Ni giới Tiền Giang Trên mảnh đất tình người

415

  Tiền Giang là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long, với phần lớn diện tích của tỉnh thuộc địa bàn tỉnh Mỹ Tho trước đó. Tuy nhiên, cũng có thời kỳ toàn bộ diện tích tỉnh Tiền Giang ngày nay đều thuộc tỉnh Mỹ Tho, bao gồm cả vùng Gò Công. Tiền Giang là tỉnh vừa thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long, vừa nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tỉnh lỵ của Tiền Giang hiện nay là Thành phố Mỹ Tho, nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về phía Bắc và cách Thành phố Cần Thơ 100 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A.

Với ưu thế địa lý như vậy và kỷ niệm 20 năm Sư trưởng Như Thanh về cõi Vô trung, PBNG Tiền Giang nơi mà Sư trưởng từng ghé thăm hoằng dương Chánh pháp năm 1948, vinh dự đăng cai tổ chức lễ Tưởng niệm Thánh Tổ Ni 2019 do Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm, người môn đồ thuộc Tông phong Huê Lâm làm trưởng Ban Tổ chức, hội đủ duyên lành, người viết vinh hạnh được đảnh lễ Ni trưởng trước ngày Đại lễ được Ni trưởng giới thiệu một số cái nhất của Ni giới Tiền Giang

Tu viện Liên Hoa – phòng khám từ thiện duy nhất của Ni giới Tiền Giang

 

Sư Trí Nhẫn

“Để hỗ trợ cho đồng bào nghèo trên địa bàn huyện Chợ Gạo vui xuân đón Tết cổ truyền dân tộc, ngày 14/01/2018 vừa qua, Ni sư Thích Nữ Trí Nhẫn, Trụ trì Tu viện Liên Hoa tọa lạc ở khu II, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đã vận động các nhà hảo tâm gần xa tổ chức tặng 80 phần quà Tết cho bà con có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn huyện Chợ Gạo. Mỗi phần quà trị giá 600.000 đồng gồm: gạo, mì gói, đường, bột nêm, nước tương và tiền mặt.”

Đối với người dân huyện chợ Gạo, những mẫu tin như thế đã trở nên quá quen thuộc, vì Ni sư Thích Nữ Trí Nhẫn, từ năm 1998 khi cho ra đời phòng khám từ thiện Tuệ Tỉnh đường, bà con nghèo không còn lo ngại về mỗi khi trái gió trở trời, cần phải chạy đôn chạy đáo vay mượn để lo chạy chữa cho người bệnh, với vườn thuốc nam của tự viện, Ni sư đã xóa đi mọi lo toan của bà con cô bác. không những thế, hàng tháng Ni sư còn phụng dưỡng 80 cụ già neo đơn, điều đặc biệt là tiền xe hàng tháng của các cụ khi đến chùa và tiền ăn sáng đều được Ni sư cung cấp toàn bộ.

Chùa Phổ Đức – nơi an cư của Ni toàn tỉnh

 

Chùa Phổ Đức

Chùa Phổ Đức xây dựng lần đầu vào năm 1945 tại đường Trần Hưng Đạo, phường 5, TP. Mỹ Tho (trên phần đất của ông Tám Hứa). Năm 1950, ông Tôn Tường đứng ra xây dựng với hình thức bán kiên cố; Sau khi xây dựng xong, ông Tôn Tường đã đến mời Ni trưởng Thích Nữ Như Ngộ và Ni trưởng Thích Nữ Trí Nguyện về trụ trì.

Năm 1964, với tâm nguyện độ sanh và đôi mắt thông tuệ, Nhị vị Ni trưởng đã cùng với bổn đạo quyết định dời chùa về số 40 Ấp Bắc, bên dòng sông Bảo Định như vị trí hiện nay.

Đặc biệt, được sự tính nhiệm của Giáo hội, song song với chùa Thiên Phước (Gò Cát, TP. Mỹ Tho), chùa Phổ Đức được chọn làm nơi nội trú cho Ni sinh theo học Trường trung cấp Phật học ngay từ buổi đầu thành lập Trường (1991) cho đến ngày nay. Trong buổi đầu, với nhiều khó khăn vây bủa, thế nhưng với tài đức của người học đạo, hành hạnh lợi tha, Ni sư Thích Nữ Như Hảo đã cưu mang, bảo bọc chư Ni sinh qua các khóa: I, II và III cư trú nơi đây an tâm theo học Phật pháp. Từng thế hệ chư Ni được đào tạo nơi đây và trực tiếp được sự uốn nắn của Ni sư Thích Nữ Như Hảo hiện nay đang tham gia vào các công tác quan trọng của Giáo hội, làm lợi lạc chúng sanh, trong đó có Ni sư Thích Nữ Huệ Năng, hiện đang trụ trì Chùa. Hàng năm đã đón tiếp 100 ~ 120 vị hành giả Ni sinh về đây nhập hạ.

