5.7 C
London
Monday, December 6, 2021

Ngôn ngữ Đức Phật sử dụng khi thuyết pháp

  Phật giáo khởi nguyên từ Ấn Độ, một quốc gia đa dạng về sắc tộc tín ngưỡng, tôn giáo và ngôn ngữ. Vào thời cổ đại, có hơn 124 ngôn ngữ được sử dụng thì vấn đề đặt ra là “Đức Phật dùng ngôn ngữ nào để thuyết pháp?” Phật giáo Nam truyền thì cho rằng Pāli là Thánh ngữ, tức ngôn ngữ của Đức Phật. Một số nhận định khác thì cho rằng Sanskrit mới là ngôn ngữ của Đức Phật bởi Sanskrit có lịch sử phát triển lâu đời tại Ấn Độ. Bằng sự học tập và tìm hiểu của bản thân, người viết xin trình bày “Ngôn ngữ mà đức Phật sử dụng khi thuyết pháp” thông qua những chứng cứ ghi nhận trong Kinh và Luật. Ngoài ra, người viết cũng tham khảo những tư liệu có liên quan để thực hiện bài viết này. Vì sự học tập và tìm hiểu của người viết còn hạn hẹp, mong rằng sẽ nhận được sự góp ý của chư vị độc giả.

Luật tạng Pāli (Cullavagga – Tiểu Phẩm) có ghi lại câu chuyện của hai vị Tỳ-kheo tên Yamelu và Tekula xuất thân từ dòng dõi Bà-la-môn. Hai vị này đến gặp Đức Thế Tôn và thỉnh cầu: “Bạch Ngài, hiện nay các Tỳ-kheo có tên gọi khác nhau, có dòng dõi khác nhau, có giai cấp khác nhau, có gia tộc khác nhau đã xuất gia. Các vị ấy làm hỏng lời dạy của Đức Phật bằng tiếng địa phương của chính họ. Bạch Ngài, hãy để chúng con hoán đổi lời dạy của Đức Phật sang dạng có niêm luật1”. Hai vị Tỳ-kheo muốn chuyển đổi những lời dạy của Đức Phật sang ngôn ngữ Sanskrit, là ngôn ngữ dành riêng cho giới thượng lưu, quý tộc và là ngôn ngữ dùng để lưu truyền Thánh điển Veda của Bà-la-môn giáo thời bấy giờ. Sau khi nghe hai tôn giả trình bày ý nguyện của mình, Đức Phật đã không đồng ý bởi vì “việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin”. Bởi vì, giáo pháp của Thế Tôn nhằm mục đích giải thoát cho tất cả chúng sanh, nếu chuyển đổi thì sự bình đẳng trong việc tiếp nhận giáo pháp cũng sẽ bị hạn chế. Chính vì thế, Đức Phật dạy rằng: “Này các Tỳ-kheo, Ta cho phép học tập lời dạy của Đức Như Lai bằng tiếng địa phương của chính bản thân2”.

Đức Phật khẳng định cho phép học tập lời dạy của Ngài bằng ngôn ngữ của “chính bản thân” có nghĩa chỉ cho ngôn ngữ địa phương của mỗi cá nhân. Trong khi đó, Ngài Budhaghosa đã lý giải điều này nghĩa là ngôn ngữ Magadhi (Vināya Atthakāthā, 1214) xứ Magadha là ngôn ngữ nền tảng hình thành nên ngôn ngữ Pāli về sau này. Các học giả Nam truyền cho rằng: “Pāli là ngôn ngữ được Phật sử dụng khi thuyết pháp, là ngôn ngữ của chư Thiên; trẻ con mới sinh chưa nghe ngôn ngữ nào có thể nghe và hiểu được tiếng Pāli vì họ tin rằng: Pāli là ngôn ngữ thủy tổ của loài người3”. Đây là một vấn đề tranh cãi dữ dội đối với giới nghiên cứu. Một số học giả nghiên cứu cũng có cùng quan điểm với Ngài Budhaghosa như Geogre Grierson, W. Geiger…4 nhưng phần lớn các nhà ngôn ngữ học cho rằng Pāli chưa từng là ngôn ngữ nói, thời của Đức Phật cũng chưa có ngôn ngữ Pāli, do đó Pāli không phải là ngôn ngữ của Đức Phật vì “Pāli chỉ gắn với văn học kinh điển Phật giáo và theo các học giả thì cho đến thế kỷ thứ VI hay thứ VII Tây lịch, Pāli dường như đã không được biết đến như một tên gọi chỉ cho bất kỳ loại ngôn ngữ nào5”.

Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ Pāli có liên quan đến tiến trình lịch sử Phật giáo. Một sự kiện đánh dấu mốc cho sự lan tỏa và phát triển của Phật giáo sau Phật diệt độ vào khoảng thế kỷ III trước Tây lịch, thời vua Asoka đã phái các đoàn truyền giáo đi truyền bá Chánh pháp sang các khu vực ngoài Ấn Độ. Sự thành tựu của các phái đoàn được ghi nhận nhiều nhất là thành công của Ngài Mahinda và sự ra đời của Tam tạng Pāli tại Tích Lan.

Nhìn lại bức tranh lịch sử Phật giáo, thời Phật còn tại thế, phần lớn thời gian Đức Phật ở xứ Magadha do vậy Ngài sử dụng tiếng Magadhi thường xuyên là chuyện đương nhiên. Cuộc kết tập kinh điển lần thứ ba diễn ra tại Magadha đánh dấu sự chuyển mình của Phật giáo bằng sức mạnh lan tỏa sang các quốc gia khu vực cho thấy Magadha từng là cứ địa lâu đời của Phật giáo. Do vậy, sự kết luận của các học giả hay của các nhà Nam truyền cho rằng Pāli là nguồn gốc của Magadha không phải là không có cơ sở. Pāli không là ngôn ngữ dùng trong giao tiếp nhưng thông qua những bản kinh được kết tập cho thấy Pāli là ngôn ngữ được sử dụng bằng hình thức văn bản mang tính hoàn thiện nhất thời bấy giờ. Do vậy, Pāli xứng đáng chọn làm ngôn ngữ ghi lại lời dạy của Thế Tôn.

Như vậy, Đức Phật không nói tiếng Pāli như các học giả Nam truyền nhận định. Theo Luật Tạng, Đức Phật không cho dùng ngôn ngữ Sanskrit thế thì tại sao vẫn có “tạng Sanskrit”, phải chăng các vị Tỳ-kheo đã làm trái lời dạy của Thế Tôn?

Văn minh Ấn Độ nổi tiếng nền văn học Veda, với hơn mười ngàn bài kệ tụng được lưu giữ bằng hình thức truyền miệng trước khi được biên tập thành văn bản vào khoảng năm 1.000 đến 800 trước Công Nguyên bằng tiếng Phạn cổ, gọi là Thánh kinh Veda6. Hình thức Sanskrit ban đầu gọi là Classicall Sanskrit (Sanskrit cổ điển) đây là loại hình ngôn ngữ được chứng thực là lâu đời nhất và là một trong những thành viên của nhóm ngôn ngữ Ấn- Âu. Thời cổ xưa, ngôn ngữ không phổ biến trong xã hội, chỉ giai cấp quý tộc, Bà-la-môn mới được sử dụng. Do vậy, Đức Phật không đồng thuận việc chuyển đổi lời dạy của Ngài sang ngôn ngữ Sanskrit là hợp lý, nếu chuyển đổi thì giáo pháp không thể chuyển tải đến mọi tầng lớp trong xã hội bởi lý do hạn chế trong vấn đề sử dụng ngôn ngữ.

