Ngày tái sanh của cựu Tăng Ni sinh viên

343

  Đánh dấu một chặng đường dài trong hành trình nhân rộng tri thức của Phật giáo miền Nam Việt Nam, vừa qua Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh cơ sở 2 long trọng tổ chức kỷ niệm tròn 35 năm ngày thành lập trường dưới sự chứng minh của chư Tôn đức lãnh đạo Trung ương Giáo hội và đông đảo các cấp lãnh đạo Chính phủ, đại diện các trường Phật học Quốc tế và hơn 2.000 Tăng Ni, Phật tử.

Gặt hái nhiều thành quả sau 35 năm hoạt động trong ngành giáo dục Phật học, đến nay Học viện đã và đang đào tạo 14 khóa chính quy – chương trình cử nhân, 02 khóa thạc sĩ, 01 khóa tiến sĩ Phật học với số lượng 8.621 Tăng Ni sinh, trong đó đã có 5.000 sinh viên tốt nghiệp. Hầu hết, Tăng Ni sinh viên sau khi hoàn thành chương trình Phật học đều tham gia gánh vác những trọng trách của Giáo hội giao phó tại các Ban Trị sự tỉnh, thành, địa phương, thậm chí đảm nhận vai trò Đại biểu Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp.

Qua chuỗi sự kiện 3 ngày, HVPGVN tại TP.HCM đã đánh dấu một bước chuyển mình lớn với sự hội ngộ đông đảo của Tăng Ni sinh viên 14 khóa. Từ sự trưởng thành dưới mái trường Phật học xưa, thế hệ của các khóa đầu tiên giờ đã là những cổ thụ hoằng pháp lừng danh trong nước và cả quốc tế. Riêng đối với sự phát triển của giáo dục Phật học nước nhà cũng đã ghi nhận những cống hiến lớn lao, đầy tâm huyết của các cựu Tăng Ni sinh trong nhiều thập niên qua. Nhân đó, Nguyên Thủ tướng Chính phủ đã trao tặng Bằng khen 01 tập thể và 04 cá nhân của Học viện, Đại diện Ủy ban Nhân dân TP.HCM cũng trao tặng Bằng khen cho 01 tập thể và 07 cá nhân có nhiều thành tích giáo dục và đạo tạo Tăng, Ni cho GHPGVN. Kèm theo đó có trên 30 bằng khen dành cho giáo viên cơ hữu có nhiều đóng góp trong công tác giáo dục.

Bao hàm nhiều ý nghĩa, giá trị nhân văn cao quý của đại lễ, thiết nghĩ phải tôn vinh sự ưu đãi đến từ nhiều bình diện. Trong đó, người viết cho rằng giá trị đẹp nhất phải bắt đầu cho trang sử hoạt động của trường đầu năm thứ 36 và điều đó không gì hơn ngoài sự cống hiến thầm lặng từ những người học trò xưa giờ lại trở thành những tàng cây đại thụ thâm niên, ẩn mình phụng sự cho sự nghiệp giáo dục Phật giáo. Tiếp nối sự cống hiến của các cựu Tăng Ni sinh khóa 1, 2, đợt kỷ niệm tròn 35 năm ngày thành lập trường một lần nữa đã đánh dấu sự đóng góp nhiệt tâm của các cựu Tăng Ni sinh khóa 3 với nhiều vai trò lớn lao trong cơ cấu thành phần nhân sự của môi trường giáo dục Phật học quốc gia như TT. Thích Quang Thạnh, TT. Thích Nhật Từ, TT. Thích Giác Hoàng, TT. Thích Phước Lượng cùng nhị vị NS. Thích nữ Như Nguyệt…

Điều đáng ghi nhận trong sự kiện này là lần đầu tiên ngành giáo dục Phật học miền Nam dang tay, tạo cơ hội cho sự đóng góp của chư Ni. Đại diện cho bộ mặt Ni giới trong sự dấn thân đảm nhiệm vị trí mới của công tác giáo dục tại Học viện là Ni sư Thích Nữ Như Nguyệt (Tân Phó viện trưởng Học viện) và Ni sư Thích Nữ Như Nguyệt (Thành viên Hội đồng điều hành Học Viện). Phải chăng đây là thành quả, là câu trả lời cho những cống hiến thầm lặng của nhị vị Ni sư trong chặng đường giáo dục vừa qua?

