Nghĩ về Phật giáo Theravāda ở Việt Nam

10

  Hệ phái Phật giáo Theravāda Việt Nam (Nam tông Kinh/ Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam) là một trong các hệ phái Phật giáo tiêu biểu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Bắc tông, Nam tông Kinh (Theravāda), Nam tông Khmer, Đạo Phật Khất sĩ…

Phật giáo Theravāda (Nam tông Kinh) do ngài Hộ Tông truyền vào Nam bộ Việt Nam từ năm 1938 tại Tổ đình Bửu Quang. Từ đó đến nay, hệ phái Phật giáo này âm thầm liên tục phát triển, dù không lớn mạnh như Phật giáo Bắc tông, Đạo Phật Khất sĩ.
Trên cơ sở lịch sử truyền thừa và phát triển của hệ phái, bài viết này sẽ nêu lên một số suy nghĩ mang tính chủ quan của người viết về hệ phái Phật giáo này, trong mối tương quan với các hệ phái Phật giáo khác ở Việt Nam hiện nay.

1. Đạo Bụt (Đạo Phật) vốn chủ trương nhất thừa pháp (Phật thừa), bất nhị Pháp môn, không phân chia Nam Bắc, không biện biệt đối đãi, nhưng từ sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt khoảng một trăm năm, sau lần thứ hai kết tập kinh điển thì Đạo Phật mới có sự phân chia các bộ phái. Sau lần thứ ba kết tập kinh điển khoảng thế kỷ thứ III TCN dưới vương triều của Asoka đại đế (A Dục Vương 阿育王, trị vì 273-232 TCN), thì từ đây Đạo Phật mới bắt đầu từ Ấn Độ truyền bá ra quốc tế thông qua chín phái đoàn truyền giáo do nhà vua tuyển chọn cử đi theo hai hướng: Đường biển phía Nam (Phật giáo Nam truyền) và đường bộ phía Bắc (Phật giáo Bắc truyền).

Khái niệm “Phật giáo Theravāda Việt Nam” hay “Phật giáo Nguyên thủy ở Việt Nam” còn gọi là “Nam tông Kinh”, “Phật giáo Nam truyền” được chúng tôi dùng trong bài viết này là để chỉ cho một hệ phái của Phật giáo, nằm trong ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Khái niệm Theravāda (Sanskrit: Sthaviravada), về cội nguồn, có nghĩa đen là Thượng tọa thuyết bộ, hay Thượng tọa bộ, tức Phật giáo của các vị Trưởng lão, một trường phái Phật giáo có hệ thống triết học (dhamma) và đạo đức (vinaya) được chép bằng văn hệ Pāli (Nam Phạn), có trước (trong 200 năm từ khi đức Phật Niết-bàn) và làm nền tảng phát triển cho các trường phái Phật giáo về sau, bao gồm trường phái Đại chúng bộ (Mahasanghika) và Phật giáo Đại thừa (Mahayana)1 vốn dựa vào văn hệ Sanskrit (Bắc Phạn).

Nếu xét theo truyền thống và theo địa dư thì Phật giáo Nguyên thủy còn được gọi là Phật giáo Nam tông hay Phật giáo Nam truyền, tức một hệ/trường phái Phật giáo phát triển theo hướng miền Nam nước Ấn Độ, bằng đường biển, du nhập và phát triển tại Tích Lan (Sri Lanka), Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam. Trong khi đó Phật giáo Đại thừa phát triển theo hướng miền Bắc Ấn Độ, phát triển mạnh tại Nepal, Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Tây Tạng, Mông Cổ v.v..

Xét về bản chất, nếu gọi Thượng tọa bộ là “Phật giáo Tiểu thừa, đối lập hoặc bị xem là thấp hơn Phật giáo Đại thừa” (theo cách lý giải trước đây của một số nhà Phật học Trung Quốc) thì đây là một cách gọi sai lầm mang tính lịch sử, tối thiểu là một khái niệm mang tính phân biệt đối xử, có khả năng sẽ gây phân hóa và chia rẽ nội bộ Phật giáo.

Do vậy, Phật giáo Nguyên thủy được sử dụng trong bài viết này cần được hiểu là “đạo Bụt nguyên chất” chứa đựng các lời dạy về chân lý và đạo đức sớm nhất của Đức Phật, nói theo cách dùng từ của Thiền sư Nhất Hạnh2.

