Những đóng góp của Thiền Viện Viên Chiếu cho đạo pháp và dân tộc

981

 I. Dẫn nhập

Thiền phái Trúc Lâm trong Lịch sử Việt Nam khởi nguồn từ Trần Nhân Tông, người khai sáng là Sơ tổ Trúc Lâm, còn gọi là Phật Hoàng, mà đỉnh cao là sự hợp nhất tinh hoa của ba dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường thành một dòng thiền duy nhất, đó là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đến cuối thế kỷ XX, HT. Thích Thanh Từ là người tiếp nối tư tưởng dòng Thiền mang đậm bản sắc văn hóa Phật giáo thuần Việt. Nhân duyên hội đủ, tháng 10 năm 1990, Hòa thượng Thanh Từ có dịp ra Bắc, đi viếng thăm và khảo cứu các chốn Tổ, nơi các Tổ đình, tự viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Cho nên, Hòa thượng có thêm tư liệu viết về tác phẩm Thiền sư Việt Nam, đồng thời, chính thức đề ra chủ trương khôi phục Thiền phái Trúc Lâm đời Trần, mà trước đó Ngài từng ấp ủ: ”Tôi dùng Trúc Lâm Yên Tử làm mục tiêu để chúng ta nhắm đến để thực hiện theo tinh thần đó, ứng dụng tu và ứng dụng truyền bá cho người Việt Nam tự tin rằng trên đất nước Việt Nam vẫn có người từng theo đạo Phật, từng tu theo Thiền tông, đã chứng ngộ, đã thấy được chân lý và đã tự tại ra đi, tiếp tục truyền nối mãi tới ngày nay không mất”. Đến năm 1993, tâm nguyện khôi phục Thiền phái Trúc Lâm được đánh dấu từ Thiền viện Trúc Lâm. Ngài đứng ra thành lập Thiền viện Trúc Lâm trên núi Phụng Hoàng, Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, mục đích làm chỗ chuyên tu cho Tăng Ni, Phật tử luồng tư tưởng sáng suốt tốt đẹp này. Hòa thượng đã phục dựng phát triển ra nhiều ngôi Thiền viện ở cả Đông và Tây Nam Bộ. Trước đó, năm 1974, tại Đông Nam Bộ, Thiền viện Thường chiếu ra đời; năm 1975: Thiền viện Viên Chiếu; năm 1979: Thiền viện Huệ Chiếu; năm 1980: Thiền viện Linh Chiếu; năm 1980: Thiền viện Phổ Chiếu; năm 1986: Thiền viện Liễu Đức; năm 1987: Thiền viện Tịch Chiếu và năm 2009 là Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức (huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai).
Năm 2012, tại Tây Nam Bộ, Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác (huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang) ra đời; năm 2014: Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam (ấp Mỹ Nhơn, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ)… Để rồi ngày hôm nay, hơn 90 ngôi Thiền viện, Thiền tự mọc lên, trong và ngoài nước, hơn 100 đạo tràng tu học ở khắp nơi, làm chỗ quy hướng cho Tăng Ni và Phật tử. Cho nên, Thiền phái Trúc Lâm đã biểu thị những tính chất đặc trưng là một phái Thiền thuần Việt, do người Việt Nam tu hành chứng quả thành lập, đó là vua Trần Nhân Tông. Những tư tưởng của dòng Thiền Trúc Lâm đóng góp vào hộ quốc an dân, giúp đời sống xã hội ngày càng tốt đẹp. Bài viết chỉ đề cập đến Thiền viện Viên Chiếu đã đóng góp cho Đạo pháp và Dân tộc.

II. Chơn Không – Bát Nhã: Tiền thân của Thiền viện Viên Chiếu

Nói về Chơn Không – Bát Nhã là nhớ đến Hòa thượng Thanh Từ người chấn hưng dòng Thiền Trúc Lâm. Vào năm 1960, Ngài quyết từ bỏ các duyên, lên núi Tương Kỳ, hạ thủ công phu, giác ngộ lý sắc không, tỏ rõ nguồn tâm. Mãi đến năm 1971 – 1974, Ngài khai pháp Thiền học đầu tiên tại Tu viện Chơn Không (Vũng Tàu), nhằm phục vụ tinh thần Thiền học “biết vọng không theo”. Từ đó, Chơn Không khơi nguồn, Viên Chiếu tròn sáng, Trúc Lâm hưng khởi. Khóa Thiền đầu tiên được khai giảng năm 1971 đến 1974 chỉ có 10 vị: Tăng Phước Hảo, Đắc Pháp, Nhật Quang, Phước Tú, Định Huệ… chính thức dạy Thiền và dịch giảng các bộ kinh, luận, sử.

Năm 1974, Ngài tiếp tục lập Thiền viện Bát Nhã và Thiền viện Linh Quang, bắt đầu khai giảng khóa Thiền thứ hai. Đến năm 1975, khi đất nước chuyển mình, tất cả cuộc sống trong mọi tầng lớp nhân dân cũng bắt đầu lật qua trang sử mới. Những Thiền sinh trẻ của Thiền viện Bát Nhã tại Núi Lớn (Vũng Tàu) cũng không ngoại lệ, được Hòa thượng Thanh Từ dạy hạ sơn xuống Long Thành khai khẩn đất hoang để tìm sống. Từ đó, Thiền viện Viên Chiếu, hậu thân của Chơn Không – Bát Nhã, được thành lập.

Thiền viện Viên Chiếu trải qua ba thời kỳ

Viên Chiếu được thành lập năm 1975, trải qua ba thời kỳ: thời kỳ sơ khai năm 1975, thời kỳ ổn định năm 1983 và thời kỳ phát triển năm 1994 cho đến ngày nay. Thiền viện Viên Chiếu được khai sinh từ những ngày đầu tháng 5 năm 1975, trên một khoảng rừng, thuộc xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Ban sơ, nơi đây rừng hoang, chất đầy cây to cây bé, đan chằng chịt có tre, mây, lùm, bùi, còn đủ mặt các cứ dân man rợ; trăn, rắn, heo rừng, vượn, khỉ, sóc, nhím, chim chóc cùng muỗi, vắt và bò cạp. Thiền viện chỉ là một ngôi nhà gác lửng, được chắp nối bằng đủ thứ cây rừng, tôn, lá tranh, tre với một mẫu ruộng nước phèn và mấy mẫu rừng dang dở làm ruộng rẫy. Đầu tiên, Viên Chiếu là một căn nhà lá, mái tôn, nằm trơ vơ trên một dãy đất cát trắng phếu, với sỏi đá khô cằn. Nhân số trên dưới mười người, sở hữu hơn một mẫu ruộng nước đầy phèn, cỏ mọc mau hơn lúa và mấy mẫu rừng mới được phá và trồng trọt theo chiến thuật da beo. Thanh quy Bách Trượng được áp dụng từ đây: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (Một ngày không làm, một ngày không ăn). Giai đoạn đó, cả ba đều cần thiết đối với đời sống tu học của Thiền sinh: tu như hơi thở, học như uống nước và lao động như ăn cơm. Tinh thần tu, học và lao động tuy phôi thai, nhưng đã gầy dựng được một sức sống mới trong Tăng đoàn. Sức sống ấy đã được Thiền Tăng chuyển tải trên đồng khô ruộng cạn, trên từng nhát cuốc đường cày, lúc đẩy xe kéo củi, khi đào giếng khoét mương.

Đến năm 1978, ngôi nhà duy nhất bị mối ăn gần sập, phải cất nhà đợt hai, tươm tất và quy mô hơn: Chánh điện lợp tranh, Tăng đường lợp tôn, có gác bằng tre đan, nhà bếp kiêm nhà kho. Tất cả đều có nền để cho ba mươi người ăn, ở, chen chút bên nhau. Tài sản bắt đầu phong phú hơn: Một mẫu nước ngập tư bề, nửa mẫu đất trồng hoa màu phụ, hai ba khoảnh rừng mới phá lam nham, ba cái giếng, cùng với các bệnh thương hàn, ghẻ, sán lãi và sốt rét kinh niên.

Thời kỳ ổn định 1983

Đầu năm 1983, ruộng vườn cùng khang trang sạch sẽ hơn, cây rừng đã được đốn và bứng gốc hết, nhường chỗ cho vườn cây ăn trái bắt đầu đơm hoa, kết quả. Con người cũng có kinh nghiệm hơn, biết chọn cây sinh lợi để trồng, như: tiêu, điều, cà phê, dừa, nho… cơ giới hóa dần các lao tác nặng, sắm máy bơm nước, máy tuốt lúa, quạt lúa, và quạt xay bột để làm bánh. Mỗi năm, Thiền viện tiêu thụ một số lương thực là 400 dạ lúa, 300 lít dầu phộng, chưa kể đến hàng tấn rau quả cùng bánh kẹo. Mức sản suất dư dùng để đãi khách và đóng thuế nghĩa vụ cho Nhà nước. Sau 13 năm sản xuất và tiêu thụ, tu – học – lao động đồng hành, chưa rõ có ai ngộ hoặc chứng đạo hay chưa, vì điều này phải gặp nghịch cảnh thử thách mới biết được. Người Viên Chiếu thường hát: “Hãy sống cho hăng say, cuộc đời này em sẽ thấy, những an vui tuyệt vời, đến với ta trong từng giây…”

Mười vị Ni đầu tiên ở Viên Chiếu đã hoàn tất thế học, nhưng các vị đã buông bỏ, quyết tâm theo tinh thần Thiền dấn thân, không khiếp sợ, mạnh mẽ, chọn cuộc sống gian nan thử với Đạo pháp, tuy khó khăn nhưng đã từng bước vượt qua, để thành tựu ước nguyện của mình. Trong đó, có thể kể đến như: NT. Như Đức, NT. Giải Thiện tốt nghiệp Học viện Phật giáo Việt Nam; NS. Hạnh Huệ, NS. Như Thủy tốt nghiệp Đại học; NS. Hạnh Nhã tốt nghiệp Sư phạm, NS. Đồng Kính tốt nghiệp Đại học Văn khoa… Với kiến thức đã có, quý Ni sư, Sư cô tham gia hoạt động Giáo hội với tư cách cơ sở Thiền viện Ni xã Phước Thái, Ni chúng Viên Chiếu tiếp tục tham dự Đại hội Giới đàn, đóng góp vào ngôi nhà GHPGVN huyện Long Thành cũng như tỉnh Đồng Nai.

Thời kỳ phát triển 1994

Cho đến năm 1994, Thiền viện Viên Chiếu thay hình lột xác quan trọng. Nhờ các yếu tố thuận lợi bên ngoài, Thiền viện đã xây dựng ngôi Chánh điện khang trang như hiện nay, sau gần hai mươi năm lao động. Ruộng vườn đẹp hơn xưa, một mẫu lúa nằm trên cánh đồng mà trong địa bạ gọi là đồng Viên Chiếu, chung quanh là ruộng lúa của dân cư đã theo dấu khẩn hoang vào đây sinh sống. Vườn tràm, vườn đậu phộng, sầu riêng, tiêu, chôm chôm, mít, xoài, điều,… chiếm khoảng năm mẫu đất. Số lượng Ni chúng tăng gấp đôi, sinh hoạt đã thành nếp, mỗi ngày lao động buổi sáng, buổi chiều học kinh, trừ những ngày mùa.

Đến năm 1998, chương trình tu nhập thất được đưa vào Thiền viện, và một khu vực nhập thất dành cho các hành giả thay phiên nhau vào an cư tĩnh tu. Đến năm 1999, Thiền viện đã được gần 25 năm tuổi. Thiền viện đổi thay đẹp hơn xưa, đời sống tu học vững vàng, tinh thần Thiền đã chỉ đạo hướng dẫn mọi lối cho người hiện tại và mai sau. Ni chúng Viên Chiếu sống hòa hợp an vui. Với phẩm chất học Ni như vậy, khó khăn chướng ngại nào không thể vượt qua, để có thể làm việc khó làm, nhẫn những việc khó nhẫn. Cho nên, trong chỗ thường nhiên lại ẩn chứa một sức mạnh chuyển hóa và huân tu nơi mỗi học Ni rất là thâm hậu, vững bền và lan tỏa. Thế nên, Viên Chiếu đã trụ vững trên nền đất mới, chất Thiền đã nhuần thấm trong mỗi học Ni, tạo sinh khí cả vùng đất rộng lớn. Các Chiếu đã lần lượt ra đời, sáng cả tâm người và sáng cả góc trời với chí nguyện xuất trần nơi mỗi Thiền sinh, khiến cho tâm lực chan hòa, từ đó tạo thêm sức lực, xẻ núi bạc rừng. Để rồi với tất cả quyết tâm, những vùng đất cỏ tranh ngút ngàn, khô cằn sỏi đá, những khoảnh ruộng ngập nước phèn chua, nay đã lúa tốt đơm bông, vườn sai trái ngọt. Những ngôi Thiền viện mái tranh vách đất, đã thành mái ngói tường xây, từ số chúng hàng chục, nay đã lên hàng trăm, tạo nên một dải Phật địa Long Thành.

Hiện tại, số Ni chúng tại Viên Chiếu gần 180 vị, ban lãnh đạo gồm Trụ trì: NT. Thích Nữ Như Đức; Phó Trụ trì: NS. Thích Nữ Hạnh Phước, Thủ bổn: NS. Thích Nữ Hạnh Huệ và Ban Giáo thọ gồm quý vị đã sống khai hoang từ những ngày đầu và dạy thêm tại trường Phật học tỉnh Đồng Nai.

Thiền viện Viên Chiếu đã trải qua ba giai đoạn khác nhau, nhưng giai đoạn phát triển là quan trọng nhất. Bởi vì trong giai đoạn này, Thiền viện Viên Chiếu đã đóng góp tích cực cho Đạo pháp và Dân tộc. Chúng ta hãy lần lượt xét từng mặt.

III. Thiền viện Viên Chiếu đối với Đạo pháp

1. Đóng góp của NT. Thích Nữ Như Đức

Để đánh giá công lao to lớn của Thiền viện Viên Chiếu đối với Đạo pháp, trước hết chúng ta phải điểm qua công lao lớn của NT. Thích Nữ Như Đức – Trụ trì Thiền viện Viên Chiếu. Nếu Ni giới quốc tế có khả năng diễn thuyết và hùng biện nên đề tài của mình một cách hấp dẫn và thuyết phục, thì Ni giới Việt Nam, ngoài một số vị Ni trẻ đã nỗ lực thể hiện hết mình, từ việc trình bày các tham luận, đến công tác phiên dịch… còn lại, hầu hết quý Ni trưởng, Ni sư đều có phong thái thâm trầm, mà học viên đã khảo sát về lịch sử hình thành và phát triển Thiền viện Viên Chiếu, mới hiểu sự thâm trầm ấy chính là “mật hạnh” – một thuật ngữ thật hay, làm rất nhiều nhưng không nói ra. Sau khi đến Viên Chiếu xin phép Viện chủ viết bài cho chương trình Cao học, học viên được tiếp cận với Người và sở thị một số kinh sách, các bài thuyết pháp của Ni trưởng. Thật bất ngờ! “Hữu xạ tự nhiên hương”, có thể nói đó là một vị tài đức Ni lưu của Phật giáo Việt Nam, với phong thái chân phương, giản dị. Học viên cảm nhận được tâm từ và trí tuệ của Ni trưởng luôn lan tỏa như một sự nâng đỡ cho bất cứ ai, đối tượng nào, dù nhành cây hay ngọn cỏ.

NT. Thích Nữ Như Đức (thế danh Nguyễn Thị Nhơn) sinh năm 1948, xuất gia năm 1968 tại Ni trường Dược Sư. Bổn sư là NT. Thích Nữ Như Huệ (Vĩnh Bửu), đặt pháp danh Như Đức. Ni trưởng tham học tại Đại học Vạn Hạnh từ năm 1968 – 1972, tốt nghiệp Cử nhân Phật học. Kế đó, Người theo học Thiền với Hòa thượng Thanh Từ từ năm 1974, được pháp hiệu Thuần Thiền. Từ năm 1975, Ni trưởng khai hoang Viên Chiếu cùng với các huynh đệ. Sau đó, được Hòa thượng đề cử làm huynh trưởng Quản viện rồi Trụ trì Viên Chiếu 1992 đến nay.

Ni trưởng Như Đức đã đóng góp cho Đạo pháp trên nhiều lãnh vực: Văn hóa, giáo dục, dịch thuật, đặc biệt đối với nền văn hóa Phật giáo, dịch các tác phẩm Phật giáo nói chung, Thiền học nói riêng từ tiếng Hán sang tiếng Việt”; biên soạn Lược sử Ni giới Bắc tông Việt Nam, để hoàn tất phần Ni bộ miền Nam từ năm 1993 đến nay, làm quà cúng dường nhân dịp Hội nghị Nữ giới Phật giáo Quốc tế Sakyadhita lần thứ 11 được tổ chức tại Việt Nam năm 2010.
Hiện nay, Ni trưởng giữ các chức vụ: Phó trưởng Phân ban kiêm Trưởng Tiểu ban Giám luật Phân ban Ni giới Trung ương GHPGVN; Phó trưởng Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đồng Nai; Phó trưởng Phân ban Ni giới GHPGVN tỉnh Đồng Nai; Uỷ viên thường trực Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Thiền học Bắc truyền trực thuộc Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Bên cạnh đó, Ni trưởng thường xuyên đảm nhận Phó Đàn chủ, Giáo thọ A xà lê, Giám khảo tại các Đàn giới do GHPGVN tỉnh tổ chức:

Năm 1990, Đại giới đàn Tổ đình Long Thiền, Ban Khảo hạch giới tử;
Năm 1992, Đại giới đàn Tổ đình Long Thiền, Ban Khảo hạch giới tử, Ban Giám khảo và Giới sư Ni;
Năm 1995, Đại giới đàn Tổ đình Long Thiền, Ban Giám khảo và Giới sư Ni;
Năm 1998, Đại giới đàn Tổ đình Long Thiền, Ban Giám khảo và Giới sư Ni;
Năm 2002, Đại giới đàn Huệ Thành, Ban Giám khảo và Giới sư Ni đàn Tỳ kheo ni;
Năm 2004, Đại giới đàn Huệ Thành, Ban Giám khảo và Giới sư Ni đàn Tỳ kheo ni;
Năm 2006, Đại giới đàn Long Thiền, Ban Giám khảo và Giới sư Ni đàn Tỳ kheo ni;
Năm 2009, Đại giới đàn Nguyên Thiều, Ban Giám khảo, Giáo thọ Ni đàn Tỳ kheo ni;
Năm 2011, Đại giới đàn Nguyên Thiều – Siêu Bạch, Ban Giám khảo, Giáo thọ Ni đàn Tỳ kheo ni;
Năm 2013, Đại giới đàn Minh Vật Nhất Tri, Ban Giám khảo, Giáo thọ Ni đàn Tỳ kheo ni;
Năm 2015, Đại giới đàn Thiện Khải, Ban Giám khảo, Giáo thọ Ni đàn Tỳ kheo ni;
Năm 2017, Đại giới đàn Pháp Loa, Giáo thọ Ni đàn Tỳ kheo ni.

Ni trưởng cũng hòa mình cùng xã hội, đem đạo vào đời làm lợi ích chúng sanh, hòa nhập mà không hòa tan, làm sáng đời đẹp đạo, như lời Phật dạy hoằng dương Chánh pháp: “Này các Tỳ kheo, hãy đi cùng khắp vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài người và Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ”. Qua đó cho thấy, đây cũng là một phần đóng góp của Ni trưởng đối với dân tộc Việt Nam nói chung và GHPGVN nói riêng.
Ngoài công tác hoằng pháp, giáo dục và công tác từ thiện xã hội luôn xuyên suốt cuộc đời trong mấy chục năm qua, đến nay Ni trưởng vẫn chưa một ngày ngơi nghỉ. Dưới sự hướng dẫn của Ni trưởng, mỗi Chủ nhật cuối tháng đều có buổi giảng pháp cho Phật tử các nơi. Giáo thọ Viên Chiếu còn phụ trách giảng dạy tại các Thiền viện và đạo tràng khác: Đạo tràng Thái Tuệ (Quận 8, TP.HCM), Đạo tràng Bảo An (Cần Thơ), Đạo tràng Phúc Trường (Bến Thế, Bình Dương), Đạo tràng Chơn Chiếu (Bà Rịa – Vũng Tàu), Đạo tràng Tinh Tấn (Cà Mau), Đạo tràng Vi Phước (Thốt Nốt).

Ngoài ra, Viên Chiếu còn chịu trách nhiệm về hai Thiền viện ở Hoa Kỳ là Diệu Nhân (Sacramento) và Vô Ưu (San Jose, Cali), do các Ni sư Thuần Tuệ, Thuần Bạch, Đồng Kính và Viên Khoan phụ trách.

(còn tiếp)

Thích Nữ Hòa Nhã