Nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ qua các trụ đá Asoka

213

 Ấn Độ là một trong những nền văn minh lâu đời nhất của nhân loại, khởi nguồn từ thời kỳ Văn hóa Harappa (văn minh Ấn – Hà) vào khoảng năm 3300 – 1700 TCN, tại vùng Tây Bắc tiểu lục địa Ấn. Với lịch sử tồn tại trên 5000 năm cùng nhiều thành tựu văn hóa rực rỡ, Ấn Độ là quốc gia có nhiều tôn giáo, trong đó chi phối nhiều nhất là Phật giáo (Buddhism) và Ấn Độ giáo (Hinduism). Đây là cơ sở cho sự phát triển nền nghệ thuật Ấn Độ trên nhiều phương diện, nhất là lĩnh vực kiến trúc, điêu khắc và hội họa. Nghệ thuật Phật giáo tại Ấn Độ được hình thành sau khi bậc Đạo sư khai sáng Thích-ca Mâu-ni (Śākyamuni) nhập diệt. Đến thời kỳ Maurya với sự xuất hiện của Asoka, vị minh quân với lòng nhiệt thành hộ trì Chánh pháp và là người đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của nền nghệ thuật Phật giáo.

Bản đồ triều đại Maurya.

1. Khái quát nghệ thuật Phật giáo

Nghệ thuật là sự sáng tạo ra sản phẩm vật thể hay phi vật thể, hàm chứa những thông điệp, biểu tượng và giá trị tư tưởng sâu sắc, làm kích thích đến tư duy và cảm xúc của người thưởng thức thông qua các giác quan. Nghệ thuật nhân loại được hình thành từ khi loài người xuất hiện, đó là một bề dài lịch sử lâu đời, đa dạng và mỗi truyền thống đều mang những phong cách và sắc thái riêng biệt tùy vào bối cảnh lịch sử, văn hóa, tôn giáo tại khu vực của xứ sở ấy. Trên cơ sở đó, sự xuất hiện của nghệ thuật tôn giáo nhằm mục đích truyền bá, giải thích tư tưởng giáo lý và tôn vinh niềm tin trong tôn giáo. Nghệ thuật Phật giáo cũng được hình thành sau sự ra đời của Đạo Phật. Đó là sự phản ánh các khái niệm trong Phật giáo dưới những hình thức nghệ thuật khác nhau, nhất là các lĩnh vực kiến trúc, điêu khắc, hội họa có liên quan đến Tam bảo. Khởi thủy từ tiểu lục địa Ấn Độ cách đây hơn 2500 năm sau khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni (Śākyamuni) nhập Niết-bàn (563 – 483 TCN), từ đó phát triển thành một hệ thống đồ tượng biểu trưng đa dạng và phức tạp.
Nền nghệ thuật Phật giáo được chia làm hai thời kỳ chính: “Phi Thánh tượng” (thời kỳ tối sơ) và “Thánh tượng”. Ở thời kỳ “Phi Thánh tượng” (khoảng thế kỷ thứ V TCN – I), hình tượng Đức Phật chưa được thể hiện dưới dạng hình người mà chỉ là những biểu tượng đặc trưng. Giai đoạn hưng hịnh của nền nghệ thuật Phật giáo đầu tiên là vào thời đại của vương triều Maurya (Khổng-tước) với sự trị vì của hoàng đế Asoka (263 – 232 TCN), vị vua Phật tử nổi tiếng đã có công rất lớn trong việc truyền bá Phật giáo tại Ấn Độ và phổ biến ra khắp thế giới. Đến thời kỳ “Thánh tượng” (từ thế kỷ thứ I đến nay), hình tượng Phật đầu tiên xuất hiện vào khoảng thế kỷ I tại Gandhāra và Mathurā. Từ đó, nghệ thuật Phật giáo đã lan rộng đến Trung Á, Nam Á, Đông Nam Á cùng với sự “tiếp biến” với các nền văn hóa khác nhau mà trở nên phong phú, đa dạng, tinh tế và phức tạp.

