Nét đặc sắc trong Tín ngưỡng và Nghi thức ở Tịnh xá Trung Tâm

359

  Chuyên đề nghiên cứu “Phật giáo với Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam” là một dạng đề tài mới đối với chúng tôi. Hiện tại, chúng tôi đang thực tập nghiên cứu tại Tịnh xá Trung Tâm, số 21 Nguyễn Trung Trực, phường 5, quận Bình Thạnh, TP.HCM, để thực hiện đề tài: “Tín ngưỡng, Nghi thức ở Tịnh xá Trung Tâm”. Đây là đề tài hay nên chúng tôi chọn phương pháp khảo cứu lịch sử, quan sát trực tiếp, kết hợp với phương pháp liên ngành để thực hiện. Giới hạn bài viết nằm trong phạm vi cách an trí tôn tượng, nghi thức tụng niệm tại Tịnh xá Trung Tâm. Chúng tôi cố gắng làm sáng tỏ tín ngưỡng và truyền thống nghi lễ ở đây, với mong muốn cung cấp cái nhìn đúng đắn về tín ngưỡng và nghi thức của một đạo Phật hoàn toàn mang bản sắc Nam bộ Việt Nam.

Trước khi viết bài, chúng tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Phan Thị Yến Tuyết đã tận tâm, nỗ lực hỗ trợ, cung cấp cho chúng tôi những kiến thức quý báu về đề tài. Dù đã cố gắng hết sức nhưng cũng không tránh khỏi có nhiều khiếm khuyết trong bài viết rất mong nhận được sự bổ sung của giới nghiên cứu.

1. Quá trình hình thành của đạo Phật Khất sĩ

Từ khi ra đời vào năm 1946 đến nay đã được 72 năm, với một khoảng thời gian chưa dài nhưng cũng không phải là ngắn, vừa đủ để một đời người cảm nhận chân lý và có đánh giá thích đáng về một đạo Phật rất Việt Nam1. Điều này có thể chứng minh tâm nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp”2 có thành tựu hay không? Với những gì sử sách ghi lại, được nghe, được đọc và đối chứng những dữ kiện và thành quả to lớn để lại của một hệ phái sánh ngang với hai hệ phái truyền thống có từ xa xưa là Bắc truyền và Nam truyền, người viết có thể khẳng định: “Trong 10 năm hành đạo, Tổ sư Minh Đăng Quang đã để lại một gia tài quá đỗi lớn lao.” Với 69 bài Chơn Lý và một Tăng đoàn lên đến hàng trăm vị, quả thật không thể không nhìn nhận!

a. Thân thế Tổ sư Minh Đăng Quang (1923 – 1954)3

Tổ sư Minh Đăng Quang, thế danh Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn, sinh ngày 26/9/Quý Hợi (1923) tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

Thân phụ Ngài là cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu, thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Nhàn. Trong gia đình, ông bà cụ có tất cả năm người con, Ngài là con út. Trước Ngài có bốn anh chị, cụ bà đều thọ thai và sinh nở bình thường, nhưng đến Ngài thì cụ bà mang thai đến 12 tháng mới khai hoa. Mười tháng sau, ngày 25 tháng 7 năm Giáp Tý (1924), cụ bà bệnh nặng và qua đời, hưởng dương 32 tuổi (sau này, Ngài vắng bóng cũng năm 32 tuổi). Từ đó về sau, Ngài được thân phụ và bà kế mẫu Hà Thị Song nuôi dưỡng đến ngày trưởng thành. Cụ ông mất ngày mùng 5 tháng Giêng năm Mậu Thân (1968), thọ 75 tuổi.

