Thứ Sáu, 12 Tháng Tám 2022
Phật học Nghiên cứu Những đóng góp của Kumārajīva đối với Phật giáo Trung Hoa

Những đóng góp của Kumārajīva đối với Phật giáo Trung Hoa

  Phật giáo rời quê hương Ấn Độ đã phát triển rực rỡ ở nhiều quốc gia, trong đó có Trung Quốc. Nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của Phật giáo Trung Hoa, để có một bề dày lịch sử và một nền tảng Phật giáo mang đậm nét văn hóa Dân tộc nhờ vào công lao đóng góp của nhiều bậc danh Tăng. Một trong số các vị ấy không thể không kể đến tôn danh của bậc đại sư lỗi lạc mọi thời đại – Kumārajīva.

Kumārajīva là một nhân vật kiệt suất của Phật giáo Trung Hoa nói riêng và cho những quốc gia ảnh hưởng văn hóa Phật giáo Trung Hoa nói chung trong đó có Việt Nam. Bằng sự học tập và tìm hiểu của bản thân, người viết xin khái lược: “Những đóng góp của Kumārajīva đối với Phật giáo Trung Hoa” làm nội dung bài viết. Ngài được tôn xưng là Tam Tạng Pháp Sư, là một dịch giả nổi tiếng của Phật giáo, không sinh ra tại Trung Hoa nhưng cuộc đời và những công hạnh của Ngài được gắn liền với quốc gia này.

Kumārajīva là tên tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Cưu-ma-la-thập, thường gọi là La Thập hay Đồng Thọ. Ngài sinh năm 344, người nước Quy Tư một quốc gia cổ thuộc vùng Trung Á, xuất thân trong một gia đình có truyền thống quan trường và sùng tín Phật pháp. Thân phụ Ngài tên Cưu-ma-la-viêm (Kumārayana) là một người thông tuệ, sanh thời ông bỏ công danh sự nghiệp chọn con đường xuất gia, thoát ly gia đình đến nước Quy Tư. Vua xứ này cảm tài đức của Ngài Kumārayana và thỉnh ông về làm Quốc sư, vì quá mực xem trọng nên cố tình sắp xếp để Ngài hoàn tục làm phò mã. Con gái vua nước Quy Tư tư chất thông minh lại xinh đẹp cũng phải lòng Cưu-ma-la-viêm. Kết quả của cuộc hôn nhân miễn cưỡng là sự ra đời của Kumārajīva. Theo truyền thuyết ghi chép lại, lúc mang thai Kumārajīva, mẹ Ngài trí tuệ bỗng dưng vượt trội, biện tài vô ngại, ngôn ngữ tinh thông đặc biệt là tiếng Thiên Trúc1 Sự mô tả này làm chúng ta nhớ đến hình ảnh tôn giả Xá-lợi-phất cũng có những điềm khác thường khi còn trong thai mẹ.

Kumārajīva từ nhỏ đã thông minh tài trí hơn người, bảy tuổi theo mẹ xuất gia, chu du khắp nơi tham học. Mỗi ngày, Ngài học ngàn bài kệ mỗi bài kệ 32 ngàn lời. Đọc qua luận tạng A-tỳ-đàm, thầy chỉ giảng giải sơ lược nhưng tự Ngài thấu rõ nghĩa lý. Rời Kucina (Quy Tư) Ngài cùng mẹ đến Karmir (Kế Tân), tại đây Ngài tham học với pháp sư Bandhudatta (Bàn-đầu-đạt-đa) kinh Trung A Hàm và Trường A Hàm. Tuổi nhỏ học rộng biết nhiều, tài hùng biện của Ngài không thua kém bất kỳ một ai kể cả các danh sư ngoại đạo và họ hoàn toàn bị thuyết phục “khi bất cẩn xem thường Kumārajīva là một đứa trẻ còn non dại2“.

Kumārajīva không ngừng học tập, ngoài kinh điển, luật học, luận giải Ngài còn tìm hiểu kinh Vedas, tinh thông các môn thiên văn, toán học, khoa học, am tường văn minh của Ấn Độ. Danh tiếng của Ngài vang dội khắp vùng.