2. Maurya, nền mỹ thuật Phật giáo đầu tiên

Maurya (322 – 185 TCN) là một đế chế hùng mạnh với một lãnh thổ rộng lớn trên lục địa Ấn Độ vào thời cổ đại1. Kinh đô được đặt tại Pataliputra (Hoa-thị Thành) của xứ Magadha (Ma-kiệt-đà), vị vua khai sáng là Chandragupta Maurya (324 – 301 TCN) người đã lật đổ vương triều Nanda (242 – 321 TCN) và đánh tan đế quốc Seleucid của người Macedonia. Người con trai của ông là Bindusāra (301 – 273 TCN) đã mở rộng đế quốc xuống phía Nam và đến tận khu vực Mysore. Vị kế tục đế chế sau cùng là Asoka (273 – 232 TCN), vị vua nổi tiếng nhất với những đóng góp to lớn cho đất nước Ấn Độ nói chung và Phật giáo nói riêng. Triều đại Maurya là thời kỳ mở đầu cho nền mỹ thuật Phật giáo mang đặc điểm của ba phong cách chính: Phong cách trang trọng cung đình, phong cách rừng núi bản địa và phong cách điêu khắc nổi bật và tinh xảo (sản phẩm đô thị kết hợp với phong cách cung đình và thờ cúng)2.

3. Asoka, người mở đầu cho nền nghệ thuật Phật giáo

Asoka (273 – 232 TCN) là hoàng đế thứ ba của triều đại Maurya sau ông nội và cha của ông là Chandragupta Maurya và Bindusāra. Ông được xem là vị vua vĩ đại nhất Ấn Độ, hoàng đế đầu tiên cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn nhất từ trước đến nay. Cuộc đời và sự nghiệp của ông mang đậm những dấu ấn đặc biệt khiến tên tuổi trở thành huyền thoại và đi vào lịch sử. Từ những hành vi khét tiếng tàn bạo (Caṇḍāśoka) trong quá khứ cho đến khi quy ngưỡng Phật giáo, trở thành một vị Phật tử (Dharmāśoka) thuần thành hết lòng vì đất nước và đạo Pháp.

Hoàng đế Asoka rất tích cực, nhiệt thành ủng hộ Chánh pháp và đưa đạo Phật trở thành “Quốc giáo”. Một trong những đóng góp lớn của ông là bảo trợ cuộc “Đại hội kết tập Kinh điển lần thứ 3” với chủ tọa hội nghị là trưởng lão Moggaliputta Tissa (Mục-kiền-liên Tử-đế-tu) và sự ra đời của bộ Kathāvathu (Luận sự) rất nổi tiếng, góp phần quan trọng trong việc chấn chỉnh và phát triển Phật giáo. Không những làm hưng thịnh đạo Phật tại Ấn Độ, Asoka còn mang giáo Pháp vượt ra khỏi biên cương đến những quốc gia tại châu Á bằng các phái đoàn truyền giáo (chín phái đoàn Phật giáo). Nổi bật trong đó là hai người con của ông, Mahindra qua Sri Lanka truyền bá và đặt nền móng cho truyền thống Phật giáo Nam truyền (Theravāda) tại quốc đảo này. Saṅghamitrā là tu sĩ đầu tiên truyền giới Tỳ-kheo-ni sang Sri Lanka và đem cây Bồ-đề con được chiết ra từ cây Bồ-đề tại Bodhgaya (Bồ-đề Đạo-tràng) sang trồng tại đây. Ni giới tại Trung Hoa, Miến Điện, Thái Lan được truyền giới đúng Pháp cũng được bắt nguồn từ quốc gia này3.

Nền nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ vĩ đại và hoành tráng được khởi đầu từ thời đại Asoka trị vì, điển hình là những sắc lệnh được khắc vào đá, các hang động, các trụ đá với sự hòa điệu của kiến trúc điêu khắc Phật giáo và yếu lý Kinh Veda (Vệ-đà). Đặc biệt, các đầu trụ đá là những di vật còn sót lại cung cấp cho chúng ta về kiểu mẫu của mỹ thuật thời kỳ Maurya. Nghệ thuật điêu khắc bằng đá đã rất thịnh hành, trở thành phương tiện tuyệt hảo và mang dấu ấn bản xứ của người Ấn Độ. Kiến trúc các trụ đá hay những “chiếc cột vũ trụ, trục thế giới” (Axis Mundi) được xem là đỉnh cao của truyền thống tôn giáo tiền Phật giáo4 và nghệ thuật Phật giáo thời kỳ đầu tiên.