Vào thế kỷ thứ IV trước Công nguyên, xuất hiện một học giả, nhà ngôn ngữ học lỗi lạc Pānini. Ông là một trong những học giả được tôn kính bậc nhất ở Ấn Độ. Ông đã thực hiện công trình hệ thống lại loại hình Sanskrit cổ điển thành một loại hình mới có trật trự, quy tắc luật lệ theo tiêu chuẩn cụ thể gọi là Standand Sanskrit (Sanskrit tiêu chuẩn). Hệ thống ngôn ngữ này nhanh chóng được sự ủng hộ đồng tình của giới tri thức, nhà ngôn ngữ, học giả bởi tình chất ưu việt của nó, đồng thời các tác phẩm được biên tập trước đó cũng được biên tập lại bằng Sanskrit tiêu chuẩn. Loại hình ngôn ngữ này nhanh chóng lan truyền và phổ biến trong xã hội so với trước đó ngôn ngữ chỉ giới hạn một vài thành phần trong xã hội được biết đến.

Trước sự đổi mới của văn hóa dân tộc, Phật giáo cũng phải có sự thích ứng để phù hợp với xu thế chung của thời đại. Sự ra đời của Standand Sanskrit như là một thách thức đồng thời cũng là một cơ hội Phật giáo. Sử dụng Sanskrit là trái lời Phật dạy, nhưng để phù hợp với nhu cầu xã hội Phật giáo cho ra đời loại hình ngôn ngữ Sanskrit mới “Buddhist Hybrid Sanskrit” (Sanskrit hỗn chủng Phật giáo). Gọi là hỗn chủng vì có sự tham gia của hai ngôn ngữ vùng Trung Ấn Độ và ngôn ngữ địa phương. Ngôn ngữ này từng được đặt nhiều tên gọi khác nhau và mãi cho đến ngày nay, tên gọi ngôn ngữ này vẫn còn là đề tài tranh luận trong giới học giả. Trong lịch sử hình thành và phát triển của ngôn ngữ, không có ngôn ngữ nào gắn liền với tôn giáo. Đặc biệt, ngôn ngữ này có sự pha trộn của hai ngôn ngữ của vùng Trung Ấn, ngôn ngữ địa phương và là ngôn ngữ Phật giáo thường sử dụng để biên tập kinh điển. Cách gọi “Buddhist Sanskrit” vẫn chưa thuyết phục vì lý do vay mượn trong loại hình ngôn ngữ này. Trong quá trình đào sâu nghiên cứu, đến năm 1935, một học giả người Mỹ tên là Franklin Edgerton đã dùng tên “Buddhist Hybrid Sanskrit” để gọi tên cho ngôn ngữ này. Theo ông, Sanskrit chỉ cho ngôn ngữ Sanskrit; Hybrid chỉ cho sự pha trộn giữa Sanskrit và các ngôn ngữ vùng Trung Ấn Độ; đây là ngôn ngữ thông dụng của Phật giáo (Buddhist). Ba yếu tố đó tạo thành Buddhist Hybrid Sanskrit.

“Buddhist Hybrid Sanskrit là ngôn ngữ dành riêng cho Phật giáo; là tên hiện đại của một ngôn ngữ cổ xưa được giới Phật giáo Bắc truyền dùng để biên tập kinh điển Phật giáo Ấn Độ, nhất là kinh văn Phật giáo Đại Thừa và ngôn ngữ này nằm trong nhóm ngôn ngữ Ấn Âu7”. Đây là tên hiện đại để gọi cho ngôn ngữ Cổ đại. Sự ra đời của tên gọi mới cho dòng ngôn ngữ cổ gây nhiều tranh cãi trong giới học giả đương thời, mãi cho đến khi ông qua đời thì cái tên Buddhist Hybrid Sanskrit mới được chấp nhận. Ông để lại nhiều công trình có giá trị cho loại hình ngôn ngữ này bao gồm bộ từ điển và hơn mười bài viết nhằm thuyết phục và bảo vệ quan điểm của ông đối với tranh luận đương thời.