Cũng cần lưu ý là hệ phái Phật giáo Nam truyền (hệ phái Phật giáo Theravāda) hiện nay đang hoạt động và phát triển ở các nước Đông Nam Á, trong có Việt Nam là hệ phái Phật giáo được truyền thừa từ Sri Lanka, sau khi Phật giáo ở Sri Lanka được phục hoạt, chứ không phải là từ thời đại đế Asoka vào thế kỷ thứ III TCN.

Tóm lại là, truyền thống nhà Phật chủ trương không phân biệt đối đãi, nên dù danh xưng là Phật giáo Nam truyền/ Nam tông hay Phật giáo Bắc truyền/ Bắc tông, Phật giáo Nguyên thuỷ hay Phật giáo Đại thừa thì cuối cùng vẫn ở trong một ngôi nhà chung: Phật giáo, mà cứu cánh của nhà Phật là đem lại an lạc tự tại, Niết-bàn cho tất cả mọi người ngay bây giờ và lúc này (đang là) trong cuộc sống hiện tại. Đó là một đạo Phật nhất thừa pháp, đạo Phật nhất tông. Đó là Phật thừa, như lời Đức Thế Tôn đã từng dạy: “Đại dương mênh mông chỉ có một vị mặn. Đạo của Ta chỉ có một vị: Vị giải thoát”.

2. Về quá trình truyền thừa và phát triển Phật giáo Nguyên thủy ở Việt Nam, có thể nói, lúc mới du nhập, nếu ở thời kỳ đầu, đạo Phật theo đường biển truyền vào nước ta từ rất sớm, có khả năng từ một trong chín phái đoàn truyền giáo do vị hộ pháp vương Asoka cử đi vào thế kỷ thứ III TCN, mà chứng tích là thành Nê Lê ở Đồ Sơn. Từ đó, mạng mạch đạo Phật Nguyên thủy ở Việt Nam tiếp tục ngầm chảy song song với sự phát triển của đạo Phật Đại thừa, mà pháp tu hạnh đầu đà cùng cách quấn ca sa của Phật hoàng Trần Nhân Tông đã được sử liệu ghi chép và kiến trúc thể hiện phải chăng là âm hưởng của hệ phái Phật giáo Nguyên thủy (Theravãda) còn vang vọng lại?

Còn về sau, với tư cách là một trong các hệ phái nằm trong ngôi nhà chung của Phật giáo Việt Nam thì hệ phái Phật giáo Nguyên thủy (Theravãda) Việt Nam được ngài Hộ Tông từ Campuchia đưa về Nam bộ vào năm 1938, mà cơ sở truyền giáo đầu tiên của hệ phái là chùa Bửu Quang, nay thuộc phường Liên Chiểu, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây hiện là Tổ đình của hệ phái này. Sau đó, hệ phái còn xây dựng thêm một Tổ đình thứ hai ở quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh: Bửu Long thiền viện do Hòa thượng Viên Minh làm Viện chủ. Những điểm đặc sắc ở Tổ đình thứ hai này là xây dựng theo truyền thống kiến trúc chùa tháp ở Ấn Độ và Thái Lan; chùa không thắp hương, dù vẫn để lư hương tại các bàn thờ Phật; và ngôi bảo tháp có thờ xá lợi Phật cùng xá lợi Chư vị Thánh Tổ.

Từ đó đến nay trải qua 80 năm, Phật giáo Theravāda Việt Nam vẫn liên tục âm thầm phát triển, dù tiến trình không nhanh và lớn mạnh như Hệ phái Phật giáo Bắc truyền hay Hệ phái Đạo Phật Khất sĩ. Vấn đề này, chúng tôi sẽ trao đổi thêm ở mục tiếp theo khi trình bày về những nét đặc trưng cùng vài suy nghĩ về hệ phái Phật giáo này ở Việt Nam.

