Thứ Ba, 24 Tháng Năm 2022
Cảm tác Nhớ Thầy

Nhớ Thầy

  Thắm thoát mà đã 20 năm mùa lá rụng. Ngần ấy năm tháng trôi qua chúng con biết mình đã mất đi vĩnh viễn ngọn Hải đăng vững chải.

Con luôn nghĩ rằng được sống bên Người là phước báu vô cùng mà bất cứ người xuất gia nào cũng mong có được. Thầy soi đường dẫn lối cho mọi căn cơ, Thầy xóa bỏ mọi phân biệt thường tình, Thầy yêu thương hết thảy mọi tầng lớp khổ nghèo trong xã hội. Dạy học, dạy tu, dạy cho chúng con biết cần kiệm, nhẫn nại, nhịn nhường… dạy đến những điều nhỏ nhặt như rửa chén, lặt rau… Có sống bên Thầy mới cảm nhận được nguồn năng lượng ấm ấp mà Thầy đã truyền trao. Vì còn tuổi thơ, đôi lúc chúng con có những lời nói ngây ngô, Người hay cười với nụ cười thật bình dị và bao dung làm sao! Bây giờ nhắc lại, nhớ Thầy nhiều!

“Vật đổi sao dời”, biết bao đổi thay khi Xuân qua Hè đến. Lầu 5, nơi hằng đêm xưa kia Thầy vẫn ngồi dịch Kinh làm thơ, ngày ngày chăm hoa trồng kiểng, giờ đã trở thành một nỗi bùi ngùi vô hạn khi một mình con bất chợt lên đấy vào những lúc đêm về.
Ngày còn Thầy, lầu 5 sung túc với đủ màu sắc. Dàn thanh long trĩu quả, dàn nho trong bắt mắt, rồi bông trường sanh, bông mãn đình hồng… còn rau ăn cũng đa dạng lắm, nào mồng tơi, rau dền, cải rổ… Chính sự đa dạng này mà ngày đó chúng con đã hái nhằm vào nồi canh rau mấy ngọn xuyên tâm liên. Thật là canh đắng (xuyên tâm liên rất đắng) dã tật (cái tật phân tâm).

Mỗi độ Xuân sang, chúng con có mặt ở Hội Sơn, Phước Tường để làm lễ Tảo tháp. Nhìn cảnh chùa xưa, con chạnh lòng khi nhớ về người con gái danh gia vọng tộc, khước từ đời sống khuê các bước chân vào cửa thiền với đời sống đạm bạc nâu sòng… không dừng lại ở việc quét sân gánh nước như các Ni cô ở chùa quê hẻo lánh, chí nguyện xuất trần đã đưa bước chân Người đến tận miền Bắc xa xôi để tầm sư học đạo và đây cũng chính là sự khởi đầu gian khổ của một vị lãnh đạo Ni đoàn anh minh tài đức.

Chùa Phổ Đà – nơi in đậm dấu chân Người, cũng là cái nôi đầu tiên của nhiều vị Ni sư khả kính. Những lần về đây, con lại nghe lòng mình bồi hồi, rồi giữa ngọn Qui Sơn hùng vĩ mỗi sáng sương mờ hay trên đỉnh Hải Vân mây trời bảng lảng con vẫn thấy đâu đây hình ảnh Thầy ẩn hiện với gậy trúc trên tay và chiếc nón lá thân quen. Thầy chưa bao giờ mỏi mệt vì chí nguyện độ sanh, dù tuổi già sức yếu hay mưa gió đường xa. Những chuyến đi về giữa Sài Gòn – Vũng Tàu là những chuyến đi bình thường của Thầy ngày ấy. Huê Lâm 2 bây giờ với cảnh trí tôn nghiêm thiền vị cũng chính là bao nhiêu tâm huyết của Thầy…

Con nhớ những lần lên hầu Thầy khi Thầy dạy việc, Người vẫn ngồi trên chiếc ghé quen thuộc, chúng con xá Thầy rồi nhẹ nhàng quỳ bên cạnh: “Bạch Thầy dạy con!” và lắng nghe từng ngôn từ giáo huấn của Người… Đó là những hình ảnh không thể nào quên mà con thích nhất mà lưu giữ nơi ký ức của mình nhiều nhất kể từ ngày bước chân vào mái chùa Huê Lâm.

Có ai nhớ nồi canh đắng ngày đó và giờ còn lại những ai?

TKN. Như Trí

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!