Rời Karmir theo mẹ đến Kasghgar, cuộc gặp gỡ định mệnh giữa Kumārajīva và Sutyasona đã làm Ngài thay đổi quan điểm Phật giáo. Vốn là một luận sư uyên bác triết lý Tiểu thừa (Hinayāna), Ngài dồn hết tâm lực nghiên cứu Đại thừa (Mahāyāna) và Ngài nhận ra rằng đó là một sự lựa chọn tuyệt vời như khi phân biệt được vàng và đá sỏi3. Cũng từ đây, Ngài bắt đầu dành thời gian cho học thuật và nghiên cứu vào tư tưởng triết lý của Đại thừa. Sau thời gian đi khắp nơi cầu học, Kumārajīva trở về quê hương thọ cụ túc giới năm 20 tuổi4. Từ khi giác ngộ tư tưởng Đại thừa, Ngài dành trọn thời gian học tập để thấu đạt nghĩa lý, trong tinh thần hiếu đạo Ngài không quên mang triết lý thâm sâu này chia sẻ với vị Thầy của Ngài năm xưa. Sau hơn một tháng thuyết phục cuối cùng Thầy của Kumārajīva cũng bằng lòng chấp nhận triết lý Đại thừa. Bậc Thầy ấy đã đảnh lễ Kumārajīva nói rằng: “Hòa thượng làm Thầy Đại thừa của ta, còn ta là thầy Tiểu thừa của Hòa thượng5“. Việc làm của Kumārajīva làm chúng ta gợi nhớ đến sự chứng ngộ của Đức Thế Tôn năm xưa, trước khi độ sanh Thế Tôn cũng tìm các vị Thầy, những người bạn đồng tu cùng Ngài để hóa độ trước.

Kumārajīva không chỉ nổi tiếng khắp các nước Tây Vực mà còn bay xa đến tận Trung Hoa. Đạo An nghe danh của Kumārajīva “liền thúc giục tiền Chúa Phù Kiên sai Lữ Quang đi Tây Trúc thỉnh La Thập6“. Trên đường về lại Trường An, Lữ Quang hay tin nhà Tiền Tần bị diệt vong, Lữ Quang nhân đó chiếm đất Lưỡng Châu xưng vương lập nên nhà Hậu Lương. Lữ Quang là quan võ lại không phải là một Phật tử nên ông cư xử với Kumārajīva rất tệ và giam giữ Ngài ở Lưỡng Châu suốt 17 năm7 cho đến khi Vua Diêu Hưng nhà Hậu Tần đem quân đánh Lữ Quang đưa Ngài về lại Trường An. Vua Diêu Hưng là người trọng mộ Phật pháp “dùng lễ nghi đón Quốc sư để nghênh đón Ngài La Thập và mời Ngài ở tại Hồ Tây Các của Tiêu Diêu viên8“, đây cũng là nơi Ngài thành lập dịch trường đầu tiên tại Trung Hoa. Khi Ngài Kumārajīva về lại Trường An thì Đạo An đã viên tịch được 16 năm, nhìn thấy cơ đồ Phật pháp mà Đạo An đã làm trước đó “La Thập khen là Bồ tát Đông Độ9“. Ngài Đạo An và Kumārajīva là những bậc Đại Tăng cảm mến tài đức của nhau, thiết nghĩ nếu hai vị có cơ hội được làm việc cùng nhau thì lịch sử Phật giáo Trung Hoa có lẽ không dừng lại ở đó.