Qua tìm hiểu về nhị vị Ni sư, được biết cả hai Ni sư đều xuất thân từ những ngôi cổ tự nổi tiếng tại TP.HCM (Huê Lâm, Phước Viên) và đều là bạn đồng học khóa 3 của Học viện. Sau thời gian du học trở về nước, cả hai vị đặc biệt ưu ái và dành nhiều thời gian cho công tác học thuật, chăm lo cho sự nghiệp trồng người cao quý và trực tiếp tạo ra những sản phẩm giáo dục trên quê hương mình. Đặc biệt, hai Ni sư đã dành nhiều sự quan tâm và trăn trở cho tương lai Ni chúng. Sau hơn 10 năm cống hiến, với những công tác Phật sự bộn bề, hai Ni sư đã và đang gánh vác nhiều trọng trách trong Giáo hội, trong Phân ban Ni giới Trung ương, Thành phố và cũng nhiều lần đại diện cho chư Ni Việt Nam giao lưu, học hỏi với chư Ni toàn cầu.

Trong buổi hầu chuyện với nhị vị Ni sư, NS. Thích Nữ Như Nguyệt (Huê Lâm) cho biết, Ni sư tiến bước được trên con đường này là nhờ sự huân đúc giáo dưỡng của nhiều bậc thầy vĩ đại. Người đầu tiên là Bổn sư thế độ – một thạch trụ tòng lâm của Ni giới Việt Nam: Sư trưởng thượng Như hạ Thanh. Thứ đến là được giáo dưỡng, quan tâm từ nhiều bậc thầy giáo thọ đương nhiệm Học viện thuở đó. Sau này, trưởng thành hơn là nhờ người thầy ngoại quốc K.T.S. Sarao – Giáo sư Phân khoa Phật học Trường Đại học New Delhi và GS. Karma Lekshe Tsomo từ Đại học Hawai, Hoa Kỳ.

Được hỏi về những cảm nhận và quan điểm cống hiến khi đảm đương vị trí mới, Ni sư cho biết: “Thật ra, việc nhận lãnh vị trí này không phải là mục đích của một người từ bỏ gia đình, xuất gia học đạo. Có chăng nó là cơ hội để cống hiến, để báo Phật ân đức, cũng là cơ hội để đón nhận những thách thức, những trọng trách nặng nề mà chư Tôn đức tin tưởng, giao phó. Do vậy, đây không phải là chuyện để thể hiện sự mừng, lo. Bởi lẽ, mục đích chính của người xuất gia học Phật là học hỏi Chánh pháp và ứng dụng, trau dồi bản thân bằng lời Phật dạy, ngõ hầu hướng đến giải thoát những ràng buộc, hệ lụy cho tự thân chứ không phải là sự cầu tiến, tích lũy kiến thức, tích lũy danh vọng. Khi đặt mục đích xuất gia và lợi ích tập thể lên hàng đầu, ta sẽ hiếm có cơ hội trở thành công cụ phục vụ cho bất cứ mục đích hay cá nhân bất hảo nào khác dẫu nó được trá hình, chuyên chở ngã tướng và tư lợi. Nếu vì một sự ngần ngại, sợ hãi cho riêng mình, bạn sẽ khó trưởng thành khi chung đụng với những thách thức lớn hơn xuất hiện trong tâm bạn. Đó là quan điểm cống hiến của riêng tôi.”

Đồng quan điểm cống hiến trên, Ni sư Thích Nữ Như Nguyệt (Phước Viên) nhấn mạnh: “Nói chung, khi chấp nhận cống hiến cho mọi hoạt động của Phật giáo, của Học viện hay Ni giới, ‘đền đáp tứ ân’ là phương châm đi đầu. Chức vụ chẳng qua chỉ là danh chánh ngôn thuận, không phải mục đích của sự cống hiến. Do vậy, Sư không ngần ngại đối với công việc mà Giáo hội cũng như chư Tôn đức giao phó, chỉ thấy trách nhiệm có nặng hơn.” Đứng trước bối cảnh xã hội đặt nhiều kỳ vọng cho ngành giáo dục, Ni sư cho biết: Ngoài việc thực hiện theo quy định của ngành giáo dục tại Học viện, lúc nào Ni sư cũng có tâm nguyện cho Học viện phát triển để bắt kịp ngành giáo dục của xã hội, của thế giới. Bên cạnh đó, Ni sư rất trăn trở và “mong mỏi chư Ni tu học tốt hơn nữa để sau này ra phụ các công việc lớn cho Giáo hội hoặc ít ra phải có sự cống hiến cho Ni chúng hay cống hiến cho công tác dịch thuật… Đừng để người ta nói rằng Ni không có khả năng dấn thân phụng sự. Chỉ khi mình thực sự có năng lực, tâm lực, tuệ lực mới có thể xóa tan tư tưởng cổ hủ: Ni học xong cũng chỉ để làm công tác bếp núc, bán tương chao…”