4. Đặc điểm các trụ đá Asoka

Các trụ đá được phân tán trên khắp Ấn Độ. Đó là một quần thể công trình kiến trúc và là một trong những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc đá được biết đến sớm nhất tại xứ Ấn. Chúng được tạo dựng tại những địa điểm quan trọng liên quan đến cuộc đời của Đức Phật. Các trụ đá cao khoảng 12 – 15 m, nặng khoảng 50 tấn. Mỗi trụ bao gồm hai phần: Đầu trụ và thân trụ. Phần đầu trụ lại gồm tượng một hay nhiều con thú đứng hay ngồi trên một cái đế hình vuông hoặc tròn. Dưới đế là một cái chuông úp với dáng uốn cong về phía đáy, được cách điệu tạo nên các cánh hoa sen. Phần thân trụ là một khối hình trụ tròn xoay, càng lên cao thì hơi nhỏ lại, được đẽo từ khối đá nguyên và mài láng bóng. Phần đầu trụ được đẽo từ một khối đá khác với thân trụ, hai phần được nối lại vào nhau bởi các chốt kim loại. Chất liệu các trụ đá được tạo bằng sa thạch, tùy xuất xứ mà có màu sắc khác nhau. Sa thạch màu đỏ và trắng tại vùng Mathura, sa thạch cứng hạt mịn có màu được tạo ra với những đốm đen nhỏ được khai thác tại Chunar gần Varanasi. Sự đồng nhất về phong cách nghệ thuật trong các trụ đá cho thấy rằng, tất cả chúng được điêu khắc bởi các nghệ nhân cùng một khu vực.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, vào giai đoạn trị vì Ấn Độ, Asoka đã tạo dựng rất nhiều trụ đá và trụ nào cũng có phần đầu là tượng các con thú. Nhưng chúng đã bị chôn vùi và bị quên lãng bởi các yếu tố chính trị – xã hội hay thiên nhiên. Đặc biệt, vào thế kỷ thứ XIII, Hồi giáo sau khi xâm lăng Ấn Độ đã ra lệnh phá hủy các trụ đá cũng như các Thánh tích quan trọng khác của Phật giáo. Vì thế cho đến nay các nhà khảo cổ chỉ khai quật khám phá được 19 trụ đá có khắc chỉ dụ và 7 trụ đá còn phần đầu tượng thú, còn lại có nhiều trụ với những phần không đầy đủ5.

Hình 2: Bên trái: Tượng voi trên đầu trụ đá tại Sankissa. Bên phải: Tượng bò tại Rampurva. (Wikipedia.org).
Hình 3: Bên trái: Tượng 4 sư tử tại Sārnāth. Bên phải: Tượng 4 sư tử tại Sanchi (Wikipedia.org).
Hình 4: Bên trái: Tượng sư tử tại Vaiśālī. Bên phải: Tượng sư tử ở Rampurva (Wikipedia.org).
Hình 5: Đầu trụ tượng sư tử và trụ đá vua Asoka tại Lauria Nandangarh (Wikipedia.org).

5. Các sắc lệnh và ngôn ngữ

Hiện nay, các nhà khảo cổ tìm thấy được 33 sắc lệnh của Asoka khắc trên đá, vách hang động và các trụ đá. Các sắc lệnh này được tìm thấy tại Ấn Độ, Nepal, Afghanistan, Pakistan và Bangladesh. Trong đó có khoảng 20 sắc lệnh có cùng nội dung được lặp lại nhiều lần, trên 10 sắc lệnh khắc một lần nội dung.

Ngôn ngữ được sử dụng là hệ văn tự cổ gồm bốn văn hệ cho ba ngôn ngữ khác nhau. Phần quan trọng và chiếm đại đa số là ngôn ngữ Prakit, một số khắc bằng ngôn ngữ Hy Lạp, Aramaic và vài sắc dụ khắc bằng cả hai ngôn ngữ Hy Lạp và Aramaic. Ngôn ngữ Prakit được viết dưới hai dạng văn hệ Brāhmī và Kharoṣṭhi (gần với Sanscrit)6.