Ngài về Trường An nhận được sự ủng hộ của Vua Diêu Hưng, quy tụ nhiều danh Tăng và cả những môn đồ tài đức của Ngài Đạo An nhằm phục vụ cho công tác phiên dịch tại dịch trường, “Pháp hội thời La Thập rất thịnh hành, còn đắc lực hơn cả thời Đạo An10“. Đạo nghiệp của Kumārajīva gắn liền với công tác dịch thuật và trước tác, những dịch phẩm mà Ngài để lại cho hậu thế là những giá trị vượt thời gian, tư tưởng trong dịch thuật của Ngài phù hợp với mọi thời đại, không chỉ đóng góp cho Phật giáo Trung Quốc mà còn đóng góp giá trị triết lý tôn giáo, văn học, ngôn ngữ văn chương… cho nền văn minh Trung Hoa. Ngài làm việc và cống hiến cho Phật giáo chỉ 12 năm kể từ khi về Trường An cho đến khi viên tịch (414), Ngài dịch được 74 bộ, 384 quyển kinh luận Phật giáo các kinh Ngài dịch chủ yếu là kinh điển Đại thừa11 như: kinh Bát Nhã, kinh Pháp Hoa, kinh Duy Ma, Trung luận, Thành Thực luận, Thập nhị môn luận… trong số đó “Năng đoạn Kim Cang” là bản dịch phổ biến nhất của Ngài; riêng các bản dịch “Bát Nhã” từ thời Đạo An đã có nhưng đến thời của Ngài thì tác phẩm được phổ biến hơn và hoàn thiện hơn về mặt nội dung. Có thể nói từ trước đến nay “chưa từng có trong lịch sử phiên dịch ở Trung Quốc, điều đó đã mở ra một kỷ nguyên mới về phương diện dịch kinh ở Trung Quốc12”. Ngài luôn nhiệt tình trong công việc, một danh Tăng tài đức, nhận cách trung thực, khiêm cung cao thượng lại khéo thích ứng với hoàn cảnh. Vua họ Diêu vì cảm mộ đức độ của Ngài nên mong muốn Ngài để lại hậu duệ cho đời sau, vì không thể trái ý Vua nên Ngài miễn cưỡng chấp thuận. Ngài nhận thấy rằng đó là một khiếm khuyết lớn về phương diện phạm hạnh của một đời tu sĩ, thế nên khi thuyết giảng Ngài thường cảnh tỉnh Đại chúng rằng: “Tôi như đám bùn mà mọc lên được hoa sen vậy, các người hãy hái lấy hoa sen mà đừng vốc phải bùn13“.


So với các bậc thánh nhân của Trung Hoa, Ngài sánh ngang với Khổng Tử vì Đồ chúng rất đông, có tới 3.000 người, trong đó có 4 người được tôn Tứ Thánh; 10 người được tôn Thập Triết14. Trong số các vị học trò của Ngài thì Tăng Triệu, Tăng Duệ, Đạo Sinh và Đạo Dung là những đệ tử kiệt xuất nhất được người đời tông xưng là Tứ Thần Tăng. Sự hiện diện của Kumārajīva ở Trung Hoa không chỉ đóng góp cho kho tàng kinh các của Phật giáo mà còn góp phần đào tạo một thế hệ Tăng tài làm hưng long cho Phật pháp.

Vào thời của Ngài Kumārajīva, kinh văn truyền sang Trung Hoa vẫn chưa có nguyên bản mà vẫn còn hình thức khẩu truyền cho nên, công tác phiên dịch đôi khi bị gián đoạn và gặp không ít khó khăn. Dịch trường dưới thời của Ngài được tổ chức rất quy củ và khoa học. Sau khi bản dịch được dịch xong phải đọc lại một lần gọi là “Phạn bái” nếu bản dịch đảm bảo nghĩa lý, văn chương lưu loát sau đó trình lên Vua và lưu vào Đại tạng. Dù khác nhau về phong tục, văn hóa, địa lý và đảm bảo cho nghĩa kinh không sai khác nhưng phù hợp với văn hệ Trung Hoa, Ngài chủ trương quan điểm dịch thuật: “Chú trọng văn hoa; Gia giảm ngữ nghĩa cho phù hợp với kinh điển; Đính chính lại tên gọi cho đúng với sự thật15” Kumārajīva là người tiên phong đại diện cho tân dịch, chủ trương trau chuốt lời văn nhưng không phải dùng lời hoa mỹ. Văn phong giản dị, rõ ràng, sâu sắc, chỉn chu, mạch lạc, dễ hiểu và không làm mất Phật ý là lối văn mà Ngài dùng trong các bản dịch của mình, chính vì thế, “các bản văn của La Thập cực kỳ văn chương, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi vào lòng người16. Đó cũng là lý do vì sao kinh văn Ngài dịch từ trước đến nay thường được chọn để đọc tụng. Chú trọng văn hoa đó là cách hành văn của người Tây Vực, thế nhưng để phù hợp với lối hiểu và thẩm thấu của người bản xứ, Ngài Kumārajīva cũng gia giảm ngôn từ nhằm làm sáng nghĩa của kinh. Lấy ví dụ, trong bản dịch “Chánh Pháp Hoa kinh thọ quyết phẩm” của Ngài Trúc Pháp Hộ có câu: “Trời thấy người, người thấy trời”, Ngài Kumārajīva khi dịch đến chỗ này nhận định rằng cách hành văn đúng với ngôn phong của người Tây Trúc nhưng để làm cho mạch văn trôi chảy và sự cảm thông nghĩa lý cho hành giả đọc tụng nên sửa lại “Trời người giao tiếp, hai bên thấy nhau17“. Qua đó, cho thấy Ngài rất tinh tế trong cách hành văn, vừa không mất bản chất của kinh văn gốc vừa thoả mãn nét văn học bản địa.

