Ni giới Phước tuệ song tu qua Đặc San Hoa Đàm

24

  Ni giới Phật giáo ngay từ Nguyên thủy đã sớm được đức Phật giải phóng tư tưởng bình đẳng về khả năng “phúc tuệ song tu” trên con đường tới giải thoát. Ni giới Việt Nam là một bộ phận không nhỏ, nhưng số đông vẫn chưa thoát quan niệm tự ti về giới “tại gia vì thê, xuất gia vì Ni”. Tuy còn khiêm tốn về số lượng tờ báo và cây bút nữ trong dòng lịch sử báo chí Phật giáo Việt Nam, nhưng Ni giới cũng thể hiện khá sớm tiếng nói của nữ giới Phật tử như là một bộ phận của báo chí Phật giáo Việt Nam, đồng hành cùng dân tộc. Nổi bật là Tạp chí Hoa Đàm do Sư trưởng Huê Lâm Thượng Như Hạ Thanh (1911-1999) chủ biên từ 1973 đến 1975. Đến 2013 Hoa Đàm tục bản, không ngừng “tinh tấn” với nhiều thành tựu đáng kể, đại diện cho nữ giới Phật giáo trong nước và trên thế giới. Đó chính là sự thể hiện vai trò bình đẳng và khả năng “phước tuệ song tu” của nữ giới Phật giáo trên lĩnh vực báo chí và truyền thông hiện đại. Bài viết này xin triển khai thành một số ý chính:

– Quan điểm chung về Ni giới bình đẳng của Phật giáo.
– Điểm qua dấu ấn nữ giới trong dòng lịch sử báo chí Phật giáo Việt Nam.
– Giới thiệu Hoa Đàm.
– Một số nhận xét và đề xuất.

Từ khóa: Tạp chí Hoa Đàm, Ni giới Phật giáo Việt Nam, bình đẳng, “phước tuệ song tu”.

Quan điểm chung về Ni giới bình đẳng của Phật giáo

Ngay từ Nguyên thủy Ni giới Phật giáo đã sớm được Đức Phật giải phóng tư tưởng bình đẳng về khả năng “phước tuệ song tu” trên con đường tới giải thoát. Con đường tu chứng tích phước hay tích tuệ không là của riêng Tăng giới hay Ni giới, và cũng không có giới nào cao siêu hơn. Trên đường tu tất cả mọi người đều bình đẳng như nhau về khả năng và cơ hội giải thoát. Thời Đức Phật tại thế, nhiều nữ Phật tử đã được Ngài liệt vào hàng lỗi lạc1 với tài năng thuyết pháp, thiền định và làm điều phúc thiện, toàn diện cả Giới, Định và Tuệ.
Khi đạo Phật ra đời, xã hội truyền thống của Ấn Độ cổ (Vệ-đà giáo và Bà-la-môn giáo) đã buộc phải đổi thay một cách căn bản, trong đó nổi bật nhất và có tính vượt thời đại chính là vấn đề bình đẳng. Thực chất lúc đó là vấn đề “bình đẳng niềm tin tôn giáo”, vì Bàlamôn giáo không thừa nhận khả năng tới giải thoát của nữ giới cũng như hai đẳng cấp thấp bị loại ra ngoài xã hội (Thủ đà la và Chiên đà la). Bình đẳng niềm tin của đức Phật đề ra lúc đó có hàm nghĩa còn rộng và bao trùm cả vấn đề bình đẳng giai cấp và bình đẳng nam nữ!
Phật giáo cho rằng mọi tế tự phải từ nội tâm, bằng cách gột bỏ ngã chấp, diệt trừ tham sân si, chứ không phải phụ thuộc vào con trai nối dõi dòng tộc thần thánh. Sự thành lập Ni bộ Phật giáo dưới thời Đức Phật là một cuộc cách mạng, vượt trước thời đại hàng ngàn năm về bình đẳng giới trong niềm tin tôn giáo. Nền tảng cơ bản cho bình đẳng giới về niềm tin là Phật giáo đã làm một cuộc đổi thay lớn khi đưa ra thuyết Vô ngã, khẳng định con người vốn bình đẳng vì bản chất là Vô ngã. Do vô minh về vô ngã nên đều như nhau về Khổ (sinh lão bệnh tử; ái ố hỉ nộ; tham sân si), bình đẳng về khả năng tu dưỡng để tới giải thoát (Giới, Định, Tuệ), và vốn bình đẳng về khả năng tới giải thoát (Tuệ, Bi, Từ-tức Phật tính). Thuyết Vô ngã của Phật giáo đã lật đổ thuyết thần quyền của Bàlamôn giáo (rằng Bàlamôn là đẳng cấp thần thánh, trên cả đẳng cấp vua chúa). Tiến bộ của Phật giáo mau chóng đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội mà tôn giáo Thần quyền của Bà-la-môn đang cản trở. Chỉ sau ba thế kỷ (thế kỷ VI – III TCN) Phật giáo từ chỗ bị coi là tà giáo đã trở thành quốc giáo của Ấn Độ, và Bà-la-môn giáo buộc phải tự đổi tên thành Hindu giáo – tức tôn giáo của tất cả mọi người Ấn Độ chứ không còn tôn giáo của riêng đẳng cấp Bà-la-môn. Theo đó người phụ nữ Ấn Độ (cũng như đẳng cấp Thủ-đà-la và Chiên-đà-la) có thể tin là có thể tu dưỡng và có thể đạt được giải thoát như mọi đẳng cấp và nam giới. Họ có niềm tin đến với Phật giáo và thành tựu không thua kém ai trên con đường giải thoát, kể cả tu phúc hay tu tuệ.

