Những giọt lệ của cây nến

47

  Đèn nến có đủ các kiểu các loại, đế cắm nến cũng có nhiều kiểu loại khác nhau. Nếu bạn đã từng tham quan các tự viện, hoặc trong nhà của bạn có cúng thờ thánh tượng Bồ tát và bài vị tổ tiên, thế thì bạn nhất định sẽ quen biết tôi – đế cắm nến.
Tôi đã được đúc từ năm loại kim khí khác nhau như vàng, bạc, đồng, sắt và thiếc, nhưng cũng có loại được làm bằng gỗ, thậm chí trên một thanh gỗ nhỏ đóng rất nhiều đinh sắt, cũng có thể làm đế cắm nến. Mười loại cúng dường trong Phật giáo, có một loại “cúng dường nến”, cho nên thắp nến cúng Phật là bày tỏ sự cúng dường cung kính kiền thành nhất. Giả sử cúng Phật không thắp nến, thì tôi sẽ không có đất dụng võ, cũng không được lưu truyền đến ngày hôm nay. Do đó, cây nến và tôi thật sự có duyên phận chặt chẽ không thể tách rời.

Đèn nến có rất nhiều tên gọi, như hồng chúc (đèn đỏ), bạch chúc (đèn trắng), tố chúc (đèn màu thuần trắng), cống chúc (đèn tưởng niệm), thọ chúc (đèn chúc thọ), phú quý chúc (đèn phú quý), và long phụng hoa chúc (đèn truyền thống theo phong tục dân gian) v.v… Ngoài ra, phổ biến nhất là dương lạp chúc (loại đèn được làm theo phương pháp Tây Âu), tiết kiệm nhất là tiểu bái chúc. Dương lạp chúc có loại giả, thường được sử dụng để tiết kiệm nguồn năng lượng và những nơi không có điện; tiểu bái chúc sau khi được thắp lên, bạn chỉ có thời gian khấu đầu ba cái thì nó đã kết thúc.

Người bình dân chỉ có thể nhìn thấy những cây nến và đế cắm nến phổ thông, đến nỗi có loại nến to khoảng bốn, năm trăm kilôgam có thể thắp được một năm rưỡi, còn có loại đế cắm nến cao hơn một người rất ít ai có thể nhìn thấy. Những cây nến và giá nến to lớn này đều nằm trong những ngôi chùa nguy nga tráng lệ, thông thường mọi người chỉ biết chạy vào những ngôi miếu Thành Hoàng1, cung Ma Tổ2 nhỏ xíu đó, vì vậy trong suốt cuộc đời, họ cũng không thể nhìn thấy chân thân của tôi ạ!

Khoa học đã phát triển, cây nến đang dần dần bị loại bỏ bởi đèn điện. Một số Tự viện, Am, Cốc, Niệm Phật đường lớn nhỏ ở gần đô thị văn minh, đều cấm nến giả trên người tôi. Họ lắp một bóng đèn điện vào giữa ngọn nến giả, mọi người nhìn thấy ánh sáng tỏa ra bên ngoài đặc biệt trang nghiêm túc mục lạ thường. Lúc đầu tôi cũng từng cảm thấy có sự mê hoặc không thể lý giải, cho rằng nếu dùng đèn điện thì cứ dùng đèn điện, tốt thôi, tại sao phải đem đèn giả lắp đèn điện? Cúng dường đèn kiểu nầy là dối người, còn dối cả Phật phải không? Mãi đến bây giờ tôi mới hiểu rõ cái gọi là “cúng dường đèn”, cũng không nhất thiết chỉ giới hạn đèn nến được làm bằng sáp; mà đèn điện và đèn dầu đều có thể được xem như là đèn cúng dường. Chỉ cần mọi người không bỏ rơi tôi không cần đến tôi, còn tất cả những thứ khác tôi đều có thể phương tiện tùy duyên.

Điều không thích hợp chính là có một số người không hiểu về Phật pháp, họ sử dụng dầu động vật để làm đèn cúng dường Phật. Sát sinh hại mạng chúng, chẳng những không có công đức, mà còn mang vô số tội nghiệp! Đức Phật có linh thiêng, nhất định sẽ than thở thương xót cho những chúng sinh ngu ngốc này!