Sự ra đời của Buddhist Hybrid Sanskrit được dân chúng nhiều vùng dùng để nói và viết, trở thành ngôn ngữ khá phổ biến vào thời Middle Indo Aryan vào khoảng 500 BC- 1.000 AD8. Đây là khoảng thời gian cho sự phát triển và hưng thịnh của Phật giáo Đại thừa. Các bản kinh được biên tập bằng ngôn ngữ Buddhist Hybrid Sanskrit như: Kinh Thập Địa (Daśabhūmaka Sautra), Kinh Kim Quang Minh (Suvanaprabhāsa Sutra), Kinh Pháp Hoa (Saddharmapundarīka Sutra), Kinh Bát Thiên Tụng Bát Nhã (Astasāharikāprajñāpāramitā Sutra), Kinh Lăng Già (Lankāvatāra Sūtra)…

Sự ra đời của Buddhist Hydbrid Sanskrit nhằm theo kịp theo xu thế xã hội. Xưa nay, Phật giáo luôn phát triển song hành cùng văn hóa dân tộc, vấn đề Phật giáo sử dụng Sanskrit để biên tập Thánh điển là thích nghi với điều kiện văn hóa xã hội, hình thức sử dụng ngôn ngữ này cũng có sự biến tấu để trở thành ngôn ngữ mang hình thái văn học dành riêng cho Phật giáo, đồng thời không sai lệch với lời dạy của Phật. Đó là nét đặc thù làm nên giá trị riêng của văn học Sanskrit nói chung và văn học Sanskrit Phật giáo nói riêng.

Như vậy, cả hai ngôn ngữ ghi lại lời dạy của Đức Phật đều được hình thành khá xa niên đại của Thế Tôn, vậy Thế Tôn đã dùng ngôn ngữ nào để hóa độ chúng sanh. Theo trong kinh số 139 thuộc Trung Bộ Kinh, Đức Phật dạy các thầy Tỳ-kheo về bảy pháp Vô Tránh, trong đó pháp thứ bảy Đức Phật nhấn mạnh “chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng9”. Thế Tôn giải thích ở mỗi vùng, mỗi quốc độ sẽ có những hình thức ngôn ngữ riêng. Nếu nơi nào gọi Pāti (cái dĩa) bằng patta, vitha, serāva… thì chúng ta cũng tùy thuận theo cách gọi của địa phương đó mà giải thích, không nên chấp chặt vào ngôn ngữ của chính mình và cho đó mới là cách gọi đúng đắn. Có như vậy thì mới không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng. Đó cũng là lý do Đức Phật không có ngôn ngữ riêng để thuyết pháp và điều này được thầy Cao Hữu Đính nhận định thông qua các Luận tạng rằng: “Phật giảng dạy các Thánh đế bằng ngôn ngữ thông dụng của từng địa phương. Với tín đồ Vương Xá Ngài nói tiếng Ma-kiệt-đà. Với tín đồ Xá Vệ, Ngài nói tiếng Kiều-tát-la… Các thứ tiếng này được xem như những chủng loại sai khác của Thánh ngữ10”.

Đức Thế Tôn không dùng một hình thức ngôn ngữ nào cố định để thuyết giảng giáo pháp và đó cũng là một trong những điều mà Đức Thế Tôn khuyên dạy các thầy Tỳ-Kheo như một phương tiện truyền tải Chánh pháp nhằm tránh đi những bất cập trong việc lãnh hội ý nghĩa giáo pháp. Đó cũng là một trong những điều kiện cần của một vị Tỳ-kheo nhằm đi đến sự hiểu biết và khéo nắm giữ các thiện pháp mà Tôn giả Ānanda đã trình bày trước Tôn giả Sāriputta như sau: “Có Tỷ-kheo thiện xảo về ý nghĩa, thiện xảo về pháp, thiện xảo về văn cú, thiện xảo về địa phương ngữ, thiện xảo về liên hệ trước sau. Cho đến như vậy, thưa Hiền giả Sāriputta, Tỳ-kheo mau chóng đi đến hiểu biết đối với các thiện pháp, sự nắm giữ của vị ấy là sự nắm giữ nhiều và không quên điều đã nắm giữ11”.
Như vậy, vấn đề ngôn ngữ mà Đức Phật dùng để thuyết pháp đó là hình thức địa phương ngữ, không có cái gọi là Thánh ngữ riêng biệt của Đức Thế Tôn và sự thông hiểu ngôn ngữ từng địa phương cũng là một điều kiện cần thiết nhằm đem lại lợi ích, an lạc cho cho chư Thiên và nhân loại, vì lòng thương xót cho nhân loại trong hành trình hóa đạo của các vị Tỳ-kheo.

