Nét đặc thù của các tịnh xá Hệ phái Khất Sĩ

8

  Với chí nguyện: “Nối truyền Thích ca Chánh Pháp”, Đạo Phật Khất sĩ được sáng lập tại Việt Nam vào năm 1944, Tổ Minh Đăng Quang đã góp phần tạo nên nét văn hóa Đạo Phật Việt Nam rất riêng cho Phật giáo Việt Nam. Nhưng cũng rất chung cho con đường hoằng truyền giáo Pháp của Đức Thích Ca mang lại lợi lạc cho tất cả mọi người. Ai cũng được học Phật, cũng sẽ giải thoát.

Mặc dù thời gian từ lúc Tổ gieo từng hạt Bồ đề xuống mảnh đất tâm đến khi Tổ vắng bóng – sự nghiệp 10 năm, giai đoạn khởi nguyên của Đạo Phật Khất sĩ tuy ngắn ngủi, nhưng tầm ảnh hưởng và những giá trị Tổ để lại là vô cùng to lớn. Công hạnh và sự nghiệp của Tổ như ngọn đuốc sáng rực giữa muôn ánh đèn le lói. Đức Tổ sư đã thành lập Tăng đoàn có đời sống sinh hoạt tu học mang những sắc thái hết sức đặc thù về các mặt: Du phương khất thực; nghi lễ thuần khiết; Kinh điển được Việt hóa; mô hình kiến trúc ngôi Tịnh xá; Pháp phục của hàng xuất gia và cư sĩ… Trong đó, Tịnh xá của Đạo Phật Khất sĩ được Tổ kiến tạo rất đặc biệt, có biểu tượng hoa sen và đèn chân lý.

Pháp viện Minh Đăng Quang

Hoa sen rất gần gũi với người dân Việt Nam sinh ra những nơi bùn lầy nhưng khi nở ra thì nó mạnh mẽ vượt lên trên mặt nước, tỏa ra mùi hương thanh khiết thơm mát cả một mặt hồ, tươi đẹp, dễ chịu khiến lòng người nhẹ nhàng, quên đi bao mệt nhọc của một ngày lao động vất vả. Đặc biệt, khi hoa sen nở thì nước trong hồ từ đục chuyển thành trong mát. Hoa sen mang ý nghĩa biểu tượng của bổn tâm thanh tịnh, là biểu hiện của con người không còn cấu nhiễm mùi trần tục, một con người không còn bị chi phối mười sáu cấu uế trong tâm. Đó là bậc Xuất trần Thượng sĩ.

Tịnh xá Ngọc Viên – TP. Vĩnh Long

Ngọn đuốc “vật bất ly thân” cần dùng trong đêm tối. Ngọn đuốc biểu tượng cho Chánh pháp thanh tịnh của chư Phật, soi đường dẫn lối cho người hữu duyên. Vì thế, hình ảnh “ngọn đuốc trên hoa sen” đã trở thành biểu tượng đặc trưng của Hệ phái. Trên đỉnh chánh điện của các ngôi Tịnh xá các hoa văn trang trí đã sử dụng biểu tượng này.
Nóc Tịnh xá hình cái dọi, theo kiến trúc mái nhà Nam bộ, kết cấu sườn mái theo kiểu Tứ Tượng, lợp hai tầng nóc bằng ngói, tầng trên cao nhất nhỏ hơn tầng dưới, ở bốn góc nóc các tầng trên, góc nhọn khoảng 900 hình cong lên và trơn, đưa lên trời. Ở trên nóc tầng thứ hai và tầng thứ ba chánh điện là hình bát giác. Với các vi kèo tạo góc vuông. Trên nóc tỏa xuống thành tám ngăn nhỏ với tám chi phần của Bát chánh đạo, lần đến vách chánh điện có nơi xây bằng gạch kiên cố, nhưng có Tịnh xá làm bằng gỗ, vách đa số được thiết kế cao lên khoảng 1, 2m và kết tám cửa sổ, phía trên các cửa sổ lại tiếp tục vách. Xuống nền, Tổ thiết kế một hành lang vào chánh điện.