Ni giới Việt Nam là một bộ phận không nhỏ, nhưng số đông vẫn chưa thoát định kiến tự ti về giới “tại gia vì Thê, xuất gia vì Ni” hàm nghĩa họ có xuất gia lên chùa thì cũng chỉ biết lo cơm nước, quét dọn, không có năng lực và thời gian dành cho tu học thành người giác ngộ, tự giải thoát cho chính mình. Trong dòng lịch sử báo chí Phật giáo Việt Nam, số lượng tờ báo của Ni giới và cây bút nữ tuy khiêm tốn, nhưng trên phương diện báo chí, nữ giới Phật giáo đã thể hiện khá sớm tiếng nói của mình góp phần phản ánh tâm tư nguyện vọng của nữ giới Phật giáo Việt Nam, và luôn đồng hành cùng dân tộc.

Phật giáo Việt Nam cũng đề cao quan niệm “phước tuệ song tu”, tức là hết hợp hài hòa hai phương diện trí tuệ và tình thương, từ bi, bác ái, vị tha… để Phật tử tu và tạo thêm phước báu cho chính mình và cho đời vơi bớt phiền não, giảm thiểu khổ đau cho chính mình và cho mọi người. Người Phật tử làm tất cả việc “phước thiện” cụ thể như cúng dường, hùn phước cất chùa, tạo tượng, đúc chuông, ấn tống kinh sách, đi chùa lễ Phật hoặc làm bố thí từ thiện xã hội, cứu giúp các nạn nhân thiên tai, người nghèo, kẻ cô đơn, già nua, bệnh tật khốn khổ trong cộng đồng, cũng như giảng pháp, in kinh, viết sách… Ngày nay, việc tham gia báo chí truyền thông để đưa thông tin về mọi mặt của Phật giáo tới cộng đồng Phật tử nói riêng và tới xã hội nói chung một cách tích cực chính là một trong những loại hình tích Tuệ (tu Tuệ) điển hình của thời hiện đại 4.0.

Đức Phật đã mở ra cho nữ giới con đường tự giải phóng bình đẳng, nhờ thoát bỏ vô minh về Ngã chấp nhỏ hẹp để vươn lên Vô ngã rộng mở, bình đẳng, vượt qua lệ thuộc vào nam giới, ra khỏi một thân phận đen tối thấp hèn, ngay từ thời Đức Phật, mà còn tự tích đủ Phước và Tuệ để tới Niết bàn. Ngày nay nhiều Ni sư có trình độ học vấn cao, điều kiện mạng phổ thông tới khắp nơi, nên khả năng tham gia báo chí và truyền thông của nữ giới Phật giáo được rộng mở, đây chính là điều kiện để nữ giới Phật giáo có thể “phước tuệ song tu” tích cực hoàn thiện bản thân và đóng góp cho Phật giáo cho dân tộc trên những vấn đề của Phật tử nói chung và của nữ giới Phật giáo nói riêng.

HT. Thích Giác Toàn đã nêu rõ: “Thông tin, truyền thông là ngành mới của Giáo hội nói chung và của Phật giáo TP.HCM nói riêng, công tác thông tin, truyền thông ngày càng phát triển cũng đòi hỏi Tăng Ni, Phật tử làm công tác thông tin, truyền thông Phật giáo các cấp, cơ sở tự viện cũng cần phải bồi dưỡng thêm kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, chuyên môn về truyền thông, báo chí để đáp ứng nhu cầu của công tác”. Như vậy, đến nay báo chí đã là một ngành của Phật giáo với lực lượng tham gia rất hùng hậu ở tất cả các cấp và các giới Phật tử. “Phúc tuệ song tu” đối với Phật tử làm báo chí càng thêm ý nghĩa thiết thực và sống động.

