Như những giấc mơ

587

<HĐ>Khi dòng đời ổn định, dấu ấn của những bóng hồng trên bước đường đi qua thả trôi theo dĩ vãng tưởng không còn nhớ lại. Nhưng dấu ấn không rơi mất. Dấu ấn chỉ chìm sâu trong A lại da thức, lúc thuận duyên lại có cơ hội trồi lên, quấy đảo tâm hồn Thanh qua nhiều trạng thái khác nhau: Nhớ nhớ – Nuối tiếc – Đắng cay – Chua xót…

Trường Bồ Đề nằm đâu lưng với đồi Trại Thủy, hướng mặt ra quốc lộ, bên phải có chùa Long Sơn, bên trái là khu dân cư lao động. Đường đến trường có hai hướng: Từ quốc lộ vào cổng chùa rồi rẽ phải, hoặc từ Mã Vòng theo con hẻm nhỏ xuyên qua khu nhà dân cư. Hồi ấy Thanh học lớp Nhị (lớp hai bây giờ). Trong lớp nữ sinh không nhiều, được ưu tiên ngồi nơi hai dãy bàn phía trước. Phần còn lại là của nam sinh. Số học sinh cá biệt thường chiếm chỗ ngồi cuối lớp hoặc gần bên nơi cửa sổ để có cơ hội quậy phá hay nhảy cửa sổ vào những tiết học không ưa thích bỏ ra ngoài rong chơi. Thanh ngồi đầu bàn ở dãy thứ ba. Ngay trước mặt anh là chỗ ngồi của ba nữ sinh có ba hình dáng và tính cách khác nhau nhưng họ lại là bộ ba luôn luôn gắn bó với nhau như bóng với hình. Vẽ là người lớn nhất trong bọn họ cả về thân vóc lẫn tuổi đời, lúc nào cũng chứng tỏ được tư cách của một bậc đàn chị. Hai người còn lại, Lộc ăn mặc chải chuốt, tóc uốn thả ngang vai, luôn miệng nói cười trong khi Yến lại hay e lệ, giản dị trong màu áo trắng học sinh, tóc kẹp, thả dài sau lưng. Lúc đến trường cũng như khi về nhà họ cùng sóng bước bên nhau, hai tay ôm choàng cặp sách trước bụng, thong thả bước đi như không để ý đến xung quanh. Trong lớp học, họ ngồi chung bàn, giờ ra chơi họ đứng riêng biệt nơi trước hàng ba, ít khi hòa nhập với đám đông.
Thanh thường tranh thủ đến sớm hơn giờ học để có dịp đứng nơi hàng ba lầu một nhìn xuống sân trường. Không phải để mắt hòa vui với sân chơi bè bạn mà là nôn nao chờ đợi ba người con gái thong thả sóng bước vào trường. Thật tình trong tâm hồn anh chỉ muốn riêng được nhìn thấy Yến. Cô gái có dáng người thon thon, tóc kẹp thả dài sau lưng, ít nói ít cười ấy đã làm cho Thanh khi xa nhớ nhớ, khi gần thương thương, nhưng chưa một lần có được thuận duyên để anh bày tỏ tâm tư của mình. Thanh thường thầm nghĩ: Dường như Yến cũng không đến nỗi vô tình với mình. Nhiều lần Thanh bắt được cái nhìn kín đáo, cái mỉm cười duyên của Yến hướng về anh dù chỉ trong một thoáng.

Đầu giờ học của một buổi chiều nắng đẹp, trên lối nhỏ bước vào lớp học, bất ngờ Yến đến bên Thanh nói nhỏ: “Chút nữa Thanh cho Yến mượn tập vở Việt văn.” Rồi không đợi cho người mình hỏi mượn có đồng ý hay không, Yến vội vàng lãng đi nơi khác, cơ hồ sợ bạn bè lỡ có ai trông thấy. Đương nhiên, đó là cơ hội Thanh không dễ dàng bỏ qua. Vừa ngồi vào lớp, Thanh đã kín đáo đưa tập vở của mình cho Yến, không nén được cảm xúc trong lòng lâng lâng nhẹ nhõm như đang mọc cánh bay lên. Hôm sau, tập vở được trả lại cho nguyên chủ nhưng không có nửa lời cảm ơn, chỉ có nụ cười thoáng nở trên môi, đồng thời với đôi mắt buồn buồn nhìn hơi thấp xuống. Chừng ấy thôi cũng đủ làm cho Thanh quên hết tất cả xung quanh. Anh mân mê tập vở trên tay mong tìm được hơi ấm của người mình từng thầm thương trộm nhớ đang hòa quyện vào trong ấy. Từ trong tập vở, bất ngờ rơi ra một tờ giấy học trò xếp lại làm bốn. Thanh vừa mừng, vừa hồi hộp, kín đáo mở ra xem. Những dòng chữ viết của Yến không nhiều, không phải để biểu lộ tình cảm, chỉ để bày tỏ nguyện ước tương lai của mình: Hướng về lối đạo. Không trực tiếp gởi cho Thanh nhưng anh vẫn biết rất rõ là Yến đang nói với mình.