Kể ra, việc cơ cấu nhân sự đã có trước khi nhị vị Ni sư đi vào hoạt động nhưng có thể xem như chưa chính thức. Song, nhìn lại gần nữa chặng đường cống hiến tại Học viện, đặc biệt là cho sinh hoạt nội trú, đủ để hậu bối thấy rằng việc đề đạt nhị vị Ni sư vào những vị trí công tác mới là một thách thức xứng tầm. Hẳn nhiên, không thể nào quên được công lao giáo dưỡng, ân cần của các bậc Tôn túc Ni hậu cần túc trực ngày đêm bảo vệ cho chúng Ni nội viện. Do vậy, có thể xem đây như một thịnh tình mà chư Tôn đức Tăng khích lệ sự dấn thân của Ni giới. Âu cũng là một sự xác nhận về nguyên tắc bình đẳng đã được ươm mầm trong quá khứ với nhiều phương diện: địa vị, Phật tánh, giới tính, chủng tộc,… Đồng thời, góp phần khẳng định vai trò, vị thế cho Ni giới nói riêng và GHPGVN nói chung khi sánh vai với cộng đồng Phật giáo thế giới. Trong ngữ nghĩa đó, Ni giới không dám đòi hỏi sự cân vai cân vế đối với chư Tăng, chỉ dám mong làm gạch nối cho chư Ni hậu bối thấy được khả năng dấn thân phụng sự của nữ giới bình quyền.

Với những cống hiến hết mình bằng tâm lực, tuệ lực của nhị vị Ni sư, thiết nghĩ đây không chỉ là bước ngoặc đánh dấu sự nghiệp giáo dục học đường mà còn định hướng cho chư Ni học Phật mai hậu mạnh dạn dấn thân trong các hoạt động Phật sự của Giáo hội. Thật đáng tự hào khi lần đầu tiên trong lịch sử Ni giới miền Nam Việt Nam đã thắp lên một ngọn đuốc tinh khôi, bắc cầu cho nền văn hóa tuổi trẻ và văn hóa truyền thống, vẽ nên một diện mạo Ni giới mới. Có thể nói động thái này đã truyền tải cho Ni chúng một năng lượng, quan điểm, tư tưởng mới trong sự nghiệp học, hành và dấn thân phụng sự.

Bằng nhân chứng sinh động này, Ni trẻ Việt Nam sẽ không còn sợ hãi bị tước mất quyền bình đẳng. Có chăng nó chỉ mất khi ta quên mất vị trí, trách nhiệm của mình. Dĩ nhiên, không phải đến giờ vấn đề bình đẳng mới trở thành hiện thực và nó chỉ phản ánh ở phương diện này mà thực chất sự bình đẳng của Ni giới Việt Nam đã được đón nhận từ triều Trần – một thời đại cực thịnh của Phật giáo Việt Nam. Nhân chứng lịch sử nói lên điều này là Ni sư Diệu Nhân – một vị Ni được tôn lên làm Tổ thuộc thế hệ thứ 17 trong dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Đó là điều đáng hãnh diện, tự hào mà khi soi lại lịch sử Phật giáo cả thế giới nói chung, cũng như lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng, không có trường hợp thứ hai nào một vị Ni được triều đình phong làm “Đại sư” và đứng trong dòng truyền thừa của các vị Tổ. Rõ ràng, Phật giáo Việt Nam thừa hưởng trọn vẹn nhất tinh thần bình đẳng của Phật giáo Ấn Độ, một tư tưởng mà Đức Phật đã dạy từ xưa.