Điểm qua dấu ấn Nữ giới trong dòng lịch sử báo chí Phật giáo Việt Nam:

Nhiều học giả đi trước đã nghiên cứu khá đầy đủ và sinh động về lịch sử báo chí Phật giáo, nhất là trong công cuộc Chấn hưng Phật giáo (CHPG) Việt Nam. Có thể nói, dấu ấn nữ giới trong dòng lịch sử hoành tráng của báo chí Phật giáo còn khá dè dặt, khiêm tốn cả về số tờ báo và cây bút của nữ giới Phật giáo. Nhưng nữ giới Phật giáo đã có dấu ấn ngay từ đầu của phong trào CHPG, nhưng không duy trì được lâu dài, có lẽ do quá nhiều khó khăn khôn lường về định kiến cũng như điều kiện xã hội lúc đó.

– Giai đoạn khởi đầu 1929 – 1950

Bên cạnh một loạt các tờ báo và nguyệt san có sức tuyên truyền lớn của Phật giáo giai đoạn khởi đầu này như: Pháp Âm, là tờ báo Phật giáo đầu tiên được xuất bản ngày 31/8/1929 do HT. Lê Khánh Hòa (1877 – 1947) làm chủ nhiệm; Phật hóa Tân Thanh niên (1929), sau Pháp Âm một tháng do sư Thiện Chiếu2; Nguyệt san Từ Bi Âm (1931) ra mắt số đầu tiên ngày 31/4/1931, đến ngày 26/8/1931, cũng do HT. Khánh Hòa làm chủ nhiệm; Tạp chí Viên Âm (1933-1954) do HT. Trí Quang và CS Tâm Minh-Lê Đình Thám cùng điều hành trong suốt hai giai đoạn (1933-1945, đình bản rồi tục bản 1949-1953) thuộc tổ chức Phật học của Trung kỳ; Nguyệt san Tiếng Chuông Sớm (15/06/1935-???) của Hội Bắc kỳ Phật giáo Cổ sơn môn, được xem như tờ báo đầu tiên của Phật giáo trên đất Bắc khi hai miền Nam và Trung đã có báo hoạt động mạnh hưởng ứng phong trào CHPG đang lên; Đuốc tuệ (10/12/1935 -15/8/1945 và tục bản (1963-1967) là tuần báo góp phần rất lớn vào sự thành công của phong trào CHPG và xây dựng nền tảng cho Phật học, đặc biệt là Phật học Việt Nam thế kỷ XX; Duy Tâm Phật Học (1935-19433) của hội Lưỡng Xuyên Phật Học, do Hòa thượng Huệ Quang làm Chủ nhiệm với nhiều cây bút có uy tín như HT. Khánh Hòa, HT. Khánh Anh, CS Trần Huỳnh; Bác Nhã Âm 4(15/3/1936-1943); Tạp chí Bồ Đề Tân Thanh (1949-1954) gắn liền với sự ra đời Hội Phật tử Việt Nam thành lập tại chùa Chân Tiên, Hà Nội; Báo Tinh Tấn (1946-?) do sư Thích Minh Nguyệt (Tam Không) làm chủ nhiệm. Đây là cơ quan ngôn luận của Ban Chấp hành Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ, thành lập ở chiến khu Đồng Tháp Mười5 với “sứ mạng Phật tử kháng chiến”; Tạp chí Giác Ngộ (1947-1952) do CS Tâm Huệ Tráng Đinh làm Chủ nhiệm và CS Võ Đình Cường làm chủ bút; Nguyệt san Phương Tiện (1949-7/1954) do Hòa thượng Tố Liên làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút.

Ngay trong giai đoạn đầu này của báo chí Phật giáo Việt Nam, tiếng nói của nữ giới Phật giáo là Từ Bi Âm. Đây cũng là diễn đàn đầu tiên của Ni giới Việt Nam với những cây bút của nữ giới Phật giáo đầu tiên như NS Diệu Tịnh, SC Diệu Ngôn, SC Diệu Minh và nhiều nữ cư sĩ như NCS Tâm Đăng, NCS Diệu Quang. Ni sư Diệu Tịnh tên thật là Phạm Thị Thọ, pháp danh Hồng Thọ, được gọi một cách thân mật là cô vãi Diệu Tịnh, sinh năm 1910, người Gò Công. Các bài do Ni sư viết có tiếng vang như “Lời than phiền của một cô vãi” (số 27- 1933), “Cái án nguỵ truyền Chánh pháp” (số 73/1935) đều với nội dung kêu gọi phụ nữ Việt Nam nói chung và Ni giới nói riêng hãy dẹp bỏ tính tự ti mặc cảm, mạnh dạn tham gia gánh vác công việc của xã hội, tham gia CHPG Việt Nam. Tiếng nói của giới nữ Phật giáo được thể hiện công khai, bình đẳng trên báo chí chính là việc làm theo đúng hướng “phước tuệ song tu” mà Đức Phật đã dạy.