Có thể thấy, nếu cuối những năm 30 cho đến trong chín năm kháng chiến chống Pháp, Phật giáo Theravāda Việt Nam chỉ được truyền thừa ở các tỉnh thuộc khu vực miền Đông Nam bộ, rồi đến Tây Nam bộ, thì từ sau năm 1954, nhất là từ năm 1960 trở đi, hệ phái này đã truyền thừa đến các tỉnh miền Trung, rồi từ sau 1981 thì truyền thừa đến các tỉnh phía Bắc.
Phật giáo Việt Nam vốn là một đạo Phật nhập thế, hộ quốc an dân, luôn đồng hành cùng dân tộc, thì hệ phái Phật giáo Theravāda Việt Nam cũng vậy, nghĩa là cũng nằm trong mạng mạch phát triển chung của Phật giáo Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, trong pháp nạn 1963 với phong trào đấu tranh của Phật giáo chống chế độ độc tài gia đình của họ Ngô, hệ phái này luôn kề vai sát cánh với các hệ phái khác của Phật giáo Việt Nam trong phong trào đấu tranh chung. Sau pháp nạn 1963, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất được thành lập (1964), thì hệ phái Phật giáo Theravāda Việt Nam là một trong những thành viên sáng lập Giáo hội. Sau ngày miền Nam được giải phóng, năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tái thành lập, thống nhất Phật giáo cả ba miền, thì hệ phái Phật giáo Theravāda Việt Nam cũng là một trong chín hệ phái góp phần vào đại sự này.

Đặc biệt, sau khi đất nước bạn Campuchia được giải phóng thoát khỏi nạn diệt chủng của Pôn Pốt Iêng Sary vào đầu năm 1979, theo lời thỉnh cầu và nguyện vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Campuchia về việc phục hưng và phục hoạt Phật giáo nước này, thì nhà nước Việt Nam và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã cử một giáo đoàn Phật giáo Theravāda Việt Nam do Hòa thượng Bửu Chơn làm Trưởng đoàn để sang Campuchia truyền giới, giúp cho Phật giáo Theravāda Campuchia được phục hồi. Ngài Sãi vương Tépvông đang lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Campuchia hiện nay, là một trong những vị Sư được tái truyền giới trong dịp này.

3. Nghĩ về những đặc thù của hệ phái Theravāda nói chung, Phật giáo Theravāda Việt Nam (Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Nam tông Kinh), nếu so với hệ phái Phật giáo Bắc truyền và hệ phái Đạo Phật Khất sĩ, có thể thấy:

– Về cách bài trí thờ tự nơi Chánh điện-một không gian thiêng liêng và quan trọng nhất tại các Thiền viện, Tự viện, Tịnh xá, thì nếu nơi Chánh điện của các chùa thuộc hệ thống Phật giáo Bắc truyền thường thờ các tượng Tam thế Phật (Di Đà, Thích Ca, Di Lặc); thờ Di Đà tam tôn (Di Đà, Quan Âm, Thế Chí), và còn thờ các vị: Địa Tạng, Hộ Pháp, Tiêu Diện đại sĩ (Diện Nhiên Vương Bồ tát), v.v… Ở Tịnh xá của Hệ phái Khất sĩ thì thờ Thích Ca, bên ngoài thì có đài Quan Âm; ở phía sau chánh điện, có bài trí nơi để bài vị nam nữ Phật tử đã tạ thế thì thờ Địa Tạng… Trong khi đó, tại các chùa của Hệ phái Phật giáo Theravāda chỉ thờ duy nhất tượng Đức Thế Tôn (Phật Thích Ca Như Lai) với các tượng Phật đản sinh, Phật tọa thiền, Phật giảng pháp, Phật nhập Niết-bàn.


– Về nghi lễ, nếu hệ phái Phật giáo Bắc truyền tụng kinh theo văn bản phiên âm từ Hán tạng, gần đây ít nhiều đã có Việt dịch (bản Việt tạng); và hệ phái Khất sĩ thường tụng kinh theo bản Việt dịch bằng văn vần, thì hệ phái Phật giáo Theravāda Việt Nam lại tụng kinh bằng tiếng Pāli là chủ yếu, bên cạnh còn có các bài kệ tụng, cầu nguyện bằng tiếng Việt, và thường là văn vần.