Trên các sắc lệnh, Asoka tự xưng mình là Devānāmpriya Priyadarśin (Vua lòng thương nhìn đời). Nội dung chính trong các sắc lệnh này nói về chính sách quản lý điều hành đất nước dựa trên những nguyên tắc căn bản của giáo lý nhà Phật. Đó là áp dụng những lời dạy và điều răn của Đức Phật vào trong luật pháp, nếu trước kia những chiến thắng trên chiến trường phải đánh đổi bằng máu và nước mắt thì nay được thay thế bằng những chiến thắng của ánh sáng chân lý Phật pháp: “Bây giờ đối với Người con yêu của các thần linh, chinh phục bằng Phật pháp là chinh phục vinh quang nhất”.7

Hình 6: Vị trí các sắc lệnh của Asoka.

Hình vuông đen: Sắc lệnh chính trên đá.
Hình tam giác đen: Sắc lệnh chính trên trụ đá.
Hình vuông trắng: Sắc lệnh phụ trên đá.
Hình vuông xanh liên tục: Giới hạn lãnh thổ có sắc lệnh (Wikipedia.org).

Mục đích của vua Asoka hướng đến là xây dựng đời sống đạo đức, đem lại hạnh phúc, an lạc cho toàn dân, bảo vệ đời sống của các sinh vật và môi trường, chính sách bình đẳng tôn giáo. Cuối cùng và quan trọng hơn hết là ông muốn cho Chánh pháp được truyền bá khắp nơi tại trong nước cũng như đến khắp mọi nơi trên thế gian.

Hình 7: Sắc lệnh bằng ký tự Brāhmī khắc trên thân trụ đá tại Sārnāth (Wikipedia.org).
Hình 8: Sắc lệnh chính số 1 trên đá tại núi Girnar (Gujerat) (Wikipedia.org).
Hình 9: Sắc lệnh khắc trên đá bằng song ngữ Hy Lạp và Aramaic tại Kandahar (Viện bảo tàng Kabul, Afhanistan) (Wikipedia.org).

6. Bốn trụ đá của Asoka

a. Trụ đá tại Lumbinī

Lumbinī (Lâm-tỳ-ni) là nơi đản sanh của Đức Phật, một Thánh địa ở vùng Rupandehi thuộc Nepal, tọa lạc dưới chân Himalaya (Hy Mã Lạp Sơn), cách 25 km về phía Đông của Kapilavastu (Ca-tỳ La-vệ), kinh thành xưa nơi Ngài trước khi xuất gia đã sinh sống. Năm 249 TCN, vua Asoka đã đến viếng thăm và chiêm bái Lumbinī. Tại đây, ông đã cho dựng lên một trụ đá để đánh dấu nơi Đức Thế Tôn xuất hiện tại thế gian này. Sắc lệnh khắc trên trụ đá này có nội dung: “Người con yêu của các thần linh, Vua lòng thương nhìn đời, vào năm 20 sau khi lên ngôi đã đến chiêm bái nơi đây, nơi Đức Phật Śākyamuni ra đời. Một tường rào đá và một trụ đá được dựng lên để tôn vinh Đức Thế Tôn đã sinh ra tại đây; làng Lumbinī được giảm thuế và chỉ đóng một phần tám lợi tức”8.

Ban đầu, trên đầu trụ đá này có tượng một con ngựa, nhưng sau đó bị hư bể chỉ còn thân trụ và cao 6,7 m. Theo Đại Đường Tây vực ký, Ngài Huyền Trang (602 – 664) có đến chiêm bái Lumbinī vào thế kỷ thứ VII, Ngài mô tả trên đầu trụ có con ngựa, nhưng về sau trụ bị sét đánh nên đầu có con ngựa bị hư mất. Chính căn cứ vào bộ ký sự này mà vào năm 1896, các nhà khảo cổ Nepal đã khai quật và phát hiện ra trụ đá sau gần 15 thế kỷ Lumbinī bị rơi vào quên lãng và điêu tàn kể từ lúc các Thánh địa Phật giáo bị tàn phá dưới bàn tay của người Hồi giáo vào nửa cuối thế kỷ thứ XIII9. Trụ đá đứng gần bên đền thờ Māyādevī (Ma-da) vị hoàng hậu đã hạ sanh Thái tử Siddārtha Gautama (Tất-đạt-đa), trên trụ có khắc dòng chữ xác nhận khu vực nơi Đức Phật đản sanh, khoảng năm 563 – 483 TCN, Ngài thọ 80 tuổi. Đến năm 1997, Lumbinī chính thức được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa thế giới”, từ đó Thánh tích này được quốc tế bảo hộ và tiếp tục công cuộc khai quật, trùng tu và tôn tạo.