– Giai đoạn 1951 đến 1963:

Tổng hội Phật giáo Việt Nam được thành lập vào ngày 9/5/1951 (mùng 4 tháng Tư năm Tân Mão). Đó là nền tảng cần thiết cho sự thống nhất thực sự của Phật giáo Việt Nam. Báo chí Phật giáo Việt Nam đã có sự đóng góp không nhỏ cho thống nhất của Phật giáo Việt Nam. Các tờ báo đó là: Tin Tức Phật giáo (1951-1953 là một tờ báo riêng do Hội Việt Nam Phật giáo quản lý; Tạp chí Hướng Thiện (1950-1951) do Thiền sư Thích Thiện Minh làm Chủ nhiệm, tại Đà Lạt nhưng vì một số lý do đã tự đình bản vào giữa năm 1951; Tập san Liên Hoa (1952-1954) do tổ chức Thiện hữu Phật tử gồm các trí thức cư sĩ ở Đà Lạt xuất bản, Chủ nhiệm là Huỳnh Văn Trọng, Chủ bút là Thiền sư Thích Nhất Hạnh; Tạp chí Từ Quang (1951-1975) của Hội Phật học Nam Việt do cư sĩ Chánh Trí_Mai Thọ Truyền làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Ban đầu Từ Quang có khuynh hướng nghiên cứu chuyên sâu về Phật học, triết học Phật giáo, nhưng khi được TT Đồng Bổn tục bản thì chuyển sang khuynh hướng phổ thông nhằm gần gũi hơn với Phật tử đại chúng; Nguyệt san Phật giáo Việt Nam (1956-1959) là cơ quan ngôn luận của Tổng hội PGVN tập trung kêu gọi hòa hợp giữa các “Tập đoàn” Phật giáo để tiến tới thống nhất Phật giáo Việt Nam.

Đáng chú ý, giai đoạn này đã có tờ báo Liên Hoa văn tập (1955- 1966) do Ni sư Thích Nữ Diệu Không phụ trách, do Nhà xuất bản Liên Hoa Tùng Thư tại Huế chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, tháng 11/1966 tờ báo này sớm chuyển giao cho Giáo hội Tăng Già Trung Phần, nhưng nhiều cây bút nữ đã thực sự có tiếng nói đại diện cho nữ giới Phật giáo lúc đó. Đây thực sự là những bước tập dượt để chuẩn bị cho sự định hình và phát triển vững chắc hơn của báo chí Ni giới trong các giai đoạn sau. Ni sư Diệu Không đã trao Liên Hoa văn tập làm cơ quan ngôn luận của Giáo hội Trung Phần, và do Thượng toạ Thích Đôn Hậu trụ trì chùa Linh Mụ ở Huế làm Chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, NS Diệu Không làm quản lý, và đổi tên là Tạp chí Liên Hoa nhưng chỉ đến năm 1966 thì đình bản. Tạp chí này đặc biệt thu hút được những cây bút nữ tài ba, chẳng hạn Sư cô Dạ Quang với các mục giải đáp Phật học, các biên bản hội nghị của Giáo hội, các sự kiện liên quan đến Phật giáo vừa mới xảy ra… thời sự trong nước và thế giới đáp ứng được mong đợi của Phật tử lúc đó, song các bài viết của tạp chí này chưa đi sâu nghiên cứu Phật học, triết học.