b. Con đường xuất gia và thử thách

Sau nhiều lần, Ngài xin phép cha mẹ xuất gia tìm chân lý. Cha mẹ vì quá thương con nên không cho Ngài ra đi một mình một bóng đến xứ lạ quê người hoặc nơi núi rừng cô tịch, hang động hiểm nguy khi còn niên thiếu. Thấy việc xin xuất gia không kết quả, cuối cùng, Ngài quyết tâm dõng mãnh dứt tình thân, cất bước ra đi. Ngài rời Việt Nam đến Campuchia năm 15 tuổi. Ngay từ buổi đầu, Ngài gặp được một vị Thầy Việt lai Miên nổi tiếng Đạo pháp cao siêu, liền cầu xin thọ giáo. Trải qua những cuộc trắc nghiệm khó khăn vô cùng, rốt cuộc vị Thầy hoan hỷ tỏ lời khen ngợi và giao hết gia sản đạo nghiệp cho người đệ tử trông nom.
Được bốn năm ở Campuchia, Ngài vừa làm tròn bổn phận, vừa nghiên cứu Kinh tạng và đường lối hành trì của Phật Tăng xưa. Tuy nhiên, những điều Ngài đã thọ học nơi Thầy cũng như những gì vị Thầy dạy lại không thỏa mãn tâm nguyện của mình nên Ngài đã xin phép Thầy để trở về Việt Nam.

Trên đường về lại quê hương, Ngài gặp phải một thử thách lớn trong đời. Một thử thách mà khắp thế nhân mỗi người đều khó vượt qua đó là hiếu nghĩa song đường và nghiệp duyên trần thế:

Cha già mái tóc điểm sương
Mẹ xưa dưới mộ chút hương linh này
Thôi thì theo cái xưa nay
Lập gia thất để yên mấy chín tầng
Nghĩa ân vành vạnh một vầng
Có nàng thục nữ khuê trung dịu dàng
Cảm ơn cứu tử ngàn vàng
Nguyện cùng xướng họa cung đàn phu thê
Phương danh nàng là Kim Huê
Quê vùng Chợ Lớn vẹn bề công dung.
Và rồi duyên phận tiền định cũng an bài. Hơn một năm sau, Kim Huê giã từ trần mộng. Điều này quả thực đúng với ý nghĩa bi mầu trong cõi hạ vô biên:
Gẫm trong trời đất vô cùng
Nợ duyên âu cũng nghiệp chung muôn loài
Hay là thánh ý Như Lai
Muốn cho ôn lại trọn bài đau thương?
Đau thương là tính vô thường!
Vô thường là tính đoạn trường xưa nay.”4

Bài học đau thương, bài học vô thường, bài học đoạn trường, quả là những bài học vi diệu đã kiến tạo cho cõi phiền não thành cảnh giới an vui, đã giúp duyên cho lòng vị Bồ tát tròn xong hạnh nguyện hôm nào còn dang dở. Lần này, Ngài ôm lòng, dốc chí ra đi. Đầu tiên, Ngài đi đến Hà Tiên định lần qua Phú Quốc, rồi sau đó sẽ tìm sang các nước học Đạo. Nhưng khi vừa đến nơi thì đã trễ tàu. Ngài ở lại ra đầu gành bãi biển Mũi Nai ngồi tham thiền bảy ngày bảy đêm quán xét nhơn duyên. Trước cảnh thiên nhiên trời đất bao la, những chiếc thuyền nhấp nhô, bọt nước tụ tán vào một buổi chiều Ngài ngộ lý vô thường, vô ngã, cảnh khổ trầm luân, đầy vơi, có không, còn mất, sống chết, khổ vui của cuộc đời. Chính nơi đây, Ngài ngộ đạo “Thuyền Bát nhã”5 năm 22 tuổi. Sau khi chứng ngộ chân lý với lòng hoan hỷ vô biên, Ngài trở về gia đình để thông báo cho cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu và mọi người biết. Sau đó, Ngài dấn thân vào vùng núi Thất Sơn, nơi có nhiều núi non huyền bí, hang động sâu thẳm, có những bậc ẩn tu ít người thấy gặp. Ngài đến đây với tất cả lòng thành, quyết chí tu hành, hiến dâng cuộc đời cho Phật pháp với mục đích thành tựu Phật quả. Giữa chốn núi cao, cây lá che phủ bốn bề tịch lặng, chỉ nghe tiếng chim kêu vượn hú, làm bạn với cỏ cây. Đêm thì tham thiền tĩnh tọa, buổi sáng mang bình bát đi khất thực hóa duyên trong thôn xóm theo hạnh Đức Phật. Giờ Ngọ thọ trai xong, Ngài trở về tìm những chỗ tịch lặng để đi kinh hành và giữ mình thanh tịnh. Năm 1946, do nạn chiến tranh tàn phá núi rừng, làm cho người tu không chỗ ở, nhân duyên Ngài gặp một vị Hiền sĩ thỉnh Ngài về làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho để tu tập và truyền bá Chánh pháp. Ngài tự nghĩ: Đạo cốt tiếp vật lợi sanh, nên Ngài bằng lòng theo vị Hiền sĩ này về Phú Mỹ, khởi đầu cho công cuộc truyền bá Giáo pháp Khất sĩ.