Hình 10: Bên trái: Trụ đá và sắc lệnh của Asoka tại Lumbinī, Nepal, được phát hiện vào năm 1986, với vị trí và dòng chữ, được giấu khoảng một mét dưới mặt đất. Bên phải: Trụ đá ngày nay, bị gãy làm đôi và được bịt kín để bảo vệ. Nơi ghi dấu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sanh (Wikipedia.org).
Hình 11: Trụ đá đặt bên cạnh đền thờ Hoàng hậu Māyādevī tại Lumbinī (Wikipedia.org).
b. Trụ đá tại Sārnāth

Sārnāth (Lộc Uyển), gần thành Vāraṇāsī hay còn gọi là Banāras (Ba-la-nại). Đây là nơi đánh dấu một sự kiện hết sức trọng đại, lần đầu tiên Đức Thế Tôn “Chuyển Pháp luân” và “Thành lập Tăng đoàn” sau khi hóa độ năm vị đệ tử chứng đắc Thánh quả. Ngôi Tam bảo (Triratna), tức gồm Phật bảo (Buddha), Pháp bảo (Dharma) và Tăng bảo (Shagha) được chính thức ra đời10. Đây là trụ đá có phần đầu gồm 4 con sư tử nổi tiếng và đặc biệt nhất trong các trụ đá do hoàng đế Asoka dựng lập, nó còn được gọi là “Trụ đá đầu sư tử của Asoka” (Lion Capital of Asoka), có niên đại khoảng năm 250 TCN nhưng bị gãy đổ không còn nguyên vẹn, trên thân trụ có khắc sắc lệnh của Asoka với nội dung “Nghiêm cấm các hành vi ly gián Tăng đoàn”. Sắc lệnh này cũng được tìm thấy ở Kauśāmbī và Sāncī, tức đều cùng nội dung đề cập đến vấn đề chia rẽ nội bộ Phật giáo: “Người con yêu của các thần linh ra lệnh cho các quan chức cấp cao tại Kauśāmbī rằng: Bất cứ ai làm chia rẽ Tăng chúng mà hiện nay đang thống nhất thì không được chấp nhận ở trong Tăng chúng. Bất cứ ai, dù Tăng hay Ni mà làm chia rẽ Tăng chúng thì buộc phải mặc y phục trắng và không được ở trong tu viện nào”11.

Phần đầu trụ đá được tạo từ một khối sa thạch Chunar có màu nâu đẹp dị thường, được mài láng bóng (chất đánh bóng thời kỳ Maurya) và cao 2,15 m. Trụ có ba phần: Trên cùng là bốn con sư tử châu Á đứng tựa lưng vào nhau, đặt trên một trụ ngắn tròn. Trên bề mặt trụ ngắn có 4 bánh xe với 24 nan, xen kẽ với 4 con vật xung quanh với tư thế di chuyển là con voi, con ngựa, con bò đực và con sư tử. Phần dưới cùng là một đế hình cái chuông úp ngược được cách điệu tạo nên những cánh hoa sen12.

Bốn đầu sư tử quay mặt về 4 hướng tượng trưng cho Chánh pháp của Đức Phật tại Sārnāth, nơi Ngài thuyết những bài pháp đầu tiên và từ đây ánh sáng chân lý được lan tỏa rộng khắp các hướng. Bánh xe tượng trưng cho “Bánh xe Pháp” (Dharma cakra) hay còn được gọi là “Bánh xe Asoka” (Asoka cakra) của Phật giáo được luân chuyển khắp thế gian. Bốn con thú tượng trưng cho bốn giai đoạn trong cuộc đời của Đức Phật: Con voi là ý niệm về giấc mộng của hoàng hậu Māyādevī khi thấy voi trắng chui vào hông phải và thọ thai Thái tử; con bò đực tượng trưng cho thời kỳ Thái tử Siddārtha Gautama ở hoàng cung; con ngựa tượng trưng cho sự ra đi tìm chân lý giải thoát khổ đau cho nhân loại và con sư tử tượng trưng cho đại hùng, lực, bi, trí, pháp âm vi diệu của Đức Phật13.