Từ đó về sau, Yến thường cố tình lảng tránh ánh mắt của Thanh. Cô sống co cụm trong nội tâm riêng biệt. Thanh không đủ can đảm để phá vỡ vách ngăn co cụm ấy nên chỉ âm thầm nuôi giấc mơ vô vọng của mình.

Sau kỳ thi tốt nghiệp Tú tài, không còn thấy Yến tiếp tục theo học lớp Đệ nhất cùng với các bạn học cũ, Thanh dò hỏi khắp nơi cũng không sao biết được Yến đang ở đâu? Làm gì? Mãi sau mới nghe tin Yến bây giờ đã là một Ni cô, gởi thân nơi một ngôi chùa ở vùng quê hẻo lánh. Yến đã đi theo đúng nguyện ước của mình mà cô đã hằng ấp ủ từ lâu.
Một quãng đời trong một cuộc đời. Một bước chân đi qua để lại dấu ấn như vết hằn nhói buốt trong tâm hồn. Dấu ấn đã trở thành dĩ vãng. Thanh thầm tự hỏi: Đã qua là thực thế hay chỉ là một giấc mơ?

***

Căn nhà trọ nằm phía trong con hẻm nhỏ nắng bụi mưa bùn. Khu dân cư giữa lòng thành phố mà vẫn mang dáng dấp của miền quê hẻo lánh. Những dãy nhà cấp bốn chen chúc nhau như bát úp hàng ngày gần như cửa đóng then cài, chỉ sôi động vào lúc sáng sớm trước lúc mọi người chuẩn bị đi làm và lúc sẫm tối khi họ từ nơi cơ sở trở về. Ngay nơi đầu con hẻm nổi lên một ngôi nhà rộng, một phần tường hướng ra đường lớn như gã khổng lồ đứng giữa đám tí hon. Bên trong ngôi nhà ấy lúc nào cũng thấy thường xuyên kẻ ra người vào, đèn thắp sáng choang nhiều khi đến quá nửa đêm. Sự liên thông giữa gã khổng lồ và đám tí hon bị ngăn cách bởi một bức màn vô hình giai cấp nên trở thành hai thế giới riêng biệt.

Thanh được một người bạn giới thiệu đến thuê căn phòng nhỏ nằm phía bên kia con hẻm gần đối diện với cổng chính của ngôi nhà to lớn ấy đã hơn nửa tháng rồi. Thường ngày đi làm về anh gần như giam mình trong phòng, thỉnh thoảng vào những buổi chiều rỗi rảnh anh mới đứng dựa nơi bậu cửa nhìn bâng quơ ra bên ngoài để tìm chút thoải mái cho tinh thần. Không tò mò, nhưng những sinh hoạt quen thuộc xung quanh cũng đã ăn sâu vào tâm trí anh – nhất là phía ngôi nhà đối diện.

Trong số người thường xuyên ra vào ngôi nhà ấy, có cô gái tuổi chừng đôi mươi, tóc uốn bồng bềnh thả chấm ngang vai, khuôn mặt bầu bĩnh, đôi mắt đen huyền, dáng đi dịu dàng uyển chuyển. Ngày thường, cô gái đi học ăn mặc áo trắng nữ sinh nhưng vào những ngày Chủ nhật hay ngày lễ lại chưng diện rất mode. Dần dần, Thanh cũng được biết cô gái ấy tên là Thông, vẫn là cháu ngoại của chủ nhân ngôi nhà, đang học năm cuối của bậc Trung học, nổi tiếng là hoa khôi của trường. Biết chỉ để vậy thôi, Thanh cũng không mấy quan tâm nghĩ tới cho dù chỉ là một thoáng ước mơ. Rồi một hôm, tình cờ Thanh bắt gặp Thông lúc đi học về chợt ngừng lại ngoảnh nhìn sang anh đang đứng dựa nơi bậu cửa nở một nụ cười thật tươi trước khi bước vào cổng nhà. Anh lúng túng gật đầu chào lại, mang nụ cười ấy vào sâu trong giấc ngủ.