Tôi không chỉ được sử dụng để cắm đèn, mà tôi còn dùng để trang trí. Trong một tòa Đại hùng Bảo điện, từ dung của Đức Phật ngồi đoan chính ngay giữa trung tâm, hai bên bảo tòa của Ngài, nếu không có tôi đứng sừng sững trang nghiêm trọn ngày ở chỗ đó, chắc chắn sẽ làm giảm uy phong rất lớn!

Ngôi tự viện mà tôi ở tận trong vùng sâu, có khi rất bận rộn, cũng có lúc nhàn hạ. Thời điểm bận rộn nhất là vào ngày mồng một, ngày rằm hoặc Pháp hội Hương kỳ3 nào đó, lúc này, thiện nam tín nữ bốn phương tụ tập về để cùng nhau thắp hương cúng đèn, tôi và em trai lư hương đều cảm thấy choáng ngợp ứng phó không xuể, người này tiếp nối người kia với số nhang đèn quá nhiều. Cũng may trên đại điện có thầy hương đăng, không ngừng dập tắt đèn nhang của người đến trước để chỗ trống cho những người đến sau.

Một lần nọ, có ông lão dẫn đứa con trai nhỏ đến chùa lạy Phật, cặp đèn lớn của ông mới thắp chưa bao lâu, thì thầy hương đăng tắt rồi đem đi cất, vì vậy trong lòng ông rất buồn phiền áo não, nghĩ rằng mình mua đôi đèn lớn này quá lãng phí tiền bạc, nên ông về nhà với tâm trạng rất không thoải mái. Trên đường đi, con trai ông lại bị bệnh cấp tính rồi chết, trong lòng ông càng lo lắng, đành phải mua một cỗ quan tài để thi hài của con trai mang về nhà. Nào ngờ khi về đến nhà, đứa con cùng đi dâng hương với ông đã chết dọc đường hiện đang đứng trước cửa đón ông, ông cho rằng đã nhìn thấy hồn ma nên vô cùng kinh hãi! Con trai giải thích với ông: Bởi vì người thắp nhang quá đông, họ chen lấn cha, cho nên có người dẫn con về nhà trước. Ông lão nghe qua nửa tin nửa ngờ liền mở quan tài để xem, trong quan tài không phải là xác chết của con trai, mà là đôi đèn to chính mình vừa đem đi cúng Phật, phía trên có viết tám chữ lớn: “Tâm không chân thành, trả về nguyên chủ”. Lúc này ông mới biết sự linh ứng của chư Phật và Bồ tát. Cái gọi là tiến hương cúng đèn chẳng qua chỉ là bày tỏ tâm ý thành kính của mình mà thôi.

Có nơi mọi người thắp nến, cũng có nơi không dùng đế cắm nến trên thân tôi. Lúc đi đường trong đêm đen, họ cắm ngọn nến trong chiếc lồng đèn, thì có thể xua tan bóng tối và tự do đi lại. Người xưa “cầm đuốc chơi đêm”4 có lẽ cũng chính là phong cách này. Họ lo sợ đời sống sẽ trống rỗng mà thời gian và vẻ đẹp phong cảnh thì có hạn, vì vậy họ mới cầm đuốc dạo chơi ban đêm. Nhưng ngày nay khi mọi người đi chơi đêm, đã không cần cầm lồng đèn nữa, trên tay họ đã cầm đèn pin, tiện lợi thoải mái hơn nhiều. Vả lại, người thời nay căn bản không thích nhìn ngắm thưởng thức bất kỳ vẻ đẹp tự nhiên nào vào buổi tối nữa, hằng đêm họ nhảy múa dưới ánh đèn neon của vũ trường; họ vui vẻ ăn chơi phóng đãng cuồng loạn trong cảnh sắc gợi tình của các quán rượu thâu đêm! Đây có phải là tiến bộ của khoa học, hay là sự đọa lạc của con người?