Chùa Sắc tứ – ngôi chùa cổ tràn đầy lịch sử oai hùng

 

Chùa Sắc Tứ Linh Thứu

Chùa Sắc Tứ Linh Thứu nguyên thuở trước là Long Tuyền Tự. Tương truyền theo lời của các bậc kỳ lão, thì chùa được khởi thủy từ đời nhà Lê vua Cảnh Hưng (vì lâu quá không rõ niên hiệu). Thuở ấy, nền chùa là một khu đất hoang vu tịch mịch, cách xa làng xóm. Bọn Mục đồng theo lệ thường, mỗi ngày thả trâu đi ăn, cùng nhau hội họp tại đây để chơi giỡn. Chúng đốn cây, kéo lá, cất một cái chòi, nắn tượng Phật mà thờ phụng. Từ đó mỗi sớm sớm chiều chiều, thường dùng cảnh chùa giả ấy làm nơi nghỉ mát vui chơi hàng ngày. Ngày tháng trôi qua, bóng quang thấp thoáng, thời tiết đổi thay, chắc cũng có nhân duyên, nên các bậc tiền đức mới lần lần nối nhau xây dựng thành tòa Lan nhã. Lúc ấy có thầy địa lý, nhân dịp tá túc tại chùa, xem khu đất xong khen rằng: “Chùa này phong thủy rất đẹp, lại ở nhằm mạch suối rồng, ngày sau sẽ có chơn mạng Đế Vương đến ngự”. Nhân đó mới đặt là “Long Tuyền Tự” (龍 泉 寺) tức là chùa suối rồng.

Quả đúng như lời của nhà địa lý tiên đoán. Vào thời “Nam Bắc phân tranh”, Nguyễn Ánh (tức là đức Cao Hoàng triều Nguyễn) lúc ấy thế còn cô yếu, mà quân Tây sơn lại mạnh mẽ, nên Ngài bị thua, ra Bắc vào Nam, khi hiện lúc ẩn, rất là long đong khổ sở.

Một ngày nọ, đức Cao Hoàng bị thất trận to, quân Tây Sơn đuổi theo, Ngài cùng ông Nguyễn Huỳnh Đức vượt suối trèo non, ngẫu nhiên đến chùa Long Tuyền, bèn vào tỵ nạn. Lúc ấy, Hòa thượng Trụ trì chùa là Ngài Nguyễn Phước Chánh, đạo hiệu Nguyệt Hiện Thiền sư. Khi Cao Hoàng đến chùa, cách trang phục như kẻ thường dân, nói là khách phương xa đến xin nghỉ nhờ, Ngài chẳng cho biết rõ tung tích. Hòa thượng Nguyệt Hiện là người thông minh, xem dung mạo cử chỉ và xét tình thế hiện tại cũng đã thầm nghi, nhưng chẳng nói ra, chỉ tiếp đãi tử tế mà thôi. Lúc ấy Cao Hoàng vì lo nỗi nhà thế nước, thân thể lặn lội gió sương, nên cảm phải chứng thương hàn, ăn ngủ không an, tinh thần hoảng hốt, bệnh tình chỉ tăng chứ không giảm. Trong tình cảnh ấy, ông Nguyễn Huỳnh Đức lấy làm bối rối, vì chùa cách xa làng xóm, không biết đâu tìm thuốc, tìm thầy, thêm đức vua đương lúc ẩn tích, nên chưa quyết định ra sao. May thay, Hòa thượng Trụ trì là người giỏi về dược thảo, thấy vậy động dạ từ bi, nguyện xin điều trị. Nhân khi điều trị Thiền sư thấy rõ nỗi tâm ưu của vua, lại sẵn có lòng nghi, nên cạn lời thưa hỏi. Đức Cao Hoàng thấy Hòa thượng là người có vẻ từ bi, đạo hạnh, tính cách trung hậu nên Ngài nhận thật. Từ đó, Hòa thượng gia tâm lo bề thuốc thang cơm cháo. Vài hôm sau, vua vừa khỏe thì quân Tây Sơn đuổi đến ruồng bắt. Lạ thay cửa chùa lúc ấy thoạt nhiên nhện giăng phủ kín cả lối vào, cảnh trông hoang vắng, như đã lâu không người đặt chân đến. Khi quân Tây Sơn rầm rộ đến nơi, thấy đường sá cỏ tranh rậm rạp, mạng nhện phủ che, do dự hồi lâu, rồi có lẽ nghĩ chắc không ai, nên kéo nhau đi thẳng. Lúc ấy, trong chùa Chúa tôi hoảng hốt, chưa biết nơi nào ẩn thân, thì Hòa thượng trực nhớ cái Đại hồng chung trên đại điện, liền quỳ xuống tâu với vua, xin vua tạm vào đó lánh nạn.