Ngoài ra, do ảnh hưởng của nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau nên trụ đá bốn đầu sư tử còn mang một ý nghĩa, biểu tượng khác: Bốn con thú kết hợp với bốn hướng, hoặc ít hơn, chúng tượng trưng cho vị thần linh của Hindu giáo. Thần bò của Brahmanism (Bà-la-môn giáo) hay Hinduism (Ấn giáo) hiện nay, voi là bánh xe của Indra (trời Đế-thích), sư tử của thần Durga. Đặc biệt, con ngựa được kết hợp với Surya, vị thần mặt trời đi ngang qua bầu trời bằng chiếc xe ngựa, như Apollo, thần mặt trời của người Hy Lạp14.

Bên trái: Trụ đá với biểu tượng 4 đầu sư tử với phần thân trụ bị gãy làm ba khúc. Bên phải: Ký tự Brāhmī khắc trên thân trụ đá Asoka với nội dung: Nghiêm cấm việc chia rẽ nội bộ Phật giáo (Wikipedia.org).

Ngày 26/01/1950, Quốc hội nước Cộng hòa Ấn Độ đã thống nhất chọn bốn đầu sư tử của trụ đá Asoka tại Sārnāth làm biểu tượng “Quốc huy” của đất nước. Phần đế hình chuông úp cách điệu hoa sen được cắt đi, thay vào đó là hàng chữ “Satyameva jayate” nghĩa là “Chỉ có chân lý chiến thắng”. Quốc huy này không chỉ là biểu tượng quốc gia mà còn xuất hiện trên mọi văn thư của cơ quan nhà nước, tiền, tem, hộ chiếu v.v… Còn “Bánh xe Asoka” được đặt vào vị trí trung tâm15 của quốc kỳ Ấn Độ (22/07/1947).

Hình 13: Bên trái: Đầu trụ đá 4 sư tử của Asoka, bằng sa thạch đánh bóng Chunar, cao 2,15 m, thời kỳ Maurya, thế kỷ III TCN (Bảo tàng Khảo cổ học, Sarnath, Ấn Độ).
Bên phải: Quốc huy Ấn Độ lấy ý tưởng từ trụ đá Asoka (Wikipedia.org).

c. Trụ đá tại Vaiśālī

Vào thời Đức Phật còn tại thế, Vaiśālī (Vệ-xá-ly hay Tỳ-xá-ly) là một thành phố lớn với dân số đông đúc và thịnh vượng của vương quốc Licchavi, cái nôi của nền văn hóa Triết học Phật giáo. Đức Phật đã từng đến đây nhiều lần, giáo hóa và giảng dạy những bài pháp cuối cùng trước khi nhập Niết-bàn (483 TCN). Vaiśālī còn là nơi tổ chức cuộc “Đại hội kết tập Kinh điển lần thứ 2”, được bảo trợ bởi vua Kālāśoka, tức sau hơn 100 năm ngày Đức Thế Tôn nhập diệt. Cuộc kết tập bàn về “Mười điều phi pháp” (theo quan điểm của Nam Truyền) và “Năm việc của Đại Thiên” (theo truyền thống Bắc Truyền)16. Đây cũng là nơi “Thành lập Ni đoàn” đầu tiên sau khi Di mẫu Mahā Pajāpati Gotamī (Ma-ha Ba-xà-ba-đề) và các hàng nữ nhân dòng dõi quý tộc được Đức Phật cho phép xuất gia, gia nhập vào hàng ngũ “Giáo hội Tăng-già” nhưng với điều kiện phải ngiêm giữ “Bát kỉnh pháp”17.

d. Trụ đá tại Sāṃkāśya

Đây là Thánh tích Phật giáo, một thành phố nổi tiếng từ thời Thế Tôn tại thế. Vào năm hạ thứ bảy, Đức Phật đã lên cung trời Trāyastriṃśa (Đao Lợi) để thuyết Abhidhamma (Vi Diệu Pháp) cho Thiên chúng và thân mẫu là hoàng hậu Māyādevī nghe trong suốt mùa mưa (theo Nam Truyền). Cũng tại cõi trời này, Đức Phật đã giảng Kinh Địa Tạng trong ba tháng cho hoàng hậu cùng chư Thiên và bà đã chứng được sơ Thánh quả (theo truyền thống Đại Thừa Phật giáo)18. Sau khi Đức Phật giảng Pháp xong, Śakra cùng Thiên chúng cung kính tiễn đưa và cúng dường ba cái thang để Ngài trở về quả địa cầu. Cái thang trái bằng vàng dành cho chư Thiên, cái thang phải bằng bạc dành cho Mahā Brahmā (Đại Phạm Thiên Vương) và cái thang giữa bằng châu báu dành cho Đức Phật.

