Người con gái kỳ tài của đức Phật

    1136
    《HĐ 》– “Đường thiền sen nở lối thu xưa
    Hồn cũ mênh mang một khoảng trời
    Diệu kỳ là ai trong cõi Phật
    Không sầu không muộn không bi ai
    Nét Huế ai pha mà thấm đậm
    Người đi để lại trí minh tường…”

    Ở Huế, có lẽ hiếm có ai không biết Sư bà Diệu Không. Nhắc đến Sư bà Diệu Không (1905-1997) là nói đến một trong những nhân vật nổi tiếng có nhiều đóng góp đặc biệt trong lĩnh vực văn hoá – xã hội, có ảnh hưởng không nhỏ đến những biến chuyển lịch sử của đất nước ta trong thế kỷ XX. Đó là cuộc đời của một “kỳ nữ” trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc nhưng cũng mang những nét rất riêng của một người con gái đất cố đô.

    Từ lâu, giới Phật tử ở Huế đã truyền tụng công lao của Sư bà Diệu Không trong việc thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, xây dựng Ni viện, cô nhi viện ở nhiều địa phương và Viện Đại học Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam (Đại học Vạn Hạnh); Sư bà còn biên dịch nhiều bộ kinh Phật, là một trong những sáng lập viên Nhà in Liên Hoa, báo Liên Hoa,…Đặc biệt, trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, Sư bà đã thể hiện bản lĩnh của một “kỳ nữ”, đi đầu những hoạt động yêu nước, chống ngoại xâm.

    Sư bà Diệu Không xuất thân trong một gia đình có truyền thống quan triều và danh giá ở Thừa Thiên Huế, thế danh Hồ Thị Hạnh.Thời trẻ, Hồ Thị Hạnh được gọi là “Quận chúa” vì thân phụ cô là Quận công Hồ Đắc Trung, từng làm Tổng đốc Nam-Ngãi, rồi Thượng thư Bộ Học, Bộ Lễ suốt mấy triều Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại, sung Cơ mật đại thần. Thật đáng nể phục khi một tiểu thư được sinh ra trong nhung lụa, xuất thân từ dòng dõi “danh gia vọng tộc”, lại khước từ cuộc sống êm ấm giàu sang, dấn thân vào những hoạt động xã hội, ủng hộ sự nghiệp Cách mạng của dân tộc, rồi lại chọn con đường xuất gia tu hành. Anh em của côcũng đều là những người có danh tiếng trong giới quan trường và quý tộc triều đình.Nhưng “cô út” Hồ Thị Hạnh lại chọn một con đường đầy chông gai, đó là tham gia cách mạng và trở thành một nhà tu hành, đó thật là một điều đáng trân quý trong thời kỳ gian khó của đất nước.

    Ngay từ những năm 20 thế kỷ trước, khi nữ sử Đạm Phương lập “Hội Nữ công”, Hồ Thị Hạnh đã xông xáo đi Bắc về Nam vận động gây quỹ từ thiện, lại giữ chân thủ quỹ do bà Trần Thị Như Mân và Hải Triều giao phó để che mắt mật thám.

    Khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 – 1931 bị thực dân Pháp đàn áp, chính “cô út” Hồ Thị Hạnh đã xung phong đem tiền cứu giúp các gia đình bị nạn. Để không bị ngờ vực, cô ra Nghệ An với tư cách là người của Hội Cứu tế Lạc Thiện, một tổ chức cũng do cô đích thân mời rất nhiều người quyền cao chức trọng tham gia, theo gợi ý của cụ Hồ Đắc Trung, để dễ bề hoạt động…Những việc làm đó chứng tỏ tinh thần, nghị lực của người con gái Huế ấy thật cứng cỏi, dám đương đầu nơi đầu sóng ngọn gió trước những giông bão của cuộc đời và những biến động của vận mệnh dân tộc, đất nước.