Giai đoạn 1964 đến 1975:

Lúc này bối cảnh chính trị quốc tế, khu vực và Việt Nam đang có những đổi thay lớn, tác động trực tiếp đến báo chí Việt Nam. Theo đó, đã có một số báo lần lượt ra đời tại Sài Gòn, Hà Nội và một vài địa phương khác như: Tuần báo Hải Triều Âm6 (1964-1965) do Tổng vụ Văn hóa7chủ trương, và HT Nhất Hạnh làm chủ nhiệm, TT Thích Mãn Giác làm chủ bút. Tuần báo có hy vọng trở thành một đợt sóng có sức lan tỏa trong lĩnh vực văn hóa Phật giáo với những giá trị của Phật giáo như là nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam. Nhưng ngày 13 tháng 09 năm 1969 bị Chính phủ Diệm đình bản; Nhật báo Chánh Đạo8 (1965- 1969) có mục tiêu hoạt động là tranh đấu cho lẽ phải và công lý nên sớm bị đình chỉ. Sau tờ Chánh Đạo bị đình bản thì có tuần báo Thiện Mỹ (1964-1966) do Lê Văn Hiếu làm Chủ nhiệm, CS Võ đình Cường làm Tổng Thư ký, với mục tiêu hiện đại hóa Phật giáo và vận động xây dựng văn hóa dân tộc, nhưng chỉ có 53 số thì bị Chính phủ đình bản; Tờ Đất Tổ (12/5/1965 – 12/6/1965; tục bản 20-8-1965 – 1966) là tờ nhật báo của giới sinh viên Phật tử, ban đầu do Lê Văn Hòa làm Chủ nhiệm và Huỳnh Bá Huệ Dương làm quản lý; Bán nguyệt san An Lạc (1/8/1966-13/6/1967).


Giai đoạn này không xuất hiện tờ báo của riêng nữ giới Phật giáo, nhưng các cây bút nữ ngày càng nhiều và trình độ viết cũng càng tốt, kể cả lĩnh vực Phật học và triết học Phật giáo cũng bắt đầu có đóng góp của nữ giới Phật giáo. Chẳng hạn Tạp chí Từ Quang (1951-1975) nhận được nhiều bài của các cộng tác viên nữ có tên tuổi như NS Diệu Thuận, NS Thiện Diệu… đóng góp truyền bá tinh thần Phật học. Nhưng đến tháng 4 năm 1975 bị đình bản, sau khi liên tục suốt 24 năm, với tổng 265 số.

– Giai đoạn 1967 đến 1975:

Đây là một giai đoạn khó khăn cuả báo chí Phật giáo nói riêng và của Phật giáo Việt Nam nói chung, nhưng thực tế qua khó khăn càng đào luyện ý chí và trình độ, báo chí Phật giáo Việt Nam đã phát triển lên trình độ mới, các tờ báo và Nguyệt san liên kết với nhau, chia sẻ với nhau và khi gặp khó khăn về giấy phép hay kiểm soát của chính quyền các báo đã linh hoạt chuyển đổi từ báo sang Nguyệt san, rồi sang xuất bản sách… Nói chung, các báo của Phật giáo không hoàn toàn chạy theo số lượng mà chú trọng hơn về nội dung Phật học, Triết học Phật giáo, cải tiến liên tục hình thức, và các cây bút nữ cũng nhiều hơn, viết chắc tay hơn, theo đó tờ báo của Ni giới cũng dần được khẳng định hơn. Các Tạp chí của giai đoạn này là: Tạp chí văn nghệ Giữ Thơm Quê Mẹ (1965- 1966) do Hoài Khanh phụ trách, Nhà xuất bản Lá Bối đến tháng 7 năm 1975 thì đình bản; Tạp chí Nghiên cứu Vạn Hạnh (1965-1967) do HT Thích Đức Nhuận làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút, đây là Tạp chí chuyên nghiên cứu các vấn đề Phật học, triết học Đông Tây với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu có tên tuổi, nhưng chỉ có 2 năm sau, 1967 thì đình bản; Nguyệt san Đại Từ Bi (1965-1975) cơ quan ngôn luận và truyền bá giáo lý Phật giáo trong giới quân nhân Phật tử (Nha Tuyên Uý Phật giáo) do HT Tâm Giác làm Chủ nhiệm, có vai trò úy lạo và hướng dẫn quân nhân miền Nam tu học theo giáo lý nhà Phật, được thành lập theo đề nghị của Viện Hóa đạo, đến tháng 7 năm 1975 thì đình bản; Tạp chí An Lạc (15/8/1966-?) là tiếng nói của Tăng sinh ra số đầu tiên do TT Thích Thông Bửu làm chủ nhiệm; Tạp chí Tư Tưởng (1967- 1975) của Viện Đại Học Vạn Hạnh xuất bản do HT Thích Minh Châu làm Chủ nhiệm, phục vụ cho công tác nghiên cứu Phật học, triết học, văn hóa, giáo dục. Người viết cho tạp chí nầy là các nhà nghiên cứu, các vị giáo sư đang giảng dạy các trường Đại học tại Sài Gòn. Đến tháng 11 năm 1975 thì đình bản; Nội san Tin Phật (1969) đến số 2 đổi tên là Hóa Đạo; Nhật báo Gió Nam (tồn tại 8 tháng) do TT Huyền Diệu thuộc khối Ấn Quang làm chủ nhiệm, nhưng do bài viết tố cáo tội ác Mỹ Sơn, Mỹ Lai trước toà án Hoa Kỳ nên chỉ một năm đã bị đình bản; Tạp chí Hoằng Pháp (14/2/1972-?); Tạp chí Bát Nhã (tháng 3/1972-?) thường có bài hay của Thích Nữ Thể Quán; Nội san Thuyền Sen (1973) do Ni sư Thích Nữ Huỳnh Liên chủ nhiệm, cũng là diễn đàn cho nữ giới Phật giáo, nhưng nội dung chủ yếu chia sẻ nhu cầu đời sống, văn hóa mang giá trị của Phật giáo như: nấu chay, ăn chay, cũng lễ, trang trí ban thờ… cho chị em có thiện tâm với Phật giáo.

