Mua cá

218

  Trong cuộc đời tu hành tôi sợ nhất là đi mua cá cho chó. Chẳng phải vì sợ cực hay sợ hôi tanh, dơ dáy mà cái tôi sợ và lo lắng nhất là những ánh mắt dò xét, những câu hỏi ẩn ý, những thái độ khinh khỉnh khó chịu của mọi người trước sự xuất hiện của một kẻ tu hành giữa chợ cá để… mua cá.

Thực ra tôi chưa từng đi mua cá, chỉ nghe các sư huynh kể thôi là đã toát mồ hôi hột. Mỗi lần đi chợ mua cá thường bắt gặp những câu hỏi quen thuộc như:

– Cô mua cá chi vậy?
– Dạ cô mua cá về cho chó.
– Sao chó mà ăn sang vậy cô?
– Dạ tại mua một lần để ăn tới cả tháng.
– Chùa nuôi chi lắm chó vậy cô?
– Dạ tại người ta đem bỏ vô chùa nên chùa phải nuôi.
– Sao không cho tụi nó ăn chay luôn cô?
Có tiếng bực bội:
– Dịch dã người còn không có cá ăn mà mua cho chó.
Thế nhưng dù tôi có lo lắng cỡ nào cũng không thể trốn tránh được nhiệm vụ mà đối với tôi nó vô cùng khó khăn ấy.

Chiều nay lần đầu tiên trong đời tu hành tôi đi vào chợ mua cá. Tôi tự động viên mình: “Cố lên! Hãy học theo các bậc thánh nhân thõng tay vào chợ.” Nhưng sao tôi vẫn cảm thấy ngượng ngùng, lóng ngóng, cúi gầm mặt cứ thế lầm lũi đi. Mắt tôi nhòe đi trước thực tại nhưng tai tôi vẫn nghe rất rõ âm thanh náo nhiệt của chợ cá buổi chiều. Tiếng rao mời, tiếng mặc cả mắc rẻ, tiếng thúc giục chen lấn, tiếng còi xe inh ỏi, tiếng cười nói xôn xao… tất cả tạo thành một âm thanh hỗn độn đi kèm với sự hối hả của kẻ mua người bán để kịp về nhà trước khi màn đêm buông xuống. Tôi chợt nhớ đến bài kinh Catuma (Trung Bộ kinh, số 67) kể rằng: Khi Thế Tôn ở tại Catuma trong rừng cây Kha-lưu-lạc (Myrobalan). Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta (Xá-lợi-phất) và Moggallana (Mục-kiền-liên) dẫn đầu cùng đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, nên các tiếng náo động ồn ào khởi lên. Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda: “Này Ananda, các tiếng náo động ồn ào kia là các tiếng gì, thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau”.

Tôi tiếp tục bước từng bước chân nặng nề miễn cưỡng vừa nhớ lại có một lần đi ngang chợ cá, Đức Phật dạy Ngài Ananda rằng: “Thân cận người tốt như vào hàng hoa. Khi đi ra hương thơm còn vương vấn. Gần gũi người xấu như vào hàng cá. Quen tanh rồi, chẳng biết mình tanh.” Lòng tôi bỗng chùng xuống khi nghĩ đến thân phận của những người bán cá. Có lẽ họ đã quen rồi nên không còn cảm thấy khó chịu với không gian nồng nặc mùi cá. Hoặc vì cuộc sống cơm áo gạo tiền nên bắt buộc họ phải chấp nhận và dần thích nghi.
Theo lời sư huynh chỉ dẫn, tôi đi xuống ngay sạp cá của bà bán cá quen phía cuối chợ. Bà bán cá thấy tôi liền mừng rỡ nói:

– Cô ơi. Hôm nay có cá ngừ. Con kêu thằng con trai của con gọi điện cho cô xuống lấy mà mãi nó chưa gọi. Con cân cho cô 10 ký nha. Hai trăm ngàn nha cô.
– Dạ.
– Để con dẫn cô vô trong đường luồng này ngồi cho khuất chứ đứng ngoài đây chờ lâu kỳ lắm.

Thấy bà bán cá vui vẻ nhiệt tình tôi cũng đỡ lo hơn. Ngồi nhìn bà làm cá mà lòng tôi thương vô hạn. Giữa đống cá ngổn ngang tanh hôi ánh lên một khuôn mặt thật hiền lành và chất phác. Tôi đoán bà khoảng 60 hay sáu mấy tuổi gì đó. Đôi tay bà thoăn thoắt ra vẻ thạo nghề. Bà mỉm cười đôn hậu và nói chuyện rất từ ái với những người hỏi mua cá, dù cho đó là vị khách hàng khó tính chê mắc chê rẻ, cá ươn cá dở… Lúc tôi đưa tiền bà cười hì hì nhét vào bị mà không cần biết thiếu đủ.

Tôi thầm nghĩ đến câu cửa miệng khi người ta mắng nhau: “Miệng mồm mày giống mấy con mẹ bán cá quá.” Và nhìn lại bà, tôi thấy có gì đó sai sai trong câu ví von ấy. Nhưng biết làm sao được khi cái nghề nó đã đeo mang sẵn cái nghiệp.
Cổ đức từng nói: “Thứ nhất tu nhà. Thứ hai tu chợ. Thứ ba tu chùa.” Tôi không biết bà bán cá có phải là Bồ tát hay không. Nhưng nhìn vào phong thái của bà tôi thấy bà thật an nhiên tự tại giữa chợ cá xô bồ.

Nhớ lại tâm trạng ngượng ngùng của mình khi bước chân vào chợ cá, tôi thấy thật xấu hổ. Tâm tôi còn đầy dẫy những phân biệt thị phi tốt xấu, còn dính mắc đến lời khen tiếng chê, còn khó chịu trong hoàn cảnh không được thuận ý… So với bà bán cá, sự tự tại của tôi còn kém xa. Trong mắt tôi bây giờ hình ảnh Bồ tát thõng tay vào chợ chẳng ai xa lạ mà chính là bà bán cá. Chẳng qua kiếp này nhân duyên chưa đủ nên bà tạm thời quên chí nguyện của mình đó thôi.

Khi nhìn những con cá ngừ bị cắt mang, móc ruột, xẻ khúc, tôi thương những con cá mạng sống thật mong manh và càng thương hơn những bà bán cá với những đôi tay đang dính đầy máu cá. Họ và cả tôi đều giống nhau, đều mang thân tứ đại và đang chịu chung quy luật Sanh – già – bệnh – chết.


Tôi nghĩ đôi khi mình cũng cần làm những việc mình không thích để trải nghiệm và mở rộng lòng yêu thương, biết cảm thông và bao dung hơn đối với thế giới quanh mình.
Chợt ngộ ra rằng: “Mua cá cũng là tu hành”.

Như Tuyết