Mọi người đều biết vào thời cổ đại, mỗi nhà mỗi hộ đều không có đèn điện. Khi màn đêm buông xuống, chỉ thắp nến sáp (đèn cầy). Quan Vân Trường5 “cầm đuốc thâu đêm”, vẫn là một câu chuyện tuyệt mỹ được mọi người ca tụng lưu truyền đến nay. Điều này chứng minh ánh sáng ngọn nến trên mặt tôi, không chỉ có thể tỏa sáng trong đêm đen, mà lại càng có thể xua đuổi tất cả tà ác. Trong lịch sử đến nay vẫn còn ghi: “Trời xanh xem sử xanh, không cô phụ trời xanh; mặt đỏ mang tim đỏ, không quên ân Hán Đế” (青天觀青史,不負青天;赤面秉赤心,無忘漢帝). Mặc dù đây là một lời khen ngợi nhân cách kiên trinh bất khuất của Quan Vân Trường, nhưng không có tôi thì làm sao có thể lưu lại giai thoại này?
Bạn chớ nên xem ngọn nến thắp trên người tôi là vật vô tình, nói thật, so với vật thể hữu tình nó còn đa tình hơn đấy! Từ xa xưa, các văn nhân thi sĩ thường dùng nến để thể hiện tình cảm và biểu đạt tâm ý của họ. Như Đỗ Mục (杜牧803 – 852), thi nhân đời Đường trong bài thơ Tặng Biệt (赠别) có câu: “Người đa tình lạnh lùng như người vô tình, khi chia tay không cười nổi với bạn, chỉ cùng bạn uống say túy lúy trên bàn rượu. Cũng thế, ngọn nến có tim còn quý tiếc biệt ly (khi nến cháy tàn), rơi lệ thay người đến rạng đông”. Tác giả nhấn mạnh rằng cây đèn có lõi (trái tim), tương ứng với “vô tình” trong câu đầu tiên của bài thơ. Ý nói con người cũng có một trái tim, nhưng họ luôn vô tình phân biệt, mà ngọn nến là một vật vô tình cũng có bấc đèn, nhưng tình cảm là chân thành, quý tiếc sự ly biệt mà thương cảm rơi lệ.

Nguyên văn:

多情却似总无情
唯觉樽前笑不成
蜡烛有心还惜别
替人垂泪到天明

Phiên âm:

Đa tình khước tợ tổng vô tình
Duy giác tôn tiền tiếu bất thành
Lạp chúc hữu tâm hoàn tích biệt
Thế nhân thùy lệ đáo thiên minh

Tam dịch:

Đa tình giống như vô tình
Cười chưa thành tiếng rượu bình cạn vơi
Tim đèn lại tiếc chia phôi
Thay người sa lệ đến trời rạng đông

Lý Thương Ẩn đời Đường (李商隐813 – 858) cũng nói: “Đến mùa xuân con tằm nhả hết tơ rồi mới chết, cũng vậy, ngọn nến cháy thành tro lệ mới cạn.

Nguyên văn:

春蠶至死絲方盡
蠟炬成灰淚始乾

Phiên âm:

Xuân tàm chí tử ti phương tận
Lạp cự thành khôi lệ thỉ can

Tạm dịch:

Con tằm đến chết tơ mới hết
Nến cháy thành tro lệ sẽ khô

Ý nói: Gặp nhau đã khó, ly biệt càng khó hơn, thời tiết cuối xuân trăm hoa tàn tạ, lúc này con tằm nhả tơ đã yếu dần, nhưng nó vẫn kết kén nhả đến sợi tơ cuối cùng rồi mới chết; Lúc ngọn nến bị đốt sắp thành tro, dầu sáp của nó giống như nước mắt vẫn nhỏ giọt cho đến khô cạn mới thôi.

Đúng vậy, ngọn nến sẽ rơi lệ khi được thắp sáng, bởi vì ánh sáng của mình quá yếu, và bóng tối của thế giới Ta bà, làm sao ánh nến đơn thuần có thể chiếu sáng trọn cả nhân gian? Nhìn thấy những chúng sanh ngu si đang gieo mầm tội lỗi – đấu tranh, giả dối, lăng nhục, trộm cắp, tà dâm… làm sao tôi không vì những điều đó mà sa nước mắt?

Ngọn nến phục vụ vì nhân loại, tinh thần của nó thật sự làm xúc động lòng người, để đổi lấy ánh sáng cho nhân gian mà đem sinh mạng của mình nung nấu cho đến chết, đây là sự hy sinh vĩ đại biết bao! Đây là chiến công oanh liệt biết bao!