Chánh điện sơ khởi có hình “thuyền Bát Nhã” được xây dựng bằng tre, gỗ, nứa, lá dừa (hiện nay tại tịnh xá Ngọc Viên, TP. Vĩnh Long còn lưu giữ). Sau cải biến thành ngôi chánh điện hình bát giác, tượng trưng cho Bát chánh đạo. Trong chánh điện gồm bốn cột trụ gọi là Tứ trụ nâng đỡ mái Bát giác, tượng trưng cho Tứ chúng, đệ tử Phật.

Ngày nay, nhiều Tịnh xá trên bốn góc nóc thêm các hoa văn: Bánh xe chuyển pháp luân trên đám mây, nóc tầng thứ hai của chánh điện là hình bát giác, tám góc trên nóc này đều có tám hoa văn hình mây và bánh xe pháp luân. Biểu tượng này nói lên ý nghĩa vi diệu: Nơi nào có đệ tử của Đức Thế Tôn, nơi đó có Chánh pháp đem lại an lạc cho chúng sanh và nhắc nhở nhiệm vụ các hành giả đang tu học: Phải thực hành và truyền bá Chánh pháp.

Thiết kế chánh điện Đạo Phật Khái sĩ, giữa trung tâm chánh điện cách đều tám cạnh là một khối Tam cấp hình vuông tượng trưng cho Tam vô lậu học. Mặt trên khối Tam cấp an vị duy nhất tôn tượng Đức Bổn Sư đang tọa thiền bên trong Tháp Pháp, hàm nghĩa: Tất cả chúng sanh dù ở địa ngục hay đã thành Phật đều có Phật tánh. Tháp Pháp làm bằng gỗ có mười ba tầng, tượng trưng mười ba cõi, mười ba lớp tiến hóa chúng sanh. Cách thiết kế nơi không gian thiêng liêng cho việc thờ cúng cho ta thấy nét đặc thù Đạo Phật Khất sĩ khác với Phật giáo Bắc truyền và Phật giáo Nam truyền. Cách bày trí chánh điện như thế này biểu hiện hàm ý sâu xa: Thể hiện tính tôn trọng Phật tánh của nhau, tính bình đẳng, tính phóng khoáng của người dân Nam bộ.

“Mỗi người mỗi nước mỗi non,
Bước vào cửa Đạo như con một nhà”.

Thế nên, bất cứ ai thực hành trọn vẹn các chi phần Bát chánh đạo thì chắc chắn sẽ thành tựu Tam vô lậu và đạt quả vị giải thoát giác ngộ hoàn toàn như Đức Phật.

Theo kiến trúc của chùa Nam bộ “tiền Phật hậu Tổ”, sau chánh điện thờ tôn tượng Tổ Minh Đăng Quang và các bậc Hòa thượng có công.Giảng đường là nơi giảng pháp và học pháp cho tất cả mọi người. Số lượng Phật tử ngày càng Tăng, ngày nay Tịnh xá nơi xây lầu kiên cố, trên lầu là chánh điện, tầng trệt là giảng đường để tiện cho việc sinh hoạt tâm linh.
Ngoài ra, các công trình phụ còn có các công trình phụ: Nhà cửu huyền nơi thờ các hương linh và vong linh nam nữ tại gia cư sĩ; nhà bếp nơi dùng để nấu thuốc cho chư Tăng Ni khi bệnh duyên, hoặc để nấu ăn khi không đủ duyên đi khất thực; nơi nghỉ ngơi chư Tăng, Ni gọi là “cốc”. Đó là những ngôi nhà sàn nhỏ, vách lá, mái “bánh ú” lợp lá, có chiều ngang 2m, chiều dài 3m, sàn cao 0,3m. Tổ quy định: “chỗ ở phải xa nhà dân ít nhất một trăm thước. Ở vườn, rừng không được ở núi, xóm chợ”. Mùng ngủ cũng được quy định: chiều dài 2m, chiều ngang 0,7m, chiều cao 1m; ghế của chư Tăng Ni ngồi cao không quá 0,4m. Giường của chư Tăng, Ni chiều dài 2m, chiều ngang 0,7m, chiều cao 0,4m. Ngày nay, do số lượng Tăng Ni rất đông. Các Tịnh xá đã xây các khu Tăng xá, nhưng những chiếc cốc này vẫn còn xuất hiện ở các tỉnh miền tây Nam bộ.

Trước năm 1975, Tịnh xá được xây dựng bằng những vật liệu thô sơ (dùng cây tạp, lá, ván, tre…) là nơi đoàn du Tăng tạm nghỉ sau một ngày hóa duyên hành đạo, hay bệnh duyên. Sau năm 1975, Tịnh xá được xây dựng kiên cố trở thành trụ xứ để chư Tăng Ni hành đạo. Tuy nhiên, cách bày trí tôn tượng vẫn giữ nguyên “bất biến” trước dòng thời gian, biểu tượng “hoa sen và ngọn đèn chân lý” vẫn mãi mãi ngự trên nóc Tịnh xá.


Trong xu hướng hội nhập với Phật giáo cả nước, một số Tịnh xá bắt đầu xây dựng theo lối kiến trúc “chùa” của Phật giáo Bắc truyền như: Tịnh xá Ngọc Phương, Tịnh xá Ngọc Hiệp, Tịnh xá Lộc Uyển… với tôn tượng Quán Thế Âm Bồ tát lộ thiên có hàm ý sâu xa: Ngoài việc theo tín ngưỡng phụng thờ, lễ bái Quán Thế Âm Bồ tát hàng ngày trong nhà thì hình ảnh Ngài còn nhắc nhở mỗi người chúng ta: Luôn lấy lòng Từ bi sâu rộng để đến với mọi hoàn cảnh bất hạnh từ vật chất cho đến tinh thần, chúng ta đi đâu, về đâu trên đất nước thân thương này cũng đều thấy tôn tượng Ngài. Và bên trong nhà cửu huyền còn có thêm tôn tượng ngài Địa Tạng Vương Bồ tát.

Qua mô hình tịnh xá được trình bày sơ bộ như trên, cho chúng ta thấy Tổ sư đã phác họa rất khoa học và uyên thâm. Mỗi phần kiến trúc đều dựa trên nền tảng giáo lý mà xây dựng nên mô hình mang tính cách: Muốn nhắc nhở hàng đệ tử không xa rời Chánh pháp Đức Như lai. Hình dáng ngôi chánh điện bát giác, thờ duy nhất tôn tượng Đức Bổn Sư, nhìn vào rất thoáng, không bị ảnh hưởng các kiến trúc văn hóa khác. Có thể nói, kiến trúc đặc thù của Đạo Phật Khất sĩ đã đóng góp, điểm tô cho nền nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Việt Nam thêm phong phú. Chính những điểm đặc thù mà Tổ sư sáng tạo đã làm cho Đạo Phật Khất sĩ ngày càng phát triển và có thể sánh vai cùng với các truyền thống lớn của Phật giáo.

Hàng đệ tử hậu học xin cúi đầu cung kính đảnh lễ, cảm niệm ân đức Tổ sư đã dày công khai mở Đạo Phật Khất Sĩ, phát minh xây dựng ngôi đạo tràng Tam bảo uy nghiêm cho hàng đệ tử chúng con có nơi tu học vững vàng và để lại cho hậu thế một kho tàng Pháp bảo quý giá, một hướng đi sáng ngời chân lý Phật-đà. Mãi mãi chúng con sẽ vẫn tôn thờ và phát nguyện y theo đường lối Tổ đã vạch ra, nỗ lực tinh tiến tu học, hành đạo, làm lợi ích cho nhân sinh, cùng tiến trên con đường giác ngộ giải thoát.

ThS. Liên Quý