Những gì Đức Thế Tôn nói ra là chân lý, ngôn ngữ được Đức Phật sử dụng là Thánh ngữ. Thánh ngữ không phải là một dạng ngôn ngữ nào đó cao quý và siêu việt vượt qua ngoài tầm hiểu biết của con người. Đơn giản Thánh ngữ là lời nói của bậc Thánh, bậc Giác Ngộ. Từ những gì đã được tìm thấy trong Kinh và Luật, Đức Phật đã bình dân hóa trong cách sử dụng ngôn ngữ nhằm tạo thuận lợi cho thính chúng nắm được ý nghĩa của Chánh pháp đi đến sự thực hành đạt hiệu quả. Mục đích của Ngài là giúp chúng sanh thoát khổ thì không có lý do gì Ngài cản trở sự thấu hiểu của họ chỉ vì hình thức của ngôn từ. Sự xuất hiện của Pāli, Sanskrit hay một loại hình ngôn ngữ nào đi chăng nữa thì đó cũng là những hình thức địa phương hóa ngôn ngữ nhằm chuyển tải giá trị chân lý giác ngộ của Thế Tôn và những ngôn ngữ ấy xứng đáng được gọi là ngôn ngữ của Đức Phật và theo cách gọi cao quý là Thánh ngữ.

Dung Từ


  1. Luật tạng Pāli, Tiểu phẩm tập 2, tr.71.
  2. Sđd, tr.72.
  3. Trích lời giảng của TT. Thích Chơn Minh, Trưởng khoa Lịch sử Phật giáo, môn Văn học Sanskrit năm 2010.
  4. Thích Tâm Minh (2006), “Khảo cứu về văn học Pāli”, Nxb Phương Đông, tr.93-94.
  5. Sđd, tr.87.
  6. PGS. TS. Doãn Chính (2017), “Veda Upanishad – những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ”, Nxb Chính trị Quốc gia Sự Thất, tr.16-17.
  7. Tham khảo: Tài liệu môn học “Lịch sử văn học Sanskrit” của TT. Thích Chơn Minh, Trưởng khoa Lịch sử Phật giáo.
  8. Tham khảo tài liệu môn học “Văn học Sanskrit” của TT. Thích Chơn Minh, Trưởng khoa Lịch sử Phật giáo tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM.
  9. HT. Thích Minh Châu (2018) , “Kinh Trung Bộ”, tập II, số 139. Kinh Vô tránh phân biệt, Nxb Tôn giáo, tr.571.
  10. Cao Hữu Đính(1996), “Văn sử học Phật giáo”, Nxb Thuận Hóa, tr.36.
  11. HT. Thích Minh Châu (2018), “Kinh Tăng Chi bộ”, tập I, chương Năm pháp, Phẩm Hiềm Hận, Nxb Tôn giáo, tr.783-784.


    Tài liệu tham khảo
    1. Tỳ-kheo Indacanda, “Luật Tạng Pāli – Tiểu Phẩm”, tập 2, Nxb Tôn giáo.
    2. HT. Thích Minh Châu (2017), “Kinh Trung Bộ” tập II, Nxb Tôn giáo.
    3. HT. Thích Minh Châu (2018), “Kinh Tăng Chi bộ”, tập I, chương Năm pháp, Phẩm Hiềm Hận, Nxb Tôn giáo.
    4. Thích Kiên Định (2018), “Lược sử văn học Sanskrit và Hán tạng Phật giáo”, Nxb Thuận hóa.
    5. PGS.TS. Doãn Chính chủ biên (2017), “Veda Upanishad – những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ” Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật.
    6. Cao Hữu Đính (1996), “Văn sử học Phật giáo”, Nxb Thuận Hóa.
    7. Thích Tâm Minh (2006), “Khảo cứu về văn học Pāli”, Nxb Phương Đông.
    8. Tài liệu môn học “Văn học Sanskrit” của TT. Thích Chơn Minh (2020), Trưởng khoa Lịch sử Phật giáo.

TIN KHÁC
TIN LIÊN QUAN