Đặc biệt, trong giai đoạn này nổi trội Ni chúng Bắc tông tham gia làm báo với Tạp chí Hoa Đàm, phát hành số đầu tiên vào mùa Xuân Quý Sửu 1973. Chủ nhiệm kiêm Chủ bút của Hoa Đàm là Tỳ kheo Ni Như Thanh, Sư cô Thích Nữ Như Thường làm Thư ký. Báo quán đặt tại chùa Từ Nghiêm ở đường Bà Hạt, quận 10 Sài Gòn. Hoa Đàm ra ba tháng một kỳ với một số mục tiêu cụ thể: 1) Phổ biến giáo lý Phật pháp trong Ni bộ Bắc tông; 2) Phát triển tinh thần đoàn kết của Ni giới, hướng dẫn nữ Phật tử và Cư sĩ tinh tấn trên con đường “phước huệ song tu”; và 3) Mở mang đường lối giáo dục nhi đồng. Hoa Đàm phát hành số cuối cùng vào tháng giêng năm 1975 (nhưng 2015 đã được Ni giới tục bản, giữ nguyên tên). Góp bài thường xuyên trên Hoa Đàm là nhiều Ni như: Tỳ-kheo Ni Như Thanh, NS Thể Quán, NS Như Hoa… Dấu ấn của nữ giới Phật giáo trên báo chí Phật giáo được thể hiện tập trung và điển hình nhất ở Tạp chí Hoa Đàm với những cây bút được đào tạo Phật học và triết học Đông phương bài bản cùng các năng lực ngoại ngữ (Pháp, Anh, Nhật, Trung) và ngôn ngữ cổ (Hán, Nôm) nên Hoa Đàm thực sự khẳng định được trình độ hiểu biết của nữ giới Phật giáo thể hiện thành công khả năng “tích/tu Tuệ” trên diễn đàn có tính học thuật cao về văn hóa, văn học nghệ thuật, Phật học, Thiền học…

Giới thiệu Hoa Đàm:

+ Hoa Đàm bao nhiêu tuổi: Cách đây hơn 40 năm, cuối xuân Quý Sửu (1973) ấn phẩm dành cho nữ giới Phật giáo với tên Hoa Đàm đã ra mắt, đúng dịp chào mừng Đại lễ Phật Đản (Phật lịch 2517) do cố Sư trưởng Huê Lâm Thượng Như Hạ Thanh (thường gọi là Sư trưởng Như Thanh) Chủ biên, và do Tùng Lâm Ni bộ Bắc Tông xuất bản. Nếu tính từ thời Sư trưởng Như Thanh sáng lập Hoa Đàm lần đầu (năm 1973) và sau lại được HĐTS của GHPGVN ủng hộ để tục bản vào năm 2013, thì hôm nay Hoa Đàm tròn 10 năm tuổi, đủ chững chạc để thể hiện tính độc lập và bình đẳng về Tuệ trên làng báo chí Việt Nam, và cũng khẳng định rõ tinh thần đồng hành cùng dân tộc của Hoa Đàm, tức của nữ giới Phật giáo Việt Nam theo định hướng Phước – Tuệ song tu hiện đại.

+ Đặc san Hoa Đàm đại diện cho tiếng nói của nữ giới Phật giáo Việt Nam: Hoa Đàm từ 1973-1975 đã khẳng định rõ mục đích, tôn chỉ và nhiệm vụ của một tờ báo của Ni giới. Từ 2013 đến nay, Hoa Đàm tích cực hội nhập và đang khẳng định được vị thế của mình với trọng trách và nhiệm vụ truyền tải triết lý Phật giáo, phản ánh đời sống tôn giáo của nữ giới Phật giáo cũng như nêu cao các tấm gương Đạo và Đời của chư Ni và các nữ Phật tử Việt Nam.