Trong hành trì nghi lễ, nếu Hệ phái Phật giáo Bắc truyền thường dùng chuông mõ, trống kèn, khánh, tang nhịp để phụ họa theo lời tán, lời xướng; và Hệ phái Khất sĩ chỉ dùng chuông khánh, thì Hệ phái Phật giáo Theravāda Việt Nam cũng chỉ dùng khánh chuông để phụ họa theo lời đọc tụng, tán xướng. Hệ phái này tuyệt đối không có nghi lễ cúng sao giải hạn, cũng không đốt vàng mã. Điều này có khác biệt với các chùa thuộc Hệ phái Phật giáo Bắc truyền.

– Về người xuất gia, nếu ở Hệ phái Phật giáo Bắc truyền và đạo Phật khất sĩ, nữ giới được phép xuất gia, thọ đại giới làm Tỳ kheo ni. Ni đoàn này chính là Phân ban Ni giới trực thuộc Ban Tăng sự. Trong khi đó, Hệ phái Phật giáo Theravāda nói chung chỉ có Nữ tu, chứ không cho phép nữ giới thọ đại giới làm Tỳ-kheo Ni. Chính điều này đã tạo nên bất bình đẳng về giới giữa các Hệ phái Phật giáo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hiện tượng trên hoàn toàn khác và trái với hồi Đức Thế Tôn còn tại thế với hai bộ phận Tăng đoàn và Ni đoàn, và dĩ nhiên là bên Ni đoàn nhất thiết phải tuân thủ theo Bát Kỉnh Pháp do Đức Thế Tôn đã y cứ vào thực tế sinh hoạt của Giáo hội mà chế định ra. Do sự bất bình đẳng đó mà hơn vài mươi năm trở lại đây, ở Sri Lanka, Giáo hội Phật giáo có cải cách và cải tổ, có một bộ phận cho phép Nữ tu được thọ giới Tỳ-kheo Ni, y như thời Đức Thế Tôn còn tại thế. Riêng hệ phái Phật giáo Theravāda Việt Nam dù nhiều lần chư vị Trưởng lão của Hệ phái đề nghị nhưng không được chư Tôn đức lãnh đạo Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đồng thuận. Dù vậy, hiện tại trong hệ phái này tại nước ta, thực tế là đã có khoảng hơn 10 vị Nữ tu đã sang tận Sri Lanka du học và đã thọ Tỳ-kheo Ni giới tại đó. Các vị này hiện đã về nước hoạt động, phụng sự và xiển dương Phật pháp, mà Ni sư Tiến sĩ Tỳ-kheo Ni Liễu Pháp, Viện chủ Viên Không Ni viện ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là tấm gương tiêu biểu.

Phật giáo Theravāda Thái Lan cũng vậy, dù không được Giáo hội Phật giáo nước này thừa nhận, nhưng hiện đã có vài trăm vị Nữ tu nước này đã sang tận Sri Lanka du học và đã thọ Tỳ-kheo Ni giới, rồi về nước, hiện đang hành đạo tại đây. Trong khi đó thì ở Lào và Campuchia, được biết, Giáo hội Phật giáo của hai nước này hoàn toàn không có Nữ tu (nữ xuất gia).

– Về ẩm thực, nếu Hệ phái Phật giáo Bắc truyền thường dùng ba thời: Sáng, trưa (ngọ thực), chiều và thường là ăn trường trai (ăn chay trường), có một số chùa ở phía Bắc chỉ ăn trai kỳ; còn ở Hệ phái Khất sĩ chỉ ăn ngày một buổi, dùng ngọ thực (thọ trai trước 12 giờ trưa) và ăn trường trai; trong khi đó thì Hệ phái Phật giáo Theravāda các nước Phật giáo Nam truyền cũng chỉ ăn ngày một bữa, dùng ngọ thực, thức ăn chay và mặn đều dùng được, ngay cả vào các ngày rằm hay mùng một cũng vậy, nhưng phải tránh tam tịnh nhục và về sau là tránh ngũ tịnh nhục. Về mặt tâm lý, thì đây là một trong những lý do ít nhiều làm cản trở quá trình hoằng hóa và phát triển của Hệ phái này.

