Một chuyến trở về (PHẦN 2)

56

  Thấp thoáng ở đằng xa có bóng dáng hai người thiếu nữ đang đi ngược về phía chàng. Hai người vừa đi vừa trò chuyện trong vui vẻ lắm. Một cô mặc đầm, một cô mặc đồ Tây; trông giản dị nhưng sang và đúng mốt. Huy bỗng nhận ra rằng bây giờ đường phố thiếu vắng những tà áo dài thướt tha. Đến gần hơn, chàng thấy hai cô còn trẻ lắm, trạc 16, 17 là cùng.

Chợt nhìn thấy Stephen, một cô mở tròn đôi mắt, nhanh nhẩu hỏi bằng tiếng anh:
– Xin lỗi, ông đến từ đâu? Có phải ông là người Mỹ không?
Cô nói tiếng Anh rất đúng giọng và đúng văn phạm.
Stephen vui vẻ đáp:
– Chào cô, tôi là người Mỹ. Cô khỏe không?
Cô bé mỉm cười:
– Tôi cũng thường, cám ơn ông. Tôi có thể nói chuyện với ông trong chốc lát được không? Tôi muốn biết Anh ngữ của tôi như thế nào? Tôi tên Dung, bạn tôi tên Loan.
Stephen vui vẻ giới thiệu:
– Đây là Huy và tôi là Stephen.
Trong khi Dung tíu tít nói chuyện với Stephen, Loan hỏi Huy:
– Chú là Việt kiều hay người hướng dẫn du lịch trong nước?
Huy mỉm cười:
– Cô đoán thử xem?
– Chú mập trắng giống như mới từ nước ngoài về. Nhưng xin lỗi chú trước, cái này cháu nói thiệt, cách ăn mặc của chú không giống Việt kiều.
– Thế Việt kiều phải ăn mặc ra sao?
Cô bé rành rọt trả lời:
– Nếu không mặc com – lê và đeo kính Ray Ban thì ít ra cũng mặc Jean Levi, áo thun Polo đàng hoàng.
Huy thích thú theo dõi:
– Rồi sao nữa?
– Khi nói chuyện thì chen phân nửa tiếng ngoại quốc, phân nửa tiếng Việt.
– Tại sao?
Cô gái nhún vai:
– Họ nói đi lâu ngày quên tiếng Việt gần hết!
Vui câu chuyện, Huy hỏi tới:
– Thế cô có phân biệt Việt kiều từ nước nào về không?
– Dạ có chứ! Việt kiều ở Pháp ăn mặc sang nhất nhưng ít chi tiền; Việt kiều ở Mỹ rải tiền ra để lấy tiếng còn người từ Úc về tương đối khiêm nhượng hơn, họ ở mức trung bình của hai hạng trên.
Rồi sẵn trớn, cô nói luôn, tỏ ra mình lịch lãm:
– Cháu còn có thể biết được người Việt tại bản xứ, ai sắp đi, ai có tiếp viện và ai là cán bộ “thời đại”.
Huy không muốn đi vào khía cạnh này chàng hỏi lảng sang chuyện khác:
– Thế cô thuộc thành phần nào?
Mắt cô bé sáng ngời vẻ kiêu hãnh:
– Cháu sắp cùng gia đình đi Úc còn Dung đi Mỹ. Vì thế, tụi cháu không học trường phổ thông, chỉ học sinh ngữ và toán, lý, hóa do mấy Thầy dạy tư đến nhà dạy.
Huy chợt nhớ mình phải lo mướn xe đi Đà Lạt thăm Thầy vào ngày mai, anh nhìn Stephen ra hiệu nói:
– Chúng tôi có công việc phải đi, thôi chào hai cô nhé!
Hai cô bé đồng giơ tay vẫy chào:
– Nice to meet you! Bye!
Đi được một khoảng ngắn, Stephen tỏ ý tiếc rẻ, anh nói nhỏ:
– Hồi nãy tôi định mời hai cô ấy đi uống nước hay ăn kem!
Huy lắc đầu:
– Phong tục người Việt chúng tôi hơi khác Mỹ. Người con gái đàng hoàng không bao giờ nhận lời đi ăn với đàn ông con trai vừa gặp gỡ ngoài đường.
Người tài xế dừng xe lại trước cổng chùa thuộc vùng ngoại ô thành phố Đà Lạt. Tự nhiên Huy cảm thấy hồi hộp. Núi đồi còn mờ sương nhưng mái chùa đã hiện rõ nét. Ngày xưa thỉnh thoảng chàng được theo Thầy tới đây, những lúc Thầy cần tịnh dưỡng. Hai cây tùng Thầy trồng phía ngoài cổng Tam quan giờ đã lớn quá, đứng sừng sững giữa trời.
Chàng móc túi lấy tiền tặng người tài xế và mời bác vào chùa uống nước nghỉ ngơi.
Bác tài vui vẻ đáp:
– Cám ơn chú, hãng xe có trạm nghỉ gần chợ, tôi đến đấy tiện hơn.
Hai người vừa vào trong đã gặp ngay vị Sư trụ trì đang chờ. Vị này trước kia Huy cũng biết qua, chàng nhận ra vì trông không khác xưa mấy, người tu trẻ lâu, chắc vì không phải bận tâm với những chuyện thế gian.
– A Di Đà Phật! Chào hai cậu, tôi là Thiện Hải. Thầy dạy tôi mời hai cậu lên lễ Phật, dùng cháo điểm tâm rồi lên hầu chuyện với Thầy.
Stephen bắt chước Huy chắp hai tay trước ngực, cúi đầu xá nhà Sư. Chàng thấy cách chào này thật hay vì biểu lộ được lòng tôn trọng của mình.
Nhà Sư cũng chắp tay chào đáp lễ rồi dẫn hai người lên chánh điện. Thầy Thiện Hải nói:
– Chánh điện vừa được nới rộng và sửa sang lại chừng ba tháng nay!
Huy đưa mắt nhìn quanh rồi hỏi:
– Công việc tái thiết ở đây chắc cũng xong rồi, thưa Thầy?
Vị Sư lắc đầu:
– Xong việc này thì Thầy mình bắt sang việc khác ngay. Bây giờ Thầy đang cất làng an dưỡng cho người già, nơi khu rừng phía sau.

