Nhớ về Ân sư

457

  Nhân ngày Húy kỵ cố Ni trưởng thượng NHỰT hạ TỪ Viện chủ Chùa Phổ Minh, Trà Vinh

Trong khoảng không gian bao la vô cùng và thời gian trải dài vô tận, trong bầu trời sanh diệt, diệt sanh, các pháp đến rồi đi là lẽ phàm tình. Nhưng cuộc đời cố Ni trưởng thượng NHỰT hạ TỪ, dù thời gian có chảy dài theo năm tháng, dù hình bóng cố Ni trưởng không còn hiện hữu trên cõi đời này, nhưng không thể nào mờ phai trong tâm trí của hàng đệ tử xuất gia và tại gia, cũng như Phật tử hữu duyên được một lần diện kiến. cố Ni trưởng chất phác hiền hòa, lúc nào trên môi cũng nở nụ cười hoan hỷ. Đức tánh khiêm cung là món quà dâng lên cúng dường chư Tôn Thiền đức của Người, nhưng đối với tình linh sơn pháp lữ, cố Ni trưởng vẫn một mực kính yêu không thiên lệch.

Ngược dòng thời gian gần 50 năm về trước, tôi được Sư cô Hạnh Thuần là chị em chú bác với Sư cô Như Ngộ (Sư Như Ngộ lúc ấy làm Tri sự ở Chùa Từ Nghiêm) gởi và cho tôi làm đệ tử Sư Như Ngộ. Nhưng Sư Như Ngộ bảo là chưa đủ giới đức để độ đệ tử, do đó nhân ngày giỗ Tổ, Sư cô dẫn tôi về làm đệ tử hai Sư bà Chùa Phổ Minh. Sư cô bảo tôi đến đảnh lễ Sư bà (hồi đó gọi như thế) tôi vâng lời làm theo. Sư bà thượng NHỰT hạ TỪ nhìn tôi mỉm cười, còn Ni trưởng thượng GIÁC hạ HUỆ nhìn tôi rất kỹ và nói: “Cô bé này nhìn cũng thông minh, sáng láng, nhưng hơi khó tu, vì lẽ cặp mắt của nó to, nhưng tròng mắt hồng hồng, ướt át làm sao ấy, nếu ở môi trường tốt, thì sẽ thành người hữu dụng.” Nghe như thế tôi đâm ra lo, không biết rồi Sư bà có nhận mình không? Lát sau nghe Sư bà thượng NHỰT hạ TỪ bảo: “Tôi thì khác, nhìn nó có một cái gì ẩn kín bên trong, có tài nhưng ít nói và không biểu lộ ra, nếu nó có căn lành sâu trồng giống Bồ đề từ trước, thì sẽ gặp nhiều thiện duyên, nhờ Như Ngộ gởi nó ở Từ Nghiêm tu học, sẽ không có chuyện gì đâu.” Thế là ngày giỗ Tổ năm 1971 tôi lạy Tổ, lạy Thầy, nhập vào môn phái Chùa Phổ Minh từ dạo ấy. Thầy rất bình dân, sống gần đại chúng, nên tôi được Thầy sai bảo và gần gũi Thầy nhiều. Hầu chuyện cùng Thầy, nghe Thầy kể về gia cảnh của Thầy thật tội. Lúc nhỏ, Thầy sống trong một gia đình trung nông, quê ở miền duyên hải. Năm Thầy bốn tuổi, Thân mẫu lâm trọng bệnh rồi qua đời, để lại cho Cụ ông bảy người con. Trong suốt tám năm cảnh nhà đơn chiếc, vắng trước quạnh sau, Cụ ông phải tục huyền. Năm ấy, Thầy mới được mười hai tuổi, được chị Hai đem về Long Xuyên nuôi dưỡng. Ba năm sau, người chị thứ hai qua đời, Thầy trở về gia đình sống với người cha và mẹ kế. Một hôm, Thầy nhận thấy cuộc đời là giả tạm, huyễn hóa, nên vào ngày rằm tháng Giêng năm 1928, Thầy đã lạy Hòa thượng thượng THIỆN hạ NGÔN, Trụ trì Chùa Vinh Sơn, xin xuất gia tu học. Theo hầu Hòa thượng Bổn sư đến năm 1935, chiến tranh bùng nổ, Thầy theo Hòa thượng Bổn sư và người Sư đệ lánh nạn xuống Cồn Cù. Hai năm sau, Thầy được Hòa thượng Bổn sư cho thọ giới Sa-di-ni tại Trường hạ Thị Ròn. Năm ấy, Thầy hai mươi lăm tuổi (1937). Mãi đến năm ba mươi tuổi (1942), Thầy được Hòa thượng Bổn sư cho thọ Cụ túc giới tại Chùa Kim Huê, Sa Đéc.
Năm ba mươi tám tuổi (1950), Thầy cùng Hòa thượng Bổn sư và Sư đệ Thiện Căn về Trà Vinh, gặp Phật tử Trương Thị Đồ hiến cúng một vuông đất. Thầy vận động Phật tử ủng hộ tịnh tài, cất một thảo am để Hòa thượng ở đây dưỡng bệnh. Sau đó, một thời gian vì nhu cầu tu học của Phật tử, nên thiện nam, tín nữ đã cộng tác cùng Thầy, biến thảo am thành ngôi phạm vũ Phổ Minh tường gạch, mái ngói, uy nghiêm, thanh tịnh như hôm nay. Sau bảy tháng thi công, ngôi già lam hoàn thành, Hòa thượng Bổn sư chứng minh và tham dự lễ Lạc thành ngôi phạm vũ. Đến ngày 21/11/Quý Tỵ (1953), Sư tổ viên tịch. Lúc ấy, Thầy được bốn mươi ba tuổi, còn Sư đệ Thích Thiện Căn mới hai mươi tuổi, sống bơ vơ không có Hòa thượng Bổn sư dạy bảo, nên Thầy đã đưa Sư chú Thiện Căn đến Chùa Phước Hòa, tỉnh Trà Vinh để tu học cùng đại chúng. Còn Thầy ở lại một mình lo nhang khói cho Tam bảo, nhờ Phật lực phò trì, nhờ Giác linh Sư tổ phù hộ, chẳng bao lâu có Ni sư Giác Huệ xin tá túc An cư. Trong thời gian sống chung tu học, Thầy mới biết Hòa thượng Bổn sư có thêm một người đệ tử. Do đó, huynh đệ càng thêm thấm tình đạo vị, chung lo Phật sự và cố Ni trưởng Chùa Phổ Quang, Tiểu Cần, cũng là huynh đệ đồng môn với Thầy. Chùa Phổ Minh lúc đầu còn hoang sơ, cây cỏ um tùm, sau thời khóa tu học, hai huynh đệ ra vườn nhổ cỏ, trồng rau. Phổ Minh từ những luống cỏ dại, hai huynh đệ đem hết sức kiến tạo, bao nhiêu giọt mồ hôi là bấy nhiêu công sức dựng xây. Từng chậu kiểng, từng hàng cây, Thầy đã gởi gắm vào đấy bao ân tình như người pháp lữ. Độ chúng con xuất gia tu học, ngoài việc sinh hoạt hằng ngày, những oai nghi vi tế, Thầy phải chăm nom như tỉa lá, uốn cành cho cây kiểng, chúng con mới được thành người hữu dụng như ngày hôm nay.

Ngoài ra, thời gian gần đây, Thầy được Giáo hội Phật giáo cử làm Hòa thượng Ni, cho các Giới đàn mở tại Liên Quang Thiền viện, thị xã Trà Vinh và thành viên trong Ban Cố vấn Phật giáo tỉnh Trà Vinh. Nghe Thầy kể về cuộc đời tu học và hành đạo của Thầy, con quá ư ngưỡng mộ!

Cho đến năm 1996, tuổi cao, cộng thêm bệnh duyên hiểm nghèo, sức khỏe của Tôn sư yếu dần. Thuốc linh đơn không chữa được bệnh nan y, tuy thân thể giảm sút, nhưng tinh thần vẫn minh mẫn, cho đến ngày 11/3/Mậu Dần, Tôn sư đã thanh thản ra đi.

Thầy vân du đã nhẹ bước đăng trình
Về cảnh tịnh để môn sinh chờ đợi
Ân sâu nặng, nghĩa tình Thầy cao vợi
Nói làm sao… chờ đợi… biết làm sao
Ân Sư ơi ! Dù vật đổi sao dời
Con vẫn nguyện ghi lòng lời chỉ dạy.

Thế là hết, sau 87 năm thị hiện cõi Ta Bà, gần 60 năm tùy duyên hóa đạo, Thầy đã trở về thế giới bổn nguyên, Niết-bàn tịch tĩnh, nhưng pháp âm của Thầy vẫn còn sống mãi trong lòng hàng môn đồ đệ tử và Phật tử gần xa.

Hồi tưởng lại mới ngày nào đây, Thầy trò cùng chung sống bên nhau, thế mà bỗng chốc Thầy đã trở về thế giới vĩnh hằng vô tung bất diệt.

Than ôi !
Bút tả, ai văn ngưỡng vọng Thầy
Đôi dòng huyết lệ giọt thương thay
Lòng đau, quặn thắt giờ ly biệt
Thất vắng Tôn sư bặt tiếng Thầy
Quấn chiếc khăn tang bên chiếu cỏ
Trời vàng tắt nắng, đất ngừng quay
Kinh song nguyệt ảnh, đèn leo lét
Thống thiết đàn con dạ kính bày.

TKN. Phước Giác