Từ nụ cười bắt nhịp làm quen ban đầu, hai người trở nên thân thiết không biết tự lúc nào. Thỉnh thoảng, Thông bước vào phòng trọ của Thanh, khi hỏi một vài điều về vấn đề học vấn (Thanh nghĩ đó chỉ là cái cớ nhưng anh rất mong chờ để được hân hoan tiếp đón), lúc lại chỉ để nói với nhau một vài câu chuyện bâng quơ. Dần dần, nơi gặp nhau không còn gói gọn nơi phòng trọ của Thanh nữa, mà ở một vài quán nước gần nhà vào những buổi chiều nắng nhạt, họ cùng ngồi đón gió biển. Dù bất cứ nơi nào, sự trong sáng vẫn được hai người ngầm thỏa thuận với nhau một cách hết sức trung thực. Tuy khoảng cách tình cảm giữa hai người đã đến rất gần, nhưng Thanh vẫn thấy có vách ngăn vô hình chận đứng lại khi nhiều lần anh có ý muốn đến nhà Thông để tạo nên tình cảm với những người trên trước, Thông đều vẫn nói một câu còn hơn cả những giọt đắng mà anh nuốt phải: “Đừng anh! Bà ngoại em khó lắm!”

Bà ngoại Thông vốn là chủ của nhiều cửa hàng buôn bán lớn, giao tiếp rộng với những thành phần giàu sang quyền thế từ ngoài Trung vào đến trong Nam, nên dưới mắt bà không có những kẻ như Thanh. Anh cũng hiểu được điều ấy, nhưng trong thâm tâm Thanh quyết không chịu chùn bước. Anh muốn phá vỡ cái vách ngăn tàn nhẫn ấy để có được Thông. Nhưng khi Thanh còn nuôi dưỡng tâm nguyện thì chính Thông là người đã làm cho anh thất vọng nặng nề nhất.

Tốt nghiệp Tú Tài 2, Thông ghi danh vào trường Luật. Thông đã âm thầm lặng lẽ ra đi mà không một lời từ giã người bạn trai đã từng một thời gian thân thiết. Mãi về sau cũng không một lần cho Thanh biết được địa chỉ. Coi như anh đã mất Thông thật rồi! Mất Thông mà không hiểu được lý do vì sao, Thanh ôm nỗi buồn da diết đi sâu vào trong thầm lặng.
Một quãng đời trong một cuộc đời. Một bước chân đi qua để lại dấu ấn như vết hằn nhói buốt trong tâm hồn. Dấu ấn đã trở thành dĩ vãng. Thanh thầm tự hỏi: Đã qua là thực thể hay chỉ là một giấc mơ?

***

Thơ văn là một thú vui không thể thiếu của Thanh nhưng không phải để mong muốn trở thành nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp. Anh viết vì có nhiều cảm xúc trước cuộc sống thường ngày, muốn mượn trang giấy, con chữ để trang trải những cảm xúc ấy. Chọn một số tác phẩm đã có, Thanh gởi đến các tạp chí, nguyệt san, bán nguyệt san, tuần san, bán tuần san, cả đến nhật báo. Mỗi lần gởi bài, Thanh có thói quen ghi cả địa chỉ ngay dưới tên của mỗi tác phẩm. Bài được báo đăng, Thanh trân trọng cất giữ vào một tập riêng để lưu niệm. Anh cho đó chỉ là một thú chơi tao nhã, không ngờ lại có một số người hâm mộ đã theo địa chỉ gởi thư về cùng chia sẻ niềm vui với anh. Không nói cũng biết Thanh đã sung sướng đến ngần nào. Tất cả những bức thư chia sẻ niềm vui ấy Thanh đọc thật kỹ và trân trọng cất giữ như đã cất giữ những tác phẩm đã được đăng báo.

Sau này, khi chuyển công tác vào Sài Gòn, dù công việc có bận bịu hơn nhưng thói quen của thú chơi tao nhã cũng không chịu từ bỏ anh. Một hôm, Thanh bất ngờ nhận được món quà đặc biệt từ Bưu điện chuyển đến. Đó là một chiếc hộp bằng giấy cứng khoảng chừng một tấc vuông, bên ngoài chỉ ghi người nhận mà không có địa chỉ người gởi nên Thanh không biết của ai đã gởi tặng mình. Vừa vui, vừa phân vân, lại vừa tò mò, Thanh mở nắp hộp ra xem thì chỉ thấy toàn một khối giấy đủ màu sắc cắt dài thành sợi đầy ắp bên trong. Thanh lôi khối giấy lên, nhìn kỹ vào lòng hộp chẳng thấy có gì khác nên tiện tay vứt khối giấy sang một bên, bụng thầm nghĩ: “Ai đó muốn đùa dai mình!” Không ngờ khối giấy vụn vừa vứt đã rơi ra từ trong ấy một ống nhựa trong (Loại thường để đựng thuốc viên) to khoảng ngón tay cái. Thanh vội nhặt lên, trố mắt ngạc nhiên khi thấy bên trong ống nhựa ấy có một tượng Vệ nữ được khắc hết sức công phu từ viên phấn trắng viết bảng. Mở nắp ống, Thanh cẩn thận tự hỏi không biết ai đã gởi tặng cho mình một món quà đặc biệt như thế này? Xốc tìm lại trong đống giấy vụn, lại thấy có một mảnh giấy học trò nhỏ ghi địa chỉ người gởi và lời gởi tặng. Thanh quen biết Loan từ ấy. Từ quen biết ban đầu đã dần dần đi đến chỗ thân tình, vượt qua giới hạn bạn bè.