Đèn Nến vốn là tượng trưng của ánh sáng và sự thánh thiện, nhưng suy cho cùng, trong nhân gian tạo tội lỗi nhiều hơn làm điều tốt đẹp. Vào thời cổ đại, có một bộ luật hình sự truyền thuyết, đó là đem phạm nhân dùng dầu để làm thành mô hình ngọn đuốc, sau đó đem người đang sống đốt cho đến chết gọi là “Điểm thiên đăng” (thắp đèn trời). Nhà Khoa học, Triết học, Văn học Bố Lỗ Nặc (布魯諾 1548 – 1600) người Italia, vì ủng hộ “Nhật Tâm Thuyết” của Số học gia, Thiên Văn học Ca Bạch Ni (哥白尼1473 – 1543) đã xúc phạm điều đại kỵ của giáo hội Cơ Đốc và bị xử tử bởi luật hình sự này. Hiện nay, tôi nhất định phải phản đối họ bằng cách đưa ra lời kháng nghị một cách nghiêm túc để bảo vệ nhân đạo, để bảo vệ sự tôn nghiêm của mình.

Cuối cùng, tôi muốn nói với chư vị: Trên thân thể tôi, các bạn dùng ánh sáng của điện cúng Phật cũng tốt, dùng ánh sáng của các loại nến cúng Phật cũng tốt, chỉ cần các bạn có một ngày sử dụng tôi, chư Phật và Bồ tát nhất định hiểu được trái tim thiện lương của các bạn, và tôi cũng nhất định đem ánh sáng bố thí cho các bạn, phá tan đêm tối, và dùng ánh sáng tỏa khắp nhân gian.

Chân đèn là giá đỡ để cắm đèn nến. Đó là khí cụ đặt trước Phật cùng với lư hương, bình hoa, v.v… Hình dáng và cấu tạo của nó đa dạng, phong phú, thể hiện tâm ý kiền thành, trang trí cũng lấy đồ án kiết tường làm chính. Thắp lên ngọn nến, ngoài công dụng tỏa sáng còn tượng trưng cho hào quang của Phật chiếu khắp mọi nơi, với ý nghĩa ánh quang minh luôn hiện hữu.

Ấn Độ thời cổ đại, đều dùng đèn dầu cúng dường trước Đức Phật. Sau này, khi đèn cầy ra đời, “cây nến” có thể được sửa đổi từ mô hình của “giá cắm nến”. Chân nến được đúc bởi đồng, sắt, thiếc, nhưng cũng có thể chạm khắc bằng gỗ hoặc đá. Nhà giàu, quyền quý ngày xưa cũng dùng vàng, bạc mà đúc thành. Công dụng của giá cắm nến chủ yếu là làm cho nến đứng thẳng, thuận tiện khi thắp, tăng thêm độ cao của nến, khiến cho ánh sáng phóng to và lan rộng, có thể giao tiếp cùng hoa sáp và dầu sáp, tránh để đồ dùng dính dầu hoặc gây cháy.

Nguyên tác: Đại sư Tinh Vân – Thanh Như dịch


  1. Miếu Thành Hoàng (城隍庙): Nơi thờ cúng Thành Hoàng, không phải tự viện của Phật giáo. Còn gọi Thành Hoàng Thần, Thành Hoàng Gia, là một trong những vị thần được dân chúng sùng bái phụng thờ phổ biến trong văn hóa tôn giáo Trung Quốc. Bởi có công với dân địa phương nên được làm anh hùng – danh thần của dân chúng.
  2. Cung Ma (Mụ) Tổ (妈祖宫): Nơi cúng thờ Ma Tổ. Ma Tổ là Thánh mẫu trên trời và đây cũng không phải là tự viện của Phật giáo. Còn gọi Thiên Phi, Thiên Hậu, Thiên Thượng Thánh Mẫu, Thiên Mụ v.v… lấy bờ biển phía Đông Nam Trung Quốc làm tín ngưỡng Hải Thần trung tâm, là một vị thần mà thuyền công, thủy thủ, du khách, doanh nhân và ngư dân thờ cúng.
  3. Hương Kỳ (香期): Đại Cung Quán của Đạo giáo, thậm chí các danh lam thắng cảnh nổi tiếng, thông thường mỗi năm đều có thời kỳ cao điểm tập trung để thắp hương, gọi là kỳ hương, thường có các hoạt động cúng tế và lễ kỷ niệm cố định, được gọi là hội chợ đền miếu.
  4. Bỉnh chúc dạ du (秉燭夜遊): Người xưa tay cầm đèn đi dạo vào ban đêm. Ý nói đời sống ngắn ngủi đừng nên để mất thời cơ vui chơi.
  5. Quan Vân Trường (關雲長), còn gọi là Quan Vũ ( 關羽 160 – 220), người đời gọi ông với nhã hiệu là Mỹ Nhiệm Công (ông râu đẹp) – Đại tướng Thục Hán đời Tam Quốc.