Đối với các bản kinh đã được dịch qua, Ngài chỉ hiệu đính lại “nhưng Ngài cũng rất thận trọng xem xét tỉ mỉ chỗ khiếm khuyết của bản cựu dịch rồi mới quyết định thêm hay bớt18“, công việc này có thể xem “Đại Phẩm kinh” là một điển hình. Công tác phiên dịch của Ngài được thực hiện rất khoa học và logic, uyển chuyển trong cách hành văn sao cho không mất giá trị của nguyên bản, nhằm làm cho người đọc tiếp cận được triết lý của Phật giáo một cách rõ ràng nhất. Trước đây, giới phiên dịch dùng phương pháp “cách nghĩa” để phiên dịch kinh văn Phật giáo, tức vay mượn danh từ của Nho học để chuyển tải triết lý Phật học. Ban đầu chủ trương này được chấp nhận, vì đây là cách duy nhất Phật giáo tiếp cận được với người Trung Hoa, nhưng khi Phật giáo đã có vị trí nhất định thì phương pháp này cần được chỉnh đốn nhằm tránh đi sự ngộ nhận, đồng hóa Phật giáo và Lão giáo. Người tiên phong trong chủ trương “thanh lọc” này chính là Ngài Đạo An nhưng người được xem thực hiện triệt để lại là Kumārajīva, “La Thập cầm bản tiếng Phạn, Diêu Hưng cầm bản Kinh cũ để đối chiếu sửa chữa, những câu văn mới khác với bản cũ, ý nghĩa viên mãn thông suốt, mọi người điều khâm phục, không ai là không vui vẻ tán thán19“.

Trong quá trình phiên dịch Ngài Kumārajīva cũng có thêm bớt trong kinh văn nhưng cũng dựa trên những nguyên tắc thiết yếu, nhằm làm cho những bản dịch đúng với tinh thần của bản gốc. Mặt khác, những gì cần lược bỏ để phù hợp với văn phong đương thời thì Ngài cũng không ngại cắt giảm. Như “Đại Trí Độ luận” của Ngài Long Thọ với 34 phẩm đầu thì Ngài dịch trọn vẹn, những phẩm sau Ngài chỉ dịch ý, giữ lại những điểm chính. Đối với một số bản kinh, luận nếu cần thiết Ngài có thể tùy nghi chuyển từ tản văn sang kệ tụng hoặc ngược lại20. Tất cả những nguyên tắc phiên dịch của Ngài không phải vì mục đích phô tài chữ nghĩa mà vì sự thẩm thấu triết lý của người Trung Hoa. Công tác chuyển ngữ là vô cùng quan trọng, đó là cách duy nhất để người bản xứ tiếp cận giáo lý đạo Phật một cách trọn vẹn và đầy đủ nhất.