Một lần nữa, đại bộ phận nữ giới nói chung và Ni giới nói riêng có cơ hội khẳng định khả năng, vai trò, vị thế của mình trong những đóng góp cho chặng đường phát triển từ nhiều lĩnh vực trong xã hội và tôn giáo. Đó là cách để nữ giới có thể thoát ra khỏi cái bóng lu mờ, đầy ắp mùi “trọng nam khinh nữ” của phong kiến. Bắt gặp lối tư tưởng này từ Trưởng lão Tăng, Ni cận đại, cụ thể là HT. Thích Thiện Hòa từng có những lời ca tụng tán thán Cố Sư trưởng Như Thanh: “Người ta thường tưởng rằng Ni lưu chỉ có khả năng tự tu, chứ không có khả năng đảm đang những Phật sự lớn lao làm vẻ vang cho Phật pháp. Nhưng trái lại, ngày nay người ta đã thấy Ni lưu với ý chí mạnh mẽ cương quyết, đứng ra lãnh lấy nhiệm vụ cùng với chư Tăng chia sớt gánh nặng lo đào tạo Ni tài để duy trì gia phong của Từ Phụ. Thật là một điểm son đáng ghi nhận trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.”

Qua những cống hiến của quý Ni sư, người viết chợt nghĩ về lời dạy thâm thúy của TT. Thích Nhật Từ: “Đến với đạo Phật là để chúng ta biến lời Phật dạy trở thành dưỡng chất và chúng phải được tiêu hóa trong tâm tư, nhận thức và hành động của mình, đừng chỉ xem chúng như bảo vật mà tôn thờ”. Một lời dạy chỉ dành cho giới cư sĩ tại gia nhưng nếu bình tâm để suy nghĩ thì giới xuất gia đã làm được những gì?

Tóm lại, thành công của mô hình giáo dục này đã cho chúng ta có nhiều bài học về tầm nhìn và mục tiêu đào tạo. Nhưng điều người viết muốn bày tỏ trước hết chính là sự tri ân sâu sắc đối với Trưởng lão Hòa thượng Viện trưởng, chư Tôn đức Tăng Ni trong HĐĐH, Ban Quản viện Học viện đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho chư Tăng Ni nội trú.

Như Hạnh


  1. Có sự quang lâm chứng minh của HT. Thích Trí Quảng – Phó Pháp chủ kiêm Giám luật HĐCM GHPGVN, Trưởng Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM, Viện trưởng HVPGVN tại TP.HCM; Trưởng lão HT. Thích Đức Nghiệp – Phó Pháp chủ GHPGVN; HT. Thích Thiện Nhơn – Chủ tịch HĐTS GHPGVN; chư Tôn giáo phẩm lãnh đạo GHPGVN các cấp.
  2. Gồm có Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân; Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải; Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng và các cấp chính quyền thành phố, quận, huyện.
  3. GS. K.T.S. Sarao – Trưởng khoa Phật học Trường Đại học New Delhi; TT. Sawai Chokito – Phó Viện trưởng Ngoại vụ Trường Đại học Mahachulalongkorn, Thái Lan; TT. Sovanratana – Hiệu trưởng Trường Đại học Phật giáo Shihanukraja, Campuchia; GS.TS. Stuti Narain Kacker – Hiệu trưởng Trường Đại học Swami Vivekananda Subharti; GS.TS. Amarjiva Lochon – Chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu văn hóa và tôn giáo Nam Á và Đông Nam Á.
  4. Theo lời của HT. Thích Giác Toàn.
  5. Trích theo lời phỏng vấn Ni sư, HVPGVN tại TP.HCM cơ sở 2, vào lúc 17 giờ, ngày 11/11/2019.
  6. Nt
  7. Nt
  8. Lê Mạnh Thát (1999), Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, NXB. TP. Hồ Chí Minh, tr. 296.
  9. NS.TS. Thích Nữ Như Nguyệt chủ biên (2019), Di sản Sư trưởng Như Thanh – Kế thừa – phát triển Ni giới Việt Nam, NXB. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr. 34.
  10. Võ Văn Tường, Giác Tâm Hỷ, Trần Thị Vân Anh, Giác Minh Duyên, Giác Phúc Hải biên tập (2016), 33 năm phụng sự Phật giáo và nhân sinh, NXB. Phương Đông, tr. 171.