c. Thuyết pháp và truyền đạo

Để đánh dấu bước đường hoằng dương Phật pháp, thời pháp đầu tiên được Ngài khai đàn giảng là “Thuyền Bát Nhã”6 vào ngày Rằm tháng Tư tại chùa Linh Bửu, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho. Từ đó, người dân cảm mến hình ảnh một nhà Sư thân đắp mảnh y vàng, tay ôm bình bát đất, đi khất thực vào mỗi buổi sáng, không nhà cửa, không gia đình, không cất giữ vật chi, không ở một nơi nào nhất định, không tiền bạc,… Ngài sống và thực hành đúng như hạnh nguyện xưa của Đức Phật: “Nếu có người tán thán A Lan Nhã là đã tán thán Ta. Sở dĩ như thế, vì nay Ta thường tự tán thán hạnh A Lan Nhã. Nếu có người phỉ báng A Lan Nhã tức là phỉ báng Ta. Nếu có người tán thán khất thực tức là đã tán thán Ta. Sở dĩ như thế, vì Ta hằng tán thán người hay khất thực. Nếu có người hủy báng khất thực là đã hủy báng Ta.”7 Ngài phát nguyện: “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp,”8 sống đời phạm hạnh giải thoát:

Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Kỳ vị sanh tử sự
Giáo hóa độ Xuân Thu.9
Tạm dịch
Một bát cơm ngàn nhà,
Thân đi muôn dặm xa
Chỉ vì việc sanh tử
Giáo hóa độ ngày qua.

Trong những tháng đầu năm 1947, Ngài hóa độ được bốn chúng: Nam Khất sĩ, nữ Khất sĩ, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Cũng trong thời gian này, Ngài soạn Nghi thức tụng niệm lễ cúng, chương trình tu học, hành đạo cơ bản cho cư sĩ và Tăng Ni. Ngài quan tâm giáo dưỡng, xây dựng cơ bản hai Tăng đoàn và Ni đoàn, tốt về Đạo hạnh, vững vàng về kiến thức, xứng đáng là Tăng chúng đệ tử Phật như trong Kinh dạy: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân chánh tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trực tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trí tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân tịnh tu hành, tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn đáng được nghênh đón, đáng được cúng dường, đáng được chiêm ngưỡng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời. Cụ túc giới hạnh, được bậc Thánh mến chuộng, được viên mãn không mảy mún, được vẹn toàn không sứt mẻ, không tỳ vết, không ô nhiễm, những giới hạnh đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị ảnh hưởng bởi đời sau, hướng dẫn đến thiền định”10. Đầu năm 1948, nhân duyên hội đủ, Đức Tổ sư rời Phú Mỹ. Ngài hướng dẫn hơn 20 Tăng Ni đi đến vùng Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn. Từ đó, gót chân hành đạo vị Tổ sư đạo Phật Khất sĩ Việt Nam dần bước rộng mở rộng phạm vi hoằng pháp từ làng này sang làng khác, từ tỉnh này sang tỉnh khác.