Asoka đã cho dựng một trụ đá, xây một bảo tháp và ngôi đền tại Sāṃkāśya để tưởng niệm vị trí đặc biệt này. Bảo tháp được dựng lên ghi dấu nơi bàn chân phải của Đức Phật chạm đất lần đầu sau khi từ cõi trời trở lại thế gian. Khi Ngài Pháp Hiển và Huyền Trang đến viếng nơi này xác nhận có ba cái thang được xây dựng bằng gạch đá để tưởng niệm cuộc trở về của Đức Phật, nhưng những chiếc thang hầu như đã chìm xuống đất. Năm 1842, nhà khảo cổ người Anh là Alexander Cunningham đã khám phá ra vùng này. Khi khai quật, trụ đá của Asoka không còn được nguyên vẹn vì mất thân trụ, chỉ có phần đầu trụ đá là một con voi đã bị hư, bể mất vòi, không được mài láng, phần đế được đánh bóng một phần19.

Kết Luận

Các trụ đá Asoka và những sắc lệnh khắc trên trụ đá là một trong những tác phẩm điêu khắc được biết đến sớm nhất, mở đầu cho nền nghệ thuật Phật giáo nói chung và nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ nói riêng. Đó là những công trình kỳ vĩ của một nền văn minh thuộc hàng đỉnh cao thời cổ đại. Chứng cứ quan trọng để xác định, chứng minh quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo, về Đức Phật Thích-ca Mâu-ni lịch sử và một hoàng đế Asoka có thật.

Trong những công trình nghệ thuật đầu tiên nhất của Phật giáo, hình tượng của Đức Phật chưa được mô tả dưới dạng hình người, nhưng các sự kiện trọng đại liên quan đến cuộc đời của Ngài đều được biểu hiện qua các biểu tượng khác nhau. Thông qua các hình ảnh ẩn dụ, biểu trưng từ đó toát lên hình ảnh về Đức Phật, về tinh yếu giáo lý Phật pháp, đó là những công trình tác phẩm có giá trị nghệ thuật thẩm mỹ cao, tinh tế và hàm chứa nội dung và ý nghĩa sâu sắc.

Nghệ thuật Phật giáo thời kỳ Asoka của triều đại Maurya là tiền đề quan trọng, đặt nền móng, cơ sở cho sự phát triển các phong cách nghệ thuật sau đó tại Ấn Độ cũng như sự phổ biến nền mỹ thuật ra khắp châu Á và nghệ thuật Phật giáo đương đại sau này.

