nghĩa của lời Phật dạy, đặc biệt là nếp sống tu hành đạm bạc nhưng thanh thoát nhẹ nhàng, ni sư âm thầm nuôi dưỡng ý nguyện xuất gia. Đến năm 1975, khi nhân duyên hội tụ, năm 18 tuổi, Ni sư được gia đình cho phép xuất gia tại chùa Phật Quang và được Hòa Thượng thượng Hoàn hạ Tâm thế phát và cho pháp danh là Nhật Đạo.

    Sau khi xuất gia tại Tổ Đình Phật Quang, Ni sư được Hòa thượng Bổn Sư dạy chữ Nho 214 bộ và các bộ kinh Địa Tạng, kinh Vu Lan, đặc biệt là kinh Di Đà học bằng văn bạch thoại. Bên cạnh ấy, Ni sư cũng được cố Ni sư thượng Trí hạ Phát dạy thêm Sa-di Luật giải. Trong thời gian này, Ni sư cũng được đến chùa Phước Hậu học thêm các bộ kinh Sơ Đẳng Phật Học Giáo Khoa Thư, Phật Tổ Tam Kinh, Phật giáo vấn đáp do Hòa thượng Tịnh Thuận dạy. Đến năm 1977, Ni sư được thầy Bổn sư cho thọ giới Sa-di-ni ở chùa Phước Huệ – Đồng Tháp. Sau 4 năm nhập chúng xuất gia tu học, được sự hướng dẫn trực tiếp của các bậc danh đức, Ni sư đã chuyên tâm công phu chấp tác, kinh luật tinh cần, nên được Thầy yêu bạn mến.

    Đến năm 1979, Ni sư được sự cho phép của thầy Bổn sư tiếp tục lên đường cần cầu Phật học. Trước tiên, Ni sư đến chùa Bửu Thành – Bến Tre học các bộ kinh Sa Di Luật Giải, Nhị Khóa Hiệp Giải, Quy Sơn Cảnh Sách… dưới sự hướng dẫn của Ni Trưởng Giác Hạnh, thời gian tu học tại đây kéo dài được 5 năm (từ năm 1979 đến năm 1983). Trong thời gian này, Ni sư được thọ giới Thức-xoa-ma-na ở chùa Bửu Long – Long Xuyên (1979). Năm 1980, với tinh thần tinh tấn tu học, giới hạnh trang nghiêm Ni sư đã được Hòa thượng Bổn sư cho thọ giới Tỳ-kheo-ni và Bồ-tát giới tại chùa Diệu Đức – Huế.

    III. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO

    Được chính thức gia nhập vào hàng Tăng bảo, Ni sư lại càng tinh tấn hơn trong việc tu học của tự thân. Sau khi mãn khóa học tại chùa Bửu Thành (1983), Ni sư đến chùa Giác Long (huynh đệ đồng môn) huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ (nay là Thị Xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang) ở và dạy chữ Hán cho Ni chúng tại đây. Một năm sau, Ni sư rời chùa Giác Long lên Sài Gòn đến chùa Diệu Quang – Cô Nhi Viện Diệu Quang – Bình Chánh, Tp. HCM (nay là chùa Từ Hạnh – Tp. HCM) phụ với Cố Ni Trưởng thượng Trí hạ Phát dạy học cho Ni chúng và tu học tại đó. Với tinh thần cần cầu học Phật, song song với việc dạy học tại bổn tự, Ni sư còn tham gia lớp học luật tại chùa Bửu Minh – Thủ Đức – Tp. Hồ Chí Minh. Đến năm 1986, sau khi Ni trưởng thượng Trí hạ Phát viên tịch, Ni sư rời chùa Diệu Quang và trở về chùa Giác Long ở.

    Đầu năm 1987, Ni sư đến chùa Phước Hòa – Gò Vấp – Tp. HCM ở để đi học, Ni sư hết sức nhiệt tâm trong việc phụng sự Tam Bảo và đặc biệt quan tâm đến lãnh vực giáo dục. Ni sư bắt đầu hoài bảo giáo dục của mình tham gia giảng dạy kinh luật cho Ni chúng tại các chùa Phước Viên – Bình Thạnh, chùa Giác Tâm – Phú Nhuận (1989). Để nâng cao trình độ về Hán văn và ngôn ngữ, song song với việc giảng dạy các lớp Phật học, Ni sư còn đăng ký học khoa Ngữ Văn ban Hán Nôm tại Đại học Tổng hợp Tp. HCM. Sau khi mãn khóa học, Ni sư tiếp tục tham gia lớp học phiên dịch Hán Nôm tại Tu Viện Huệ Quang – Tân Bình – Tp. HCM và làm việc trong Ban Biên Tập Tự Điển Phật Học Huệ Quang cho đến năm 1997.

    Sau một thời gian dài du phương cầu học, Ni sư quay về chốn tổ, đảm nhận chức vụ trụ trì chùa Phật Quang, huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long từ tháng 12 năm 1997 cho đến nay.  Nơi đây vốn là một vùng quê nghèo hẻo lánh, đời sống của người dân vẫn còn cơ cực, nghèo khó. Cảm nhận được nổi khổ của đồng bào, Ni sư chú trọng đến công tác từ thiện, thường xuyên giúp đỡ người già yếu bệnh tật, neo đơn không nơi nương tựa, vận động xây nhà tình thương, đóng giếng nước sạch, mời các phái đoàn y, bác sĩ về khám bệnh cho người nghèo, phát quà thiếu nhi cho các em trong dịp tết Trung Thu, tặng sách vở, quần áo cho học sinh nghèo của các trường tại địa phương; cấp phát học bổng cho học sinh nghèo vượt khó… Qua những việc làm vô cùng ý nghĩa và thiết thực ấy, Ni sư được chính quyền địa phương và dân chúng tin cậy, ngày 7 tháng 11 năm 2003 Ni sư được bầu làm Thành viên Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam huyện Trà Ôn khóa VII (2003 – 2008) và khóa VIII (2008 – 2013). Trong thời gian này, Ni sư tiếp tục đắc cử Đại biểu Hội đồng nhân dân xã nhiệm kỳ 2004 – 2011 và nhiệm kỳ 2011 – 2016.

    Với tấm lòng vì đạo năng nỗ, tháo vát và cẩn trọng, Ni sư đã tham gia mọi Phật sự tại địa phương. Ni sư đã được giáo hội tỉnh nhà giao phó nhiều trách nhiệm như:

    – Ủy viên Ban Đại Diện

    – Thư ký Ban Đại Diện

    – Phó Ban Đại diện Phật giáo huyện Trà Ôn, kiêm Chánh Thư ký

    – Phó Phân Ban Đặc Trách Ni Giới tỉnh Vĩnh Long

    Với đức hạnh trong sáng, gương mẫu trong cuộc sống tu hành, Ni sư đã nhiều lần được giáo hội mời tham gia trong Tam sư thất chứng của các giới đàn:

    – Giáo thọ của Giới đàn Thiện Hoa – tỉnh Vĩnh Long, năm 2007

    – Tôn chứng của Giới đàn Thiện Hoa – tỉnh Vĩnh Long, 2009

    – Tôn chứng của Giới đàn Nhật Tiên – tỉnh Hậu Giang, 2009

    – Giáo thọ của Giới đàn Thiện Hoa – tỉnh Vĩnh Long, 2011

    Như là một sự thừa nhận đức hạnh, năng lực và sự đóng góp không mệt mỏi của sứ giả Như Lai, vào năm 2007, Ni sư được giáo hội Trung Ương tấn phong Giáo phẩm Ni sư

    1. IV. NHỮNG NGÀY THÁNG CUỐI CÙNG:

    Tháng 4 năm 2011, Ni sư bắt đầu phát trọng bệnh. Dù biết thân đang mang căn bệnh ngạt nghèo nhưng vì Phật sự đa đoan, đến tháng 5 năm 2011, Ni sư mới lên Thành phố để điều trị. Hơn một năm trôi qua, dù tấm thân yếu bệnh, nhưng tinh thần Ni sư vẫn minh mẫn và linh hoạt, luôn tỏ ra kham nhẫn với bệnh tật. Ngày mùng 8, 9, 10 tháng 10 năm Tân Mão (2011), Ni sư vẫn nhận lời mời của Ban Tổ chức giới đàn tại tỉnh Vĩnh Long về làm Giáo thọ cho Đại Giới Đàn Thiện Hoa. Sau đó, Ni sư trở lại Sài gòn để điều trị.