Đức Cao Hoàng nhận lời, Hòa thượng cùng vài điệu nhỏ phụ nhau úp chuông xuống, dọn dẹp xong xuôi, đoạn ông Nguyễn Huỳnh Đức thoát ra ngoài tìm chỗ ẩn dạng. Một vài phút sau, có toán quân nữa kéo đến tìm tiếp. Lúc ấy quân Tây Sơn tiến thẳng vào bao vây xung quanh bên ngoài chùa, song chẳng thấy chi cả, sau cùng đến chỗ Đại hồng chung, một vài tên quân có ý nghi, cùng nhau xô thử, song chẳng thấy chuyển, chúng kêu lại thật đông, góp sức nhau đẩy lên. Nhưng lạ thay, càng đẩy càng không thấy xê dịch chút nào, quân sĩ ngơ ngẩn, cùng nhìn nhau lấy làm lạ. Vừa lúc ấy có viên thủ lãnh quân bàn rằng: “Cái chuông này nằm đây đã lâu, mà trong chùa có ông già với điệu nhỏ làm thế nào mà đỡ nổi đặng, thôi chúng ta đi tìm kiếm nơi khác kẻo mất thời giờ”. Quân sĩ không biết làm sao, lại vì tuân lệnh thủ lãnh nên kéo nhau đi hết. Vì thế, mà Đức Cao Hoàng thoát nạn. Ấy cũng bởi Cao Hoàng là vị chơn mạng Đế vương và cũng nhờ Tam Bảo oai linh, nên khiến Thánh Thần mặc hộ. Khi quân Tây Sơn hết tìm kiếm, đức vua vẫn còn ở lại chùa vài ngày, bịnh tình đã thuyên giảm, bèn tính cùng ông Nguyễn Huỳnh Đức dời chân đi. Hòa thượng thấy vua trong mình hãy còn yếu, nên hết lời mời vua ở lại uống thuốc thật khỏe rồi đi. Nhưng đức Cao Hoàng vẫn một dạ quyết định, biết thế cản ngăn không đặng, Thiền sư sắm sửa lương phạn cùng đồ hành lý, rồi lén đưa chúa tôi đến Hà Tiên.

Đến khi Cao Hoàng an ban phục quốc rồi, nhớ lại chuyện cũ, bèn hạ chiếu chỉ, mời Hòa thượng Nguyễn Phước Chánh lai Kinh. Cảm ơn Phật lực hộ trì, đức vua tu bổ và phong cho hiệu chùa là: “Sắc Tứ Linh Thứu Cổ Tự” (勅 賜 靈 鷲 古 寺), lại cũng vì nhớ công phụng sự, vua sắc phong cho Ngài Nguyễn Phước Chánh hàm ân là Mẫn Huệ Thiền sư Đại lão Hòa thượng.

Từ buổi khai sơn mãi đến nay đã trải qua hơn 16 đời trụ trì. Chư Hòa thượng, Ni trưởng tiền bối nhiều lần tu bổ, tôn tạo mới có được nét độc đáo cho ngôi chùa Sắc Tứ Linh Thứu như hiện nay.

Nói về ngôi chùa, từ khi ba vị Ni trưởng kế nghiệp, ngoài việc trùng tu cơ sở vật chất; Quý Ni trưởng còn xây dựng nơi này thành chốn Già lam tịnh địa tu học cho Ni giới nói chung và Ni giới tỉnh Tiền Giang nói riêng. Năm 1956 ba vị Ni trưởng đã cùng với chư Ni trưởng Ni bộ Bắc tông mở lớp Sơ đẳng Gia giáo Phật học tại chùa Sắc Tứ Linh Thứu. Suốt khóa học bốn năm, Ni trưởng Thích Nữ Thông Huệ đảm nhận chức vụ Giám đốc kiêm Giáo thọ sư, chăm lo sự nghiệp giáo dục đào tạo lớp Ni kế thừa ở miền Tây Nam bộ và các tỉnh lân cận. Nơi đây, quý Ni trưởng cũng đã nhiều lần được chư Tôn đức cho phép mở Đại Giới đàn truyền Đại giới cho chư Ni nhiều thế hệ. Và cũng là điểm thường xuyên mở Khóa An cư tu học cho chư Ni tại Tiền Giang.

Chùa Phật Bửu – Ni viện đầu tiên của Tiền Giang

 

Sư bà Minh viên

Chùa Phật Bửu Ni được Sư tổ Phước Trường chứng minh sửa lại từ ngôi tự viện mà người dân trong vùng quen gọi là chùa Sư Nữ, do Ni trưởng thượng Liễu hạ Tánh húy Nhựt Trinh dòng Lâm Tế 41 khai sơn, là ngôi chùa cổ trong huyện Cai Lậy, việc khai sơn chùa là một việc đổi mới trong lịch sử Phật giáo của huyện. Từ ngày xưa các tu sĩ nữ thường bị lu mờ trong thiền môn, sự thành lập ngôi chùa đánh dấu một giai đoạn cách mạng của những người nữ tu, được độc lập trong việc tu và hành đạo ở huyện nhà nói riêng, ở tỉnh Mỹ Tho nói chung.

Và được biết Ni trưởng Minh Viên, đương kim Trụ trì, năm nay đã 84 tuổi, vẫn còn dẫn dắt chư Ni kế vị theo lời di chúc, sứ mạng cao quý thiên liêng của Thầy Bổn sư giao phó, nơi Tổ đình gìn giữ bát hương Tổ đức, tiếp dẫn đoàn hậu tấn.

Vân Phàm