Thích Thiện Đức


  1. Hiện nay là lãnh thổ của nhiều quốc gia như: Ấn Độ, Afghanistan, Bangladesh, Bhutan, Iran, Nepal, Pakistan và Sri Lanka.
  2. Sherman E. Lee, Trần Văn Huân (biên dịch) (2007), Lịch sử mỹ thuật Viễn Đông, NXB. Mỹ Thuật, Hà Nội, tr. 98.
  3. Sasaki Kyogo và Takasaki Jikidou, Inokuchi Taijun, Tsukamoto Keisho, Thích Đạt Hòa (Hán dịch), Thích Hạnh Bình và Phương Anh (Việt dịch) (2017), Khái luận lịch sử Phật giáo Ấn Độ, NXB. Phương Đông, TP. Hồ Chí Minh, tr. 64 – 67.
  4. Roy C. Craven, Nguyễn Tuấn và Huỳnh Ngọc Trảng (dịch) (2005), Mỹ thuật Ấn Độ, NXB. Mỹ Thuật, Hà Nội, tr. 47.
  5. Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế AŚOKA từ huyền thoại đến sự thật, NXB. Đà Nẵng, tr. 55 – 56.
  6. Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế Asoka từ huyền thoại đến sự thật, NXB. Đà Nẵng, tr. 31 – 33.
  7. Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế AŚOKA từ huyền thoại đến sự thật, tr. 48 – 49.
  8. Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế Asoka từ huyền thoại đến sự thật, NXB. Đà Nẵng, tr. 97 – 98.
  9. Thích Thanh Kiểm (2014), Lược sử Phật giáo Ấn Độ, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 246 – 247.
  10. Thánh Nghiêm và Tịnh Hải, Nguyễn Đức Sâm và Mai Xuân Hải, Nguyễn Tá Nhí (biên dịch) (2008), Lịch sử Phật giáo thế giới, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 38.
  11. Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế ASOKA từ huyền thoại đến sự thật, NXB. Đà Nẵng, tr. 64 – 65.
  12. Roy C. Craven (2005), Mỹ thuật Ấn Độ, Nguyễn Tuấn – Huỳnh Ngọc Trảng (dịch), NXB. Mỹ Thuật, Hà Nội, tr. 47 – 48.
  13. Michael Kampen O’Riley (2005), Những nền mỹ thuật ngoài phương Tây, Phan Quang Định (biên dịch), NXB. Mỹ Thuật, Hà Nội, tr. 72.
  14. Sherman E. Lee (2007), Lịch sử mỹ thuật Viễn Đông, Trần Văn Huân (biên dịch), NXB. Mỹ Thuật, Hà Nội, tr. 94.
  15. Lá cờ Ấn Độ có ba sọc ngang với ba màu là: vàng nghệ, trắng và xanh lá cây, ở giữa là bánh xe Asoka với 24 nan hoa.
  16. Sasaki Kyogo và Takasaki Jikidou, Inokuchi Taijun, Tsukamoto Keisho, Thích Đạt Hòa (Hán dịch), Thích Hạnh Bình và Phương Anh (Việt dịch) (2017), Khái luận Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, NXB. Phương Đông, Hồ Chí Minh, tr. 53 – 58.
  17. Nārada Mahāthera, Phạm Kim Khánh (dịch) (2015), Đức Phật và Phật pháp, , NXB. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 122 – 126.
  18. Thích Trung Hậu và Thích Hải Ấn (sưu tập & giới thiệu), Đức Phật Thích Ca đã xuất hiện như thế, NXB. Văn hóa Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh, tr. 432.
  19. Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế Asoka từ huyền thoại đến sự thật, NXB. Đà Nẵng, tr. 70 – 72.


    Tài liệu tham khảo

    Roy C. Craven, Nguyễn Tuấn và Huỳnh Ngọc Trảng (dịch) (2005), Mỹ thuật Ấn Độ, NXB. Mỹ thuật, Hà Nội.
    Michael Kampen O’Riley, Phan Quang Định (biên dịch) (2005), Những nền mỹ thuật ngoài phương Tây, NXB. Mỹ thuật, Hà Nội.
    Sherman E. Lee, Trần Văn Huân (dịch) (2007), Lịch sử mỹ thuật Viễn đông, NXB. Mỹ thuật, Hà Nội.
    Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế Asoka từ huyền thoại đến sự thật, NXB. Đà Nẵng.
    Nguyễn Tuệ Chân (biên dịch) (2008), Nghệ thuật Phật giáo, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
    Nguyễn Tuệ Chân (biên dịch) (2008), Toàn tập giải thích hình tượng hoa sen Phật giáo, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
    Thánh Nghiêm và Tịnh Hải, Nguyễn Đức Sâm và Mai Xuân Hải, Nguyễn Tá Nhí (biên dịch) (2008), Lịch sử Phật giáo thế giới, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
    Thích Thanh Kiểm (2014), Lược sử Phật giáo Ấn Độ, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
    Sasaki Kyogo và Takasaki Jikidou, Inokuchi Taijun, Tsukamoto Keisho, Thích Đạt Hòa (Hán dịch), Thích Hạnh Bình và Phương Anh (Việt dịch) (2017), Khái luận lịch sử Phật giáo Ấn Độ, NXB. Phương Đông, TP. Hồ Chí Minh.
    Nārada Mahāthera, Phạm Kim Khánh (dịch) (2015), Đức Phật và Phật Pháp, NXB. Hồng Đức, Hà Nội.
    Thích Trung Hậu và Thích Hải Ấn (sưu tập & giới thiệu), Đức Phật Thích Ca đã xuất hiện như thế, NXB. Văn hóa Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh.