Người thầy trên đôi nạng gỗ

9

  Biển đối với tôi lúc nào cũng đẹp. Không phải chỉ bởi hàng dương xanh rì reo vui cùng gió, hay đẹp vì bờ cát trắng trải dài ôm từng con sóng đêm ngày ngân nga những bản nhạc du dương. Biển đẹp bởi đã cùng tôi lớn lên, biết xoa dịu mỗi khi tôi buồn và cả hân hoan khi những lúc tôi vui. Cũng chính biển đã đem đến cho tôi người thầy mà suốt cuộc đời này, tôi sẽ dành cho người một lòng kính trọng, ngưỡng mộ nhất. Và hôm nay, khi tôi lại được đặt chân lên bãi cát trắng phau sau nhiều năm xa cách, thoáng nghe ai đó ngân nga cùng cây đàn guitar: “Vết chân tròn vẫn đi về trên con đường mòn cát trắng quê tôi/ Anh thương binh vẫn đến trường làng/ Vẫn ôm đàn dạy các em thơ bài hát quê hương… “. Trong tôi lại dâng lên niềm cảm xúc khó tả. Âm giọng trầm ấm hòa tiếng đệm đàn guitar nghe quen thuộc lắm thay. Tôi bất chợt quay về phía hàng dương và nhìn thấy thầy ngồi trên bờ kè, kế bên là đôi nạng gỗ. Hình ảnh thân quen đó không khó để nhận ra thầy. Vẫn chiếc áo màu chàm, đôi nạng gỗ và cả chiếc nón tai bèo bạc màu. Tôi vội tiến lại gần định hình rồi gọi to:
– Thầy Văn ơi!
Thầy buông đàn, nheo nheo mắt nhìn tôi giây lát:
– Em là…
– Em là thằng Quân gầy nhom, con dì Huệ ngày xưa đó thầy.
A, Quân “cò hương” đây mà! Em về khi nào vậy?
– Dạ, em có việc đi ngang đây nên ghé thăm làng chài. Định đứng đây hít khí trời giây lát rồi chạy vào nhà thầy, không ngờ thầy lại ngồi đây. Thầy vẫn khỏe ạ, vẫn còn dạy học ở nhà mình không thầy?
– Thầy vẫn “gõ đầu trẻ” mỗi tối thôi, em ạ! Cái nghề thầy yêu thích, làm sao mà bỏ được em.

Nhắc đến chuyện dạy học, bao nhiêu ký ức xưa xa lại ùa về trong tôi. Hơn 12 năm trước, tôi đã từng là học trò của thầy…

Ngày đó, nhà tôi rất nghèo, sống nhờ bám biển. Ba thường xuyên vắng nhà theo những chuyến tàu khơi xa. Tôi và mẹ cùng cào nghêu kiếm sống qua ngày. Rồi mỗi khi những đợt thủy triều rút, tôi lang thang trên biển nhặt những vỏ sò đẹp bán cho các cửa hàng mỹ nghệ kiếm thêm vài đồng phụ mẹ. Tôi chưa bao giờ dám nghĩ có ngày mình sẽ làm quen với các con chữ, được ê a đánh vần tên ba, tên mẹ và cả cái tên Quân mạnh mẽ của mình.
Một ngày như mọi ngày, khi mặt trời tắt nắng, tôi lại ngồi trước biển ngắm hoàng hôn. Lòng lại nghĩ vu vơ về việc học. Ấm ức lắm khi những quyển sách, tờ báo với chi chít chữ không hiểu nội dung là gì, trong khi những đứa trẻ cùng trang lứa cần đọc say sưa. Nỗi khao khát đánh vần từng con chữ trong tôi lúc nào cũng mãnh liệt. Dù biết đó là chuyện xa vời, nhưng chẳng ai đánh thuế ước mơ cả, và bất cứ ai cũng có quyền để nghĩ về điều đó. Những tâm sự cháy bỏng ấy tôi dốc cả vào lòng biển như mong mỏi có ngày biển sẽ biến ước mơ tôi thành sự thật. Và… biển đã cho tôi gặp thầy.

Thầy đến bên tôi với đôi nạng gỗ và những vết chân tròn hằn trên nền cát ướt. Khoác trên mình chiếc áo xanh bộ đội, thầy đã trông thấy tôi ngồi buồn một mình giữa trời chiều và đến hỏi han. Tôi chưa từng quen thầy bao giờ, lại càng ngạc nhiên khi nghe thầy nói rằng mình là thầy giáo. Thầy kể, hồi còn chiến tranh, khi đang dạy học, thầy đã lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của Tổ quốc thiêng liêng. Rồi trong một lần bị địch càn quét, bom đạn đã cướp đi đôi chân nhanh nhạy của thầy, khiến thầy thành thương binh… Nghe thầy kể về cuộc đời mình thời chiến tranh khốc liệt, tôi thầm cảm phục sự hy sinh ấy. Rồi như nắng hạn gặp mưa rào, tôi đã tâm sự nỗi lòng của mình.

– Em có muốn đi học không? Có muốn thực hiện ước mơ của mình không? – thầy hỏi.
– Em muốn lắm ạ!