Chuyện ẩm thực này, theo tôi dù là theo truyền thống từ thời Đức Thế Tôn còn tại thế, lúc ấy các vị du Tăng khất thực giáo hóa, bá tánh dâng tặng hiến cúng thức ăn gì thì về dùng thức ấy, không phân biệt chay mặn. Nhưng ngày nay với xã hội hiện đại có khác, đã có nhiều đổi thay, mà giáo lý nhà Phật là giáo lý khế cơ, khế lý, khế thời, khế xứ, nên thiết nghĩ chư Tôn Giáo phẩm của Hệ phái cần linh hoạt, và khuyến khích hai giới xuất gia và tại gia của Hệ phái nên ăn chay. Bởi sự ăn chay tịnh rất có lợi cho sức khỏe, dễ định tâm hơn so với việc ăn thịt cá với các chất kích thích khác, dễ làm cho tâm loạn động. Tôi được biết, tại một Thiền viện bên nước Myanmar, một nước theo Phật giáo Theravāda, nơi đó có hàng ngàn Tăng sinh đang theo học, vị Hòa thượng Viện chủ đã bắt buộc tất cả phải ăn trai trường. Ngài đã nêu lên một chân lý rất giản đơn rằng, nếu theo truyền thống cũ, ngọ thực mà không phân biệt chay mặn, thì Phật tử sẽ hiến cúng thịt cá hàng ngày cho Thiền viện với một số lượng thực phẩm không nhỏ, và do vậy, vô tình khuyến khích Phật tử sát sinh để có thịt cá dâng cúng cho chư Tăng; vô tình khuyến khích Phật tử tạo ác nghiệp. Thiết nghĩ, chư Tôn đức bên Hệ phái này nên suy ngẫm về phát ngôn của ngài Viện chủ Thiền viện lớn nhất ở đất nước Myanmar.

4. Tại Hội thảo khoa học Phật giáo Nguyên thuỷ từ truyền thống đến hiện đại do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn-Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 18 tháng 01 năm 2014, trong Báo cáo tổng kết Hội thảo, tôi đã nêu lên năm vấn đề để các học giả và các nhà nghiên cứu tiếp tục suy nghĩ, đó là:

Một là, thuật ngữ ‘Phật giáo Theravāda’ hay ‘Phật giáo Nam truyền’, ‘Phật giáo Nam tông’ đã phản ánh và chính xác nguồn gốc lịch sử và bản chất của Phật giáo Nguyên thuỷ. Vấn đề này Đại hội Phật giáo thế giới tổ chức tại Tích Lan vào năm 1951 cũng đã khuyến cáo các nhà Phật học, các nhà nghiên cứu nên sử dụng thống nhất thuật ngữ “Phật giáo Theravāda” trong mối quan hệ với các hệ phái, tông phái Phật giáo Đại thừa (Mahayana). Hiện nay, các nhà nghiên cứu vẫn còn sử dụng thuật ngữ ‘Phật giáo Tiểu thừa’ (Hymayana) trong một số tài liệu văn bản, mà việc dùng thuật ngữ này là thiếu căn cứ khoa học, còn phân biệt đối đãi, dễ gây ngộ nhận. Vì thế, từ Hội thảo khoa học này trở đi, đề nghị các học giả, các nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ “Phật giáo Theravāda” hay “Phật giáo Nguyên thuỷ” không chỉ trong lĩnh vực học thuật mà còn cần phổ biến thuật ngữ này trong đời sống tôn giáo nói chung.

Hai là, bên cạnh kinh tạng Sankrit, thì Tam tạng kinh điển Pāli, gồm Luật tạng, Kinh tạng và Luận tạng đã được chư Tôn giáo phẩm Phật giáo Việt Nam phiên dịch sang Việt ngữ là nguồn tài liệu kinh điển Nguyên thủy quý giá, đáng để nghiên cứu và khai khác ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhằm tô điểm cho văn hóa, đạo đức Việt Nam thêm phong phú, đa dạng.
Ba là, Thiền Tứ niệm xứ hay còn gọi là Thiền quán có giá trị văn hóa tâm linh rất cao, có khả năng thư giãn, thông cảm, hỷ xả cao. Chúng ta nên tiếp tục nghiên cứu nghiêm túc, đánh giá đúng vai trò và khả năng ứng dụng Thiền quán trong đời sống nhằm phát huy trí tuệ, sức khỏe trong thời đại hiện nay.