+ Đội ngũ của Hoa Đàm: Ngay từ đầu, Hoa Đàm đã được chư Tôn đức Ni thuộc Thường trực PBNG TƯ và Thành phố đầy đủ đạo hạnh và trí tuệ, tài đức, hồng chuyên dành tâm huyết để lãnh đạo, như: NT. Như Thanh đến NT. Đàm Nghiêm, NT. Như Như, NT. Như Minh, NT. Như Đức, NS. Nhật Khương…, các NS. Như Nguyệt, NS. Hương Nhũ và NS. Như Ngọc hôm nay đã trực tiếp luân phiên trong Ban Biên tập Hoa Đàm… Đến nay Hoa Đàm đã qua nhiều cấp độ (Đặc san, Bán Nguyệt san, Nguyệt san) và sắp tới sẽ là Tạp chí Hoa Đàm. Hiện nay, Hoa Đàm được Phân ban Ni giới TƯ và TP lãnh đạo với đại diện cao nhất là NT Từ Nhẫn. Lực lượng lãnh đạo này càng cho thấy sự trưởng thành vượt bậc của Hoa Đàm theo đúng hướng “Phước Tuệ song tu”.

Đặc biệt, lực lượng cộng tác viên của Hoa Đàm giai đoạn đầu, không chỉ là các chư Tăng, chư Ni, mà còn nhiều nhân sĩ trí thức có tâm huyết truyền bá Phật giáo, coi đó là bản sắc văn hóa của Việt Nam, đưa Phật giáo Việt Nam hội nhập tới mọi nơi trên thế giới trong bối cảnh hội nhập. Hôm nay là đông đảo các cây bút trong nước và nước ngoài có tâm huyết và trình độ như: NT Như Như, NT Tịnh Thảo, NS.TS. Hạnh Tâm, SC. Hòa Nhã… trong nước; SC. Bảo Hải, Phật tử Diệu Nga… nước ngoài; các thiện nữ và nam trí thức quan tâm thực sự tới Phật giáo nói chung và Ni giới Phật giáo nói riêng như: PGS.TS. Nguyễn Công Lý, TS. Dương Hoàng Lộc, PGS.TS. Trần Hồng Liên, PGS.TS. Hoàng Thị Thơ, TS. Lê Thị Hằng Nga9, TS. Tống Thị Quỳnh Hương… và ngày càng nhiều hơn nữa.

Hoa Đàm không ngừng nâng cấp trình độ cán bộ chuyên trách để có hiểu biết, bằng cấp chuyên nghiệp về báo chí, đồng thời tiếp thu chuyển giao kiến thức, kinh nghiệm, công nghệ giữa các thế hệ “các bậc cha chú trong nghề báo chí”, đồng thời tiếp thu và cập nhật liên tục những kiến thức hiện đại nhất qua tập huấn như Khóa Tập huấn thông tin, báo chí 201910. Đây là lần tổ chức tập huấn báo chí đầu tiên của GHPGVN và Hoa Đàm đã tích cực tham gia để nâng cao hơn nữa vai trò tờ báo của Giới nữ Phật giáo Việt Nam.

+ Hoa Đàm có bước tiến cụ thể như thế nào: Hình thức của Hoa Đàm ngày càng đẹp, cấu trúc nội dung ngày càng đa dạng, phong phú, cập nhật các thông tin, sự kiện hoạt động của Phật giáo trong nước và quốc tế, bắt đầu được Ni giới quốc tế thừa nhận và khẳng định được tiếng nói của Phật giáo Việt Nam nói chung, cũng như Ni giới Phật giáo Việt Nam nói riêng trên nhiều lĩnh vực, cả Phật học và triết học Phật giáo…

+ Mục tiêu xuyên suốt cuả Hoa Đàm: Hoa Đàm là đại diện cho tiếng nói của Nữ giới Phật giáo Việt Nam, góp phần nâng cao nhận thức về Đạo pháp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của Ni giới cũng như nữ Phật tử của Phật giáo Việt Nam. Hoa Đàm cũng là tờ báo đi tiên phong trong cuộc cách mạng tinh thần của nữ giới, luôn hướng tới việc khuyến khích phụ nữ vươn lên, vượt qua áp đặt “trọng nam khinh nữ” từ ngàn xưa và đối với giới nữ tu hành phải tiến tới làm chủ hiểu biết, có trí tuệ ngày càng sâu rộng với quan điểm tiến bộ của nữ giới hiện đại.