Ngài làm việc bằng sự nhiệt huyết và cái tâm của người con Phật và trong quá trình phiên dịch và biên tập hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn. Vì Ngài không phải là người gốc Trung Hoa nên đối với văn phạm Trung Hoa dù cố gắng vẫn không tránh khỏi những sai sót. Hơn nữa, với phương pháp “ý dịch”, “lấy Luận để giải thích Kinh” đôi khi gây sự nghi ngờ đối với người hiện đời. Đối với bản thân Ngài đó cũng là một mối ưu tư sâu sắc. Để xác tính lại niềm tin cho hậu thế, trước khi viên tịch Ngài phát nguyện rằng: “Nếu bản dịch của ta không sai ý của Đức Phật thì sau khi hỏa táng, lưỡi ta không bị thiêu cháy21“. Sau khi trà tỳ, thi thể cháy hết nhưng lưỡi Ngài vẫn còn nguyên. Điều này xác tính lại công trình phiên dịch của Ngài là đúng với tinh thần lời dạy của Đức Phât.

Ngoài dịch thuât, Ngài còn là người đặt nền móng cho tác phẩm nổi tiếng “Cao Tăng truyện”, biên tập về các vị Tổ, danh Tăng như ngài Long Thọ, Thế Thân22,… Đây là một tác phẩm không chỉ có giá trị về mặt văn học, lịch sử mà còn mang tính nhân văn, thế hệ sau có thể tìm thấy cuộc đời và sự nghiệp của các bậc Hiền nhân đi trước, theo đó noi gương học tập và phát huy.

Thông qua các bản kinh, luận đã được phiên dịch cho thấy Ngài là một dịch giả tinh thông giáo nghĩa, am tường văn cú, thiện xảo về ngôn từ. Ngài hội tụ đầy đủ điều kiện của một vị Tỳ Kheo: “Thiện xảo về ý nghĩa, thiện xảo về pháp, thiện xảo về văn cú, thiện xảo về địa phương ngữ, thiện xảo về liên hệ trước sau23“. Địa phương hóa ngôn ngữ của Đức Phật nhưng không làm mất đi chất liệu triết lý của Phật giáo, đó là một việc làm căn bản quan trọng của một nhà phiên dịch và Ngài Kumārajīva đã hoàn thành vai trò của mình một cách trọn vẹn. Việc làm của Ngài đóng góp tích cực trong công tác hoằng dương Chánh pháp tại Trung Quốc và kho tàng kinh văn thuộc hệ Hán tạng. Để ghi nhận lại những đóng góp của Ngài, vào năm 2016 tại Trung tâm Quốc tế Ấn Độ tổ chức Triển lãm “Cuộc đời và di sản của Ngài Cưu Ma La Thập24” do Tiến sĩ Shashibala thực hiện nhằm nhìn nhận lại giá trị của Ngài đã cống hiến cho Phật giáo nói chung và Phật giáo Trung Hoa nói riêng.

Nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của Phật giáo Trung Hoa, nếu Đạo An là nhà cải cách vĩ đại của Phật giáo Trung Hoa thì Kumārajīva là bậc cự phách của giới phiên dịch. Kumārajīva một nhà phiên dịch lỗi lạc của Phật giáo trong mọi thời đại, dù các bản dịch của Ngài đã rất xưa nhưng đến ngày nay vẫn còn sử dụng phổ biến trong tu tập hành trì và cả trong học thuật, nghiên cứu. Hơn một thập kỷ cống hiến cho Phật giáo, Ngài để lại cho hậu thế một gia tài đồ sộ về văn hệ lẫn tư tưởng. Vượt qua mọi chướng ngại về phong tục, định kiến, văn hóa, ngôn ngữ, Ngài là người làm cho Phật giáo đi sâu vào đời sống của người Trung Hoa thông qua các bản kinh bằng văn phong của người bản xứ.

Hơn hai mươi thế kỷ trôi qua, trang sử về Kumārajīva chưa bao giờ cũ, trang sử vàng của Phật giáo không thể thiếu tên của Kumārajīva. Những cống hiến của Ngài không chỉ cho riêng Phật giáo Trung Hoa mà còn cho những quốc gia chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa trong đó có Việt Nam. Không có gì là quá đáng nếu cho rằng: Khi nào Phật giáo còn hiện hữu thì “Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập” vẫn được xưng danh.