Nói xong, Thầy im lặng cử ba tiếng chuông cho hai người lễ Phật. Khi hai người trở xuống trai đường thì bữa ăn sáng đã dọn sẵn với hai tô cháo trắng còn bốc hơi thơm mùi gạo mới và dĩa dưa cải xào tương. Huy nhớ lại những ngày thọ bát, sau thời công phu sáng, giới tử đều được ăn sáng như thế này. Ngày thường, chúng xuất gia chỉ ăn sáng với cháo và dưa cải – cải do mỗi chùa tự trồng và làm dưa để dành ăn quanh năm – hôm nào có đoàn Bát Quan Trai, Thầy dạy xào dưa cải với tương cho cư sĩ dễ ăn.

Sáng nay, vừa mệt vừa đói sau cả đêm ngồi xe lên dốc xuống đèo, hai người ăn thật ngon miệng. Chú tiểu bưng lên thêm hai tô cháo nữa, Stephen mỉm cười thích chí, Huy bắt gặp trong ánh mắt ấy nét trẻ thơ trong sáng vô cùng…

Sau đó, Huy cùng bạn nối gót sư Thiện Hải đến am của Sư trưởng với những bước nhẹ nhàng, thong thả. Huy nhớ lời Thầy dạy: Khi đi phải giữ im lặng và chú ý vào từng bước chân, bước những bước đi tỉnh thức… Tự nhiên Huy thấy tỉnh táo lạ thường, đầu óc như mảng trời xanh trong. Thỉnh thoảng chàng có những phút giây diệu kỳ như vậy nhưng khi vừa ý thức được điều đó thì giây phút ấy không còn nữa. Chàng nghe đâu đây mùi thơm của vỏ cam, vỏ quýt khô đang un khói, mùi hương này rất quen thuộc vì mỗi khi đến phụ việc kinh sách với Thầy, chàng đều được thở không khí thơm tho dịu dàng này. Mùi hương làm thông cả buồng phổi và ấm cả lồng ngực.