Loan không còn cha, sống với mẹ và các em trong một ngôi nhà không mấy rộng nơi con hẻm nhỏ nối liền với đường Phan Văn Trị. Ban ngày đi làm tư chức cho một hãng buôn lớn, tranh thủ ngoài giờ học thêm Anh văn ở trường Dziên Hồng nơi đường Kỳ Đồng. Từ nhà đến trường quảng đường khá xa, Loan đi lại bằng chiếc xe Vélo Solex. Thời bấy giờ đi xe Vélo Solex như là cái mode của nhiều cô gái sống ở thành phố. Có tâm hồn thơ mộng, Loan cũng thích làm thơ nhưng chỉ làm rồi cất giữ cho riêng mình. Khi đọc được những tác phẩm của Thanh trên báo, Loan thấy có sự đồng cảm nên nẩy sinh ý tưởng dùng kim tỉ mỉ khắc trên viên phấn trắng thành tượng thần Vệ nữ rồi gởi đến tặng cho Thanh.

Vào những giờ tan học buổi tối, Thanh thường xuyên đi bộ đến trường Dziên Hồng đứng dưới gốc cây lớn bên vệ đường đợi Loan. Không nói với nhau một lời nào, họ chỉ nhìn nhau, ngầm hiểu ý nhau, chở nhau trên chiếc xe Vélo Solex của người con gái hoặc chạy chầm chậm lòng vòng qua một vài đoạn phố, hoặc ngồi nghỉ nơi ghế đá công viên, hoặc vào những rạp chiếu phim thường trực. Lần nào Loan cũng nhường tay lái cho Thanh dù anh chưa phải là người thông thuộc đường đi lối lại trong thành phố. Ngồi sau, Loan lại là một hướng dẫn viên đắc lực cho những cuộc hành trình giữa phố. Những cuộc dạo chơi như thế đều có thời gian không lâu vì Loan không thể về nhà quá khuya. Cứ như thế, họ đến với nhau bằng cả những tâm hồn trong sáng, ít có được giữa cuộc sống xô bồ nơi thành phố lớn. Không nói ra, nhưng trong thâm tâm của hai người đều nuôi một ước vọng duy nhất cho tương lai: “Trọn đời dành tất cả cho nhau.”

Nhưng ước vọng duy nhất của họ đã không trở thành sự thật. Sau ngày 30/4/1975, Thanh phải xa thành phố trong tình thế không kịp báo tin cho Loan biết. Hai người mất liên lạc với nhau từ ấy. Vật kỷ niệm ban đầu để làm nhịp nối cho sự quen biết nhau là tượng thần Vệ nữ được tạc bằng viên phấn trắng của Loan gởi tặng Thanh đã rất trân trọng nâng niu, gìn giữ như một báu vật cũng đã bị thất lạc tự bao giờ.

Gần một năm sau Thanh về lại Sài Gòn, thành phố gần như lột xác trước những đổi mới không ngờ. Anh cảm thấy xa lạ như người chưa từng một lần gắn bó nơi đây. Tìm đến đường Phan Văn Trị, nhà xưa còn đây mà người cũ đã đi đâu rồi. Dụng tâm dò hỏi rất nhiều lần nhưng cũng không ai biết được.

Một quãng đời trong một cuộc đời. Một bước chân đi qua để lại dấu ấn như vết hằn nhói buốt trong tâm hồn. Dấu ấn đã trở thành dĩ vãng. Thanh thầm tự hỏi: Đã qua là thực thể hay chỉ là một giấc mơ?

Khi dòng đời ổn định, dấu ấn của những bóng hồng trên bước đường đi qua thả trôi theo dĩ vãng tưởng không còn nhớ lại. Nhưng dấu ấn không rơi mất. Dấu ấn chỉ chìm sâu trong A lại da thức, lúc thuận duyên lại có cơ hội trồi lên, quấy đảo tâm hồn Thanh qua nhiều trạng thái khác nhau: Nhớ nhớ – Nuối tiếc – Đắng cay – Chua xót…

Trà Kim Long