Nói chung, Hoa Đàm thực sự đã đủ cả về chất và lượng để đại diện một cách chính thức cho Giới nữ Phật giáo trên báo chí Phật giáo Việt Nam. Đến nay Hoa Đàm cũng là nơi, địa chỉ chính thức, tin cậy để giới nữ Phật giáo tự chủ và tự tin thể hiện mong muốn “phước tuệ song tu” trong tu dưỡng và đóng góp cho Phật giáo nước nhà.

Một số nhận xét và đề xuất:

– Hoa Đàm nên chuẩn bị một Hoa Đàm online với trang web song ngữ Anh và Việt nhằm giới thiệu về giới nữ Phật giáo Việt Nam với giới nữ Phật giáo các nước trên thế giới có cộng đồng người Việt Nam sinh sống, đồng thời cũng qua đó thâu nhận, cập nhật thông tin nhằm góp phần phát triển Ni giới của Giáo hội Phật giáo Việt Nam lên tầm quốc tế, bắt kịp với đà tiến bộ của nền báo chí nước ngoài. Những tạp chí online và trang web song ngữ sẽ xuất hiện như lời tiên liệu của nhà bác học đã nói về Phật giáo là “… một tôn giáo toàn cầu… “.
– Tôi rất đồng tình với ý kiến góp ý của PGS TS Trần Hồng Liên “Đặc san Hoa Đàm không nên bỏ quên phản ánh hoạt động Phật sự của Ni giới hệ phái Khất sĩ, của các tu nữ hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh và nhất là tiếng nói của tu nữ, của nữ Phật tử người Khmer ở Việt Nam”(bài “Hoa Đàm lên 7 tuổi” trong Hoa Đàm, Số 70/2019).

– Hoa Đàm cần một lực lượng làm báo chuyên nghiệp, song cũng cần mua tin và xử lý tin rất nhanh của Thông Tấn Xã Việt Nam và các hãng thông tấn ngoại quốc và hoặc đón nhận tin tức mới nhất, nhanh nhất có liên quan đến Phật giáo và Phật giáo Việt Nam được truyền qua các Đài Phát thanh có uy tín của thế giới. Từ đó, mở nhiều chuyên mục các bài xã luận, các phóng sự điều tra, những chuyên mục văn nghệ và chuyên mục về Phật học như một kênh khẳng định vai trò, vị thế của Nữ giới Phật giáo Việt Nam, văn hóa và con người truyền thống của phụ nữ Việt Nam.

PGS. TS Hoàng Thị ThơViện Hàn Lâm KHXHVM (VASS)


  1. Xin tham khảo: Susan Mureott (2015) Những nữ Phật tử đầu tiên (The First Buddhist Women), người dịch: Mai Văn Tỉnh, NXB. Phụ Nữ.
  2. Thư viện Huệ Quang đã sưu tầm và in chung vào một tập bìa cứng, tiêu đề là Hai Tờ Báo Đầu Tiên của Phật giáo: Pháp Âm, Phật Hóa Tân Thanh Niên, vì tổng số trang quá ít và đều là hai tờ báo đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.
  3. Duy Tâm Phật Học sau này đổi thành Duy Tâm, được 54 số thì bị đình bản 6/7/1943.
  4. Theo nguyên bản, không phải Bát Nhã mà là Bác Nhã.
  5. Ban Chấp hành Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ, đặt Văn phòng Trung ương tại chùa Ô Môi, xã Mỹ Quý, Đồng Tháp Mười. Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ được tổ chức tại nhiều nơi: Gia Định, Chợ Lớn, Sài Gòn, Bà Rịa, Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Long Xuyên, Bạc Liêu, Rạch Giá… Tờ báo Tinh Tấn được in tại nhà in Trí Thiền (Nguyễn Văn Đồng).
  6. Một năm sau do đáp ứng tình hình thực tế lúc bấy giờ của Phật giáo, Hải triều Âm đổi tên thành Nhật báo Chánh Đạo.
  7. Tổng vụ Văn hóa là một trong 9 vụ thuộc Viện Hóa đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
  8. Nguyên thủy đây là tuần báo Hải triều âm.
  9. Tham khảo từ một tổng kết của PGS.TS. Trần Hồng Liên nhân ngày Báo chí Việt Nam.
  10. Tham khảo bài “Khóa Tập huấn thông tin, báo chí 2019: Sinh động, bổ ích và ý nghĩa” trong Hoa Đàm, số 68- 2019.