    Trà Ôn-Vĩnh Long là một địa phương vùng sâu vùng xa, dân cư đông đúc, nguồn nước còn ô nhiễm, thiếu nguồn nước sạch để uống, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Với mong muốn giúp dân bớt khổ, Ni sư đã luôn ước nguyện có điều kiện để xây dựng một giếng nước sạch. Đầu năm 2011, nhân duyên hội đủ, một Phật tử Việt Kiều Mỹ đã phát tâm cúng dường cho Ni sư thực hiện Phật sự này. Trong thời gian này, dù sức khỏe của Ni sư đã thật sự suy yếu, căn bệnh quái ác đang hành hạ thân xác của Người, nhưng nghĩ đến những người dân nghèo đang ngày ngày không có nguồn nước sạch để sinh sống, Ni sư đã tận dụng sức tàn để hoàn tất công tác xã hội đầy tính nhân đạo và nhân văn này. Được sự quan tâm và chỉ đạo sâu sát của Ni sư, công trình đã được hoàn thành và chính thức đi  vào sử dụng sau hơn 03 tháng thi công. Đây cũng là Phật sự có ý nghĩa nhất mà Ni sư đã thực hiện trong những ngày tháng cuối đời.

    Với đạo hạnh và tấm lòng hy sinh vì đạo, vì đời, hàng đệ tử và Phật tử xa gần luôn cầu nguyện Ni sư sẽ vượt qua cơn bệnh, trụ thế lâu dài đã hoàn thành những công tác Phật sự đang còn dang dỡ. Nhưng than ôi! Cuộc đời vô thường, không ai đoán định trước được một việc gì, Ni sư đã bất ngờ ra đi vĩnh viễn mà không nói một lời từ biệt nào với hàng đệ tử, ngay cả những đệ tử cận kề, để bao tiếc thương cho những người ở lại.

    Vẫn biết rằng có sanh tức có tử, có đến sẽ có đi. Thế nhưng, làm sao chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động, khi nhớ lại một con người mà suốt cuộc đời đã miệt mài cần mẫn, đem hết tấm lòng nhiệt huyết để phụng sự cho đạo, cho đời! Một người học trò mà khi ra đi các bậc sư trưởng, huynh đệ pháp lữ trong tông môn ngậm ngùi tiếc thương; một con người mà hàng đồ chúng, Phật tử phải nén nổi đau thương, cố cầm nước mắt để tiển người thầy người mẹ với tấm lòng vị tha thương người, với cách nhân xử thế tế nhị khiêm cung đã mãi mãi ra đi.

    Hơn 1 năm trôi qua, mặc dù được các đệ tử, thân quyến, cùng tập thể y bác sĩ tận tình chăm sóc và chữa trị, nhưng thuận thế vô thường vào ngày 17 tháng 05 năm Nhâm Thìn (nhằm ngày 5 tháng 7 năm 2012) Ni sư đã xả báo thân an tường thu thần tịch diệt, trụ thế  56 tuổi, hạ lạp 30.

    Ni sư đã theo định luật vô thường trở về với thế giới Niết-bàn tịch diệt, bỏ lại sau lưng niềm thương tiếc vô biên của hàng tứ chúng Tăng, Ni và Phật tử, tấm gương đạo hạnh của Ni sư luôn sống mãi trong lòng người con Phật.

    Thế là:

                  Lá theo mùa lá rụng

                 Người duyên hết người đi

                 Buồn vui chừ bỏ lại

                  Rạng rỡ bước vô vi.

     

    NAM MÔ PHẬT QUANG ĐƯỜNG THƯỢNG thượng NHẬT hạ ĐẠO NI SƯ GIÁC LINH THÙY TỪ CHỨNG GIÁM.