Bốn là, hầu hết dân tộc ở các quốc gia Đông Nam Á lục địa là những dân tộc theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy Nam truyền. Đây là những nét văn hóa tương đồng, là cơ sở văn hóa tinh thần của khối Asean. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, so sánh sâu hơn Phật giáo Nguyên thuỷ Nam truyền ở những quốc gia này, nhằm góp phần kết nối hội nhập sâu hơn trong khối Asean.

Năm là, riêng với Phật giáo Theravāda Việt Nam, các nhà Phật học và các nhà nghiên cứu cần quan tâm tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp hoằng dương, truyền bá Phật giáo Nguyên thuỷ Nam truyền của Hòa thượng Hộ Tông, người đã đem Phật giáo Nguyên thuỷ Nam truyền vào Việt Nam năm 1938 và thành lập hệ phái này trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đặc biệt là cuộc đời và sự nghiệp hoằng dương Phật pháp của Hòa thượng Bửu Chơn với vai trò và tư cách Trưởng đoàn truyền giáo Việt Nam sang Campuchia trong sự nghiệp phục hưng Phật giáo Nguyên thuỷ Nam truyền ở đất nước này sau nạn diệt chủng năm 1979. Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên tán dương công đức của hai vị cố Hòa thượng này để Phật giáo hôm nay và mai sau noi gương.

5. Trên đây chỉ là vài ý kiến với những suy nghĩ bước đầu, mang tính chủ quan của người viết về một Hệ phái Phật giáo đang tồn tại và phát triển thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hệ phái Phật giáo này có quan hệ mật thiết với Giáo hội Phật giáo các nước Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia,.. và cả Hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer ở miền Tây Nam bộ Việt Nam, với những nét chung của Phật giáo Theravāda (Phật giáo Nguyên thủy), bên cạnh, Hệ phái này còn có những nét đặc thù riêng mà chỉ Hệ phái Phật giáo Theravāda Việt Nam mới có.

Cùng với Phật giáo Việt Nam, Hệ phái Phật giáo Theravāda Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc, với những hoạt động cụ thể và thiết thực, góp phần vào công cuộc an sinh xã hội hiện nay.

PGS. TS. NGUYỄN CÔNG LÝ -ThS. NGUYỄN CÔNG THANH DUNG
(Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG HCM)


  1. Tại Ấn Độ, vào thế kỷ thứ VIII, Kim cang thừa (Vajrayana, the Diamond Vehicle), một trường phái Đại thừa tách ra và trở thành trường phái thứ ba của Phật giáo, bên cạnh Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa, nhấn mạnh các nghi thức huyền bí và mật chú, phát triển mạnh ở Tây Tạng, Mông Cổ và các nước chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Tây Tạng.

Thích Nhất Hạnh, Đạo Bụt nguyên chất. Đạo tràng Mai Thôn, Cộng hòa Pháp, 2011.



Tài liệu tham khảo
1. Thích Đồng Bổn (1996), Tiểu sử danh Tăng Việt Nam, 2 tập, Nxb Tôn giáo.
2. Trương Văn Chung, Nguyễn Công Lý, Thích Nhật Từ, Thích Bửu Chánh, Thích Thiện Minh (đồng chủ biên 2014), Phật giáo Nguyên thuỷ từ truyền thống đến hiện đại, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
3. Thích Giới Đức (2011), Thắp lửa tâm linh, Nxb Thời đại.
4. Thích Thiện Hoa (1970), 50 năm chấn hưng Phật giáo, Tập I, Viện Hóa đạo xuất bản, Sài Gòn.
5. Nguyễn Ngọc Hùng (2017), Phật giáo Nam tông Kinh ở Việt Nam (1938-1963), Luận văn Thạc sĩ Sử học, Trường Đại học Sư phạm-Đại học Huế, 2015, Nxb Đông Phương.
6. Nguyễn Lang (tái bản 2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, trọn bộ 3 tập, Nxb Văn học.
7. Trần Hồng Liên (2000), Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ-Việt Nam, Nxb KHXH.
8. Thích Thiện Minh (1987), Lịch sử Phật giáo Nam tông Việt Nam, Hệ phái Theravāda ấn hành.