Dung Từ



  1. Song Hào Lý Việt Dũng (2015), “Cao Tăng truyện”, Nxb Hồng Đức, tr.82.
  2. Kenneth Ch’en, “Buddhism in China”, Printed in the United States of America, tr.81.
  3. Và đá sỏi.
  4. Sđd, tr.82.
  5. Song Hào Lý Việt Dũng (2015), “Cao Tăng truyện”, Nxb Hồng Đức, tr.89.
  6. Văn Thanh (1974), “Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam”, Phật học viện và các chùa, tr.31.
  7. Theo Kenneth Ch’en trong “Buddhism in China”, tr.82 và trong Biên niên sử Phật giáo Trung Quốc cùng ghi nhận khoảng thời gian 17 năm, nhưng theo “Lịch sử Phật giáo Trung Quốc” của HT. Thích Thanh Kiểm chỉ ghi nhận là 15 năm và địa danh Ngài bị giam giữ là Cô Tàng.
  8. HT. Thích Thanh Kiểm (2016), “Lịch sử Phật giáo Trung Quốc”, NXB Tôn giáo, tr.50
  9. Văn Thanh (1974), “Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam”, Phật Học viện và các chùa, tr.33.
  10. Vương Văn Nhan, Thích Phước Sơn (dịch 2008), “Lịch sử phiên dịch Hán tạng”, Nxb Phương Đông, tr.58.
  11. Theo “Lịch sử phiên dịch Hán Tạng”, tr.71; theo Linh sơn Pháp bảo Đại tạng kinh, tập 179, Bộ Truyện sử 1, tr.306, ghi nhận Ngài dịch được 98 bộ, 425 quyển.
  12. Thích Hạnh Bình (dịch 2018), “Lịch sử tư tưởng Phật học Trung Quốc”, Nxb Hồng Đức, tr.171.
  13. Trí Quang (1961), “Ngài La-Thập”, Phật Học viện TP.HCM, tr.38.
  14. Thích Thánh Nghiêm, Thích Chân Tính (dịch 2015), “Tôn giáo học so sánh”, Publissher in Taiwan, tr.583.
  15. Lịch sử phiên dịch Hán tạng, tr.7.
  16. Nhận định của TT. Thích Chơn Minh (2020), Trưởng khoa Lịch sử Phật giáo, môn “Lịch sử tư tưởng Phật giáo Trung Quốc”, khóa XIII.
  17. Vương Văn Nhan, Thích Phước Sơn (dịch 2008), “Lịch sử phiên dịch Hán tạng”, Nxb Phương Đông, tr.130.
  18. Lữ Trưng, Thích Hạnh Bình (dịch 2020), “Lịch sử tư tưởng Phật học Trung QuốcI”, Nxb Hồng Đức, tr.173.
  19. Vương Văn Nhan, Thích Phước Sơn (dịch 2008), “Lịch sử phiên dịch Hán tạng”, Nxb Phương Đông, tr.152.
  20. Vương Văn Nhan, Thích Phước Sơn (dịch 2008), “Lịch sử phiên dịch Hán tạng”, Nxb Phương Đông, tr.138-139.
  21. Pháp sư Đạo Thế (2018), Ban dịch thuật Hán Tạng Pháp Âm dịch, Hương hoa vườn giáo Pháp, Nxb Hồng Đức, tr.427.
  22. TT. TS. Thích Chơn Minh (2020), Trưởng khoa Lịch sử Phật giáo, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM, bài giảng “Lịch sử tư tưởng Phật giáo Trung Quốc”, khóa XIII.
  23. HT. Thích Minh Châu (2018), “Kinh Tăng Chi bộ”, tập I, chương Năm pháp, Phẩm Hiềm Hận, Nxb Tôn giáo, tr.783-784.
  24. https://phatgiao.org.vn/an-do-trien-lam-cuoc-doi-va-di-san-cua-ngai-cuu-ma-la-thap-d23023.html

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!