    Không chỉ là một “kỳ nữ” trong sự nghiệp cách mạng dân tộc, chuyện tình duyên của Quận chúa Hồ Thị Hạnh cũng xứng danh hiệu “kỳ nữ”. Cô vốn là một tiểu thư tài sắc vẹn toàn nên cóbiết bao công tử con nhà gia thế muốn được kết thân, vậy mà cô đã nhận lời làm vợ kế một người con trai của cụ Cao Xuân Dục đang nuôi 6 con nhỏ mồ côi mẹ. Hơn nữa, bản thân anh cũng bị bệnh hiểm nghèo, không sống được bao lâu nữa. Vậy nên ngày cưới của côai cũng khóc như là một đám tang. Đúng 11 tháng sau, khi Hồ Thị Hạnh được làm mẹ thì chồng cô cũng qua đời. Nỗi đau của một người phụ nữ góa chồng ở tuổi còn rất trẻ, của một người con gái yêu nước kiên trung trong cảnh nước mất nhà tan đè nặng lên vai cô út.

    Trong bối cảnh tang thương, đau đớn ấy, cô đã tình nguyện được đứng đầu đội cảm tử. Trước đó, chuyện cô cứu Hòa thượng Thích Đôn Hậu thoát khỏi án tử hình của thực dân Pháp cũng thật đặc biệt. Đó là khi thực dân Pháp tái chiếm Huế, lùng bắt những người mà chúng cho là theo Việt Minh, trong đó có các Thượng tọa Thích Mật Thể, Thích Đôn Hậu,…Khi biết tin Hòa thượng Thích Đôn Hậu bị mật thám Pháp bắt giam và sắp bị xử tử, cô chẳng nề chi thân “liễu yếu đào tơ”, chẳng quản hiểm nguy, xin Hòa thượng Thích Mật Hiển cho đến Sở Mật thám bàn tính cách giải cứu Hòa thượng Đôn Hậu. Một số vị có thế lực ở Huế lúc đó đã giúp côbuộc mật thám Pháp chịu đưa Hòa thượng Đôn Hậu sang bệnh viện chữa trị vết thương mà chúng gây ra và rút cuộc đã phải thả Ngài về chùa Thiên Mụ.

    Cô dần dần tập trung học hỏi Phật pháp, hoạt động từ thiện và nỗ lực tham gia ủng hộ phong trào chấn hưng Phật giáo. Nối tiếp chí nguyện của Ni tưởng Diên Trường (Hồ Thị Nhàn), cô vận động xây dựng Ni viện Diệu Đức để làm nơi đào tạo Ni giới Phật giáo cả nước.Năm 1944, hội đủ duyên lành, cô phát tâm xin thọ trì giới Tỳ-kheo-ni tại Giới đàn Thuyền Tôn do Đức Trưởng lão Giác Nhiên làm hòa thượng Đàn đầu.

    Mùa hè Đỏ lửa năm 1972, khi Ni chúng chạy vào Đà Nẵng, tránh giặc giã ở chùa Bửu Quang và Khuôn Hội Tây Ninh Đà Nẵng. Biết Ni chúng đang trải qua một tháng ròng rã lánh nạn nên dù đang làm Phật sự ở Sài Gòn xa xôi, Sư bà Diệu Không vẫn cho thuê một chiếc máy bay đưa toàn bộ Ni chúng vào chùa Diệu Tràng và Diệu Giác (Quận 2, Sài Gòn) vào an cư ba tháng.

    Lòng yêu nước, tích cách kiên trung dũng cảm, tình thương Ni chúng vô bờ bến của một của một nhân sĩ yêu nước ẩn trong dáng dấp mảnh mai của người phụ nữ “liễu yếu đào tơ” đất cố đô – cũng là một trong những vị danh Ni nổi bật của thế kỉ XX. Đó là những dấu ấn đậm nét mà Sư bà Diệu Không đã để lại của sự nghiệp giải phóng dân tộc và hưng thịnh Phật giáo hiện đại.

    Nhân kỉ niệm 20 năm ngày Sư bà Diệu Không viên tịch, thành kính dâng lên đôi dòng cảm phục về một bậc kỳ tài đất Huế.

    TS. Tống Thị Quỳnh Hương
    (Giảng viên Đại học Sư phạm Hà Nội)