Sư Thiện Hải nhẹ mở cửa, vào trình Thầy rồi trở ra, bảo hai người vào. Tim chàng đập mạnh khi được nhìn thấy Thầy. Người ngồi trên chiếc ghế mây có cái gối kê sau lưng. Mặt người ốm và đen như cái tượng đồng tạc vị A-la-hán thuở xưa. Đôi mắt người biểu lộ sự tinh anh, cương quyết và uy nghiêm làm cho kẻ đối diện phải nể vì, tùng phục.

Trong lúc chàng còn đứng yên vì xúc động, Stephen đã sụp xuống lễ dưới chân Người. Huy sực tỉnh, chàng phủ phục dưới chân Sư phụ.
Thầy mỉm cười hỏi:
– Hai con đi đường có mệt không?
Huy quay qua thông dịch cho Stephen rồi trả lời:
– Thưa, nhờ có cháo nóng, chúng con đã khỏe.
Stephen thì lắc đầu, cười, rồi nhìn Thầy đăm đăm.
Thầy hỏi thăm về cuộc sống của Huy và Mai trên xứ người, về gia đình và sự tu học của hai người.
Huy thưa:
– Bạch Thầy, Mai và con đều được chỗ làm tốt, cuộc sống không đến nỗi vất vả. Gia đình chúng con sống rất hạnh phúc, có lẽ nhờ chúng con đều được thấm nhuần giáo lý nhà Phật và biết áp dụng vào đời sống. Tuy nhiên, hạnh phúc đó, nếu so với sự an lạc của người tu thì thật không đáng vào đâu.
– Con đừng so sánh như vậy không nên. Mỗi người có nghiệp duyên, có hoàn cảnh khác nhau. Biết sống và biết tu thì tất nhiên có an lạc, không đợi gì xuất gia.
Biết Huy luôn mang mặc cảm đã không thực hiện được ý định xuất gia của mình thuở nhỏ, nhà Sư bắt sang chuyện khác:
– Đây là anh bạn đạo người Mỹ mà con đã giới thiệu cho Thầy trong thư, phải không? Thầy muốn nói chuyện với cậu ấy, con hãy thông dịch lại.
Huy quay sang Stephen:
– Thầy muốn nói chuyện với anh.
Nhà Sư nhìn Stephen một lúc rồi hỏi:
– Con nghiên cứu đạo Phật được bao lâu rồi?
– Thưa Thầy, hơn hai năm!
Nhà Sư nhẹ gật đầu, hỏi tiếp:
– Con hiểu đạo Phật như thế nào?
Stephen thưa:
– Đạo Phật là đạo của từ bi và giác ngộ.
Thầy cười:
– Con đừng nói theo sách vở, hãy nói chỗ tâm đắc của con.
Stephen có vẻ lúng túng, chàng suy nghĩ một hồi lâu rồi nói:
– Người đời chú trọng tới cái tôi của mình quá nhiều, mọi suy nghĩ và việc làm đều nhằm mục đích phục vụ cho cái tôi của mình trước nhất. Lúc nào mình cũng sẵn sàng bênh vực, bảo vệ cho cái tôi của mình, dù nó đúng hay sai. Nhưng hiểu cho tới cùng thì cái tôi đáng ghét ấy lại là nguyên nhân gây ra sự đau khổ cho mình và cho người. Đạo Phật dạy con người phương pháp sống an vui bằng cách xả bỏ ngã chấp. Càng buông bỏ được bao nhiêu thì hạnh phúc càng lớn bấy nhiêu.
– Vậy theo chỗ con biết ngã chấp xuất phát từ đâu? Tại sao chúng sanh nào cũng ngã chấp?
Stephen nhanh nhẩu đáp:
– Tại vì vô minh!
Thầy lặng thinh, Thầy biết rằng ai nghiên cứu Phật pháp mà không được hướng dẫn cũng đều bị vướng mắc vào danh từ, thuật ngữ chứ khó thể thâm đạt được lý nghĩa thậm thâm.
Một chập sau, Thầy chỉ cái bàn trước mặt hỏi:
– Cái bàn này do ở đâu mà có?
– Thưa, do người thợ mộc phối hợp gỗ, đinh, sơn mà có.
– Trước khi những thứ đó hợp lại, cái bàn ở đâu?
Stephen thẳng thắn đáp:
– Dạ, nó không ở đâu hết vì không ai thấy nó cả.
Nhà Sư ôn tồn nói:
– Con nên biết, cái chỗ “không ở đâu hết” mà con không thể thấy, không thể