Tôi vội trả lời như sợ rằng nếu không nói thì sẽ không còn nói được nữa. Niềm mong mỏi được đến trường, được viết lên bảng những dòng chữ ca ngợi xóm chài nghèo, bờ biển quê hương, hàng dương mạnh mẽ… À, rồi ca ngợi ba tôi và những người dân chài ngày đêm đương đầu với bão tố nhưng vẫn không bao giờ bỏ cuộc…

– Nhưng… – Tôi lại đưa ánh mắt vô vọng nhìn về ráng chiều – Biết đến khi nào em mới được đi học thầy ơi. Nhà em nghèo lắm, không có điều kiện…
Như đọc được những băn khoăn của tôi, thầy ân cần bảo:
– Không ai có quyền không cho em được đến trường, cũng như bắt em sống không có ước mơ. Không có điều gì là không thể, em à. Thầy sẽ trực tiếp nói chuyện với ba mẹ em và chúng ta sẽ cố gắng để cho em có thể đi học như bao đứa trẻ khác.
Nhìn đôi chân thương tật của thầy, đầu óc non nớt của tôi nghĩ rằng thầy khó có thể giúp gì được cho tôi ngoài những lời an ủi. Thầy nhìn ánh mắt dò xét của tôi, ra chiều hiểu chuyện:
– Em không tin thầy ư? Em hoang mang vì đôi chân khuyết tật này sao? Tuy thầy không còn đôi chân nhưng không có nghĩa là tâm hồn, đầu óc thầy bất toại. Thầy không hối tiếc về những gì thầy đã hy sinh, chỉ buồn là chưa giúp gì được cho học trò của mình. Nhưng khi nhìn thấy các em chân trần dang nắng trên bãi cát dài bỏng rát, tim thầy đau lắm. Lẽ ra ở tuổi các em phải học, vui chơi chứ không mưu sinh vất vả như người lớn…
Sau khi thầy đến nhà nói chuyện cùng mẹ về việc học của tôi, thoạt đầu mẹ lo lắng vì không ai lao động phụ giúp ba mẹ. Nhưng nghe thầy nói học ban đêm với nhiều đứa trẻ trong xóm, mẹ tôi đồng ý ngay. Rồi tôi được đi học, có người thầy đầu tiên và những người bạn đầu tiên. Cảm giác đó khó tả lắm. Hân hoan, vui sướng, hồi hộp lẫn suy tư. Chúng tôi đến lớp lúc xóm chài lên đèn, khi mà bọn trẻ đều vứt hết những nỗi lo toan cơ cực của một ngày lao động vất vả. Học phí lớp bổ túc văn hóa của các em do chính tay thầy chi trả cho nhà trường. Dù gia cảnh thầy cũng chẳng mấy khá giả, nhưng những đồng đội, đồng nghiệp luôn ủng hộ thầy hết mình, mỗi người góp một ít, rồi vận động thêm gây quỹ, đầu tư nhiệt tình vào việc xóa nạn mù chữ. Thầy bảo: “Muốn đất nước giàu mạnh thì trẻ em phải đi học, tiến thân trong tương lai, cải thiện cuộc sống cho bản thân, giúp ích gia đình và xã hội”.

Nhớ những đêm trăng sáng, chúng tôi cùng thầy ra bãi biển đốt lửa trại, nghe thầy kể chuyện chiến trường hoặc đánh đàn. Thầy hát về những bài hát thời bộ đội đầy vẻ tự hào, như là cách nhắc về quá khứ vui buồn cùng đồng đội… Giọng hát mạnh mẽ, hào hùng của thầy lan trong gió, phả vào sóng biển cuốn ra tận phía trời đêm xa thẳm. Rồi từng đứa nói về ước mơ trong tương lai của mình cho thầy nghe. Kỳ lạ thay, đứa nào cũng mong muốn sẽ là một giáo viên tốt bụng như thầy.
5 năm sau, vì hoàn cảnh gia đình, tôi phải rời làng chài, chia tay lớp học thân yêu. Với sự hướng dẫn tận tình của thầy, tôi xin vào học các lớp bổ túc văn ban đêm một cách cần mẫn, chăm chỉ. Thời gian trôi qua nhanh, Tôi đã được học lên cao, cao hơn những gì tôi từng mơ ước. Rồi tôi có thêm nhiều bạn mới, nhiều cơ hội mới và cả những người thầy, người cô vui vẻ, nhiệt huyết, luôn ủng hộ những học sinh có hoàn cảnh nghèo chăm chỉ học hành. Nhưng thú thật, trong thâm tâm tôi, người thầy đầu tiên với đôi nạn gỗ vẫn là tuyệt vời nhất…

Tôi ngồi kế bên thầy, say sưa nói về những dự định tương lai:
– Em sẽ cố gắng đạt điểm cao trong kỳ thi Tốt nghiệp THPT, để vào trường sư phạm. Sau khi ra trường, em sẽ là một thầy giáo, noi gương thầy, đến những vùng sâu, vùng cao, đồng bào dân tộc thiểu số để giúp đỡ cho các em nghèo. Dù đồng lương ít ỏi cũng chẳng sao, quan trọng là biết tiết kiệm, và có thể làm thêm một số việc để cuộc sống tốt hơn, phải không thầy?
– Em biết nghĩ cho các thế hệ tương lai như vậy là tốt lắm – thầy nói trong niềm xúc động – Thầy không giúp được gì cho em ngoài việc ủng hộ tinh thần. Cố gắng lên, em sẽ thành công. Thầy tin là như vậy.

Tôi dìu thầy đi ngắm biển chiều tà. Chợt giật mình khi thầy gỡ chiếc mũ tai bèo xuống. Thầy đã già đi rất nhiều: đôi tay run rẩy, tóc ngả đầy màu trăng, vết chân chim chằng chịt sau đuôi mắt. Tuy vậy, đôi mắt thầy vẫn tinh anh, trí nhớ vẫn minh mẫn để tiếp tục truyền lửa, dạy học cho các em không biết chữ, bỏ học ở xóm chài nghèo này. Cuộc đời thầy như một bài ca đầy nốt thăng trầm theo con sóng biển đang nhấp nhô ngoài khơi xa. Với đôi nạn gỗ bé nhỏ, thầy đã thắp lên bao niềm hy vọng, chắp cánh cho bao ước mơ bay cao, bay xa…

Nguyễn Thanh Vũ