Trong những buổi thuyết pháp, Ngài luôn kêu gọi chư Tăng trở về giữ nghiêm Giới luật của Đức Phật và: “Nên tập sống chung tu học”11. Ngài kêu gọi nhân loại hãy thương yêu nhau “không tự lấy để trừ tham, không tự làm để tránh ác”12. Ngài cũng khuyến khích mọi người hãy cùng chung xây dựng một cõi đời đạo đức, một xứ thiên đường, một cuộc sống an vui, hạnh phúc cho nhân loại ngay tại trần gian này bằng cách:

Mỗi người phải biết chữ
Mỗi người phải thuộc giới
Mỗi người phải tránh ác
Mỗi người phải học đạo.13

Những thời pháp của Ngài còn ghi lại trong bộ Chơn Lý (gồm 69 bài). Ngài đã khéo léo dung hợp tư tưởng giáo lý của hai tông phái Phật giáo, đưa ra con đường Trung đạo Chánh đẳng Chánh giác… giúp cho mọi tầng lớp trong xã hội nhận chân giá trị của đạo Phật.
Người thực hành đúng chơn lý gọi là Khất sĩ. Khất ấy là xin, sĩ đây là học. Xin ấy rồi lại cho, học đây rồi lại dạy. Xin vật thực để nuôi thân giả tạm, cho sự thiện lành phước đức để bảo giữ sự sống dài lâu. Học bằng cách lượm lặt phương pháp khắp nơi, rút nhiều kinh nghiệm. Dạy ta đến kết quả thật hành đặc điểm chỉ lại cho người. Đạo của Sống là xin nhau sống chung. Đạo của Biết là học chung. Đạo của Linh là tu chung. Chư Tăng, Ni xuất gia theo Ngài học đạo thời bấy giờ có trên trăm vị, còn Phật tử theo quy y thọ giới tại gia cũng cả hơn vạn người. Tịnh xá thành lập hơn 27 ngôi tại các tỉnh miền Đông và đồng bằng Sông Cửu Long.14 Ngài hành đạo thuyết pháp độ sanh được khoảng 10 năm thì thọ nạn và vắng bóng.

d. Thời kỳ thọ nạn vắng bóng15

Chiều ngày 30 tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1954), khi ánh mặt trời vừa lắng dịu, tại Tịnh xá Ngọc Quang (Sa Đéc), Ngài chậm rãi qua lại bên tàng cây bã đậu với dáng vẻ suy tư… Cho đến khi mặt trời vừa lặn, Ngài gọi chư Tăng đệ tử lấy đệm trải dưới gốc cây Bồ đề, ân cần dạy bảo về sự tu học và sự mở mang lối đạo. Ngài cũng cho biết thêm tương lai đạo Phật tại Việt Nam và các nước. Ngài từ giã chư đệ tử để đi tu tịnh tại núi “Lửa” một thời gian. Sáng ngày hôm sau, mùng 01/02/Giáp Ngọ (1954), Ngài rời Tịnh xá Ngọc Quang đi với một vị Sư già và một chú tiểu qua Tịnh xá Ngọc Viên (Vĩnh Long), rồi qua tiếp Cần Thơ. Nhưng khi đến Cái Vồn thì bị một số người bắt đi biệt tích. Bấy giờ, các đệ tử mới biết rõ ra lời nói của Ngài đi tu tịnh núi “Lửa” đó là lời cảm nhận mầu nhiệm của Tổ sư. Hàng năm, vào ngày 01/02 âm lịch, hàng môn đồ tứ chúng đệ tử luôn làm lễ tưởng niệm sự vắng bóng của Ngài.

Bởi từ lâu, chúng ta đã thấu hiểu lời dạy quý báu và sâu xa của Đức Thế Tôn: “Dù người ta có giết Thầy mình, mình cũng không nên giết hại lại”. Đây là lời dạy vi diệu nhất đối với chúng ta hôm nay. Hiểu được giáo lý một cách vững chắc như vậy, chúng ta sẽ thấy mình rất hạnh phúc khi trả nghiệp xong.

Biết và nghĩ được như vậy, nên từ ngày Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng đến nay, đã trải qua năm mươi năm dài, nhưng bốn Chúng của Ngài đã cùng nhau nối tiếp và mở mang Phật pháp ngày càng phát triển hơn, cho dù có những lúc hoàn cảnh khó khăn. Theo Hòa thượng Thích Trí Quảng, thời kỳ các tông phái Phật giáo bài bác lẫn nhau, đạo Phật Khất sĩ vẫn không bị ảnh hưởng là vì: “Phật giáo Khất sĩ có được ưu việt là tương đồng với cả Phật giáo Nam và Bắc tông về việc ăn chay và vấn y, nên không bị phê phán”16. Theo chúng tôi, Hòa thượng nhận định hoàn toàn có cơ sở. Hiện nay, đã theo thời cuộc đổi từ đạo Phật Khất sĩ thành Hệ phái Khất sĩ và hệ phái có: 6 giáo đoàn Tăng, 5 Phân đoàn Ni và 01 Giáo đoàn Ni.

Thích Thanh Huy


Chú thích
1. Tiểu sử Tổ sư Minh Đăng Quang. https://thuvienhoasen.org/giao-hoi-phat-giao-tang-gia-khat-si-viet-nam-song-ngu. Cập nhật ngày 22/5/2019.
2. HT.TS. Thích Trí Quảng, HT.TS. Thích Giác Toàn, TS. Nguyễn Quốc Tuấn chủ biên (2016), Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Hệ phái Khất sĩ quá trình hình thành, phát triển và hội nhập, NXB. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 60.
3. Thích Giác Duyên (2014), Hệ phái Khất sĩ 70 năm hình thành và phát triển. Tiểu sử Tổ sư Minh Đăng Quang, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 27 – 34.
4. HT.TS. Thích Trí Quảng, HT.TS. Thích Giác Toàn, TS. Nguyễn Quốc Tuấn chủ biên (2016), Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Hệ phái Khất sĩ quá trình hình thành, phát triển và hội nhập, NXB. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 1056.
5. Hệ phái Khất sĩ (2017), Nghi thức Tụng niệm, 10. Thuyền Bát Nhã, NXB. Tôn giáo, tr. 167 – 169.
6. HT.TS. Thích Trí Quảng, HT.TS. Thích Giác Toàn, TS. Nguyễn Quốc Tuấn chủ biên (2016). Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Hệ phái Khất sĩ quá trình hình thành phát triển và hội nhập, NXB. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 109.
7. Hòa thượng Thích Thanh Từ Việt dịch (2005), Kinh Tăng Nhất A Hàm – Tập I, XII. Phẩm Nhập Đạo, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 143.
8. http://daophatkhatsi.vn/noi-truyen-thich-ca-chanh-phap. Cập nhật ngày 20/6/2019.
9. Ban Giáo dục Tăng Ni TW (2018), Hội thảo Khoa học: Giáo dục Phật giáo: Định hướng và Phát triển, Quan điểm Giáo dục của Phật giáo về thái độ sống bảo vệ môi trường, Lưu hành nội bộ, tr. 324.
10. Hòa thượng Thích Minh Châu dịch (1991). Kinh Trường Bộ 1, 16. Kinh Đại Bát Niết Bàn, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 574.
11. https://giacngo.vn/. Cập nhật ngày 22/7/2018.
12. Hàn Ôn soạn (2001), Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam, khảo cứu, Minh Đăng Quang Pháp giáo, cơ sở tinh thần, tái bản lần 2, do chúng Minh Đăng Quang ấn hành, Sài Gòn – Gia Định, tr. 59.
13. HT.TS. Thích Trí Quảng, HT.TS. Thích Giác Toàn, TS. Nguyễn Quốc Tuấn chủ biên (2016), Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Hệ phái Khất sĩ quá trình hình thành phát triển và hội nhập, NXB. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 1059.
14. Thích Giác Duyên (2014), Hệ phái Khất sĩ, 70 năm hình hành và phát triển. NXB. Tôn Giáo, Hà Nội, tr. 40 – 41.
15. HT.TS. Thích Trí Quảng, HT.TS. Thích Giác Toàn, TS. Nguyễn Quốc Tuấn chủ biên(2016). Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, Hệ phái Khất sĩ quá trình hình thành phát triển và hội nhập, NXB. Hồng Đức, Hà Nội. tr.1060.
16. Hòa thượng Thích Trí Quảng (2011), Phật giáo nhập thế và phát triển (Quyển III), Ý nghĩa Hóa thân Phật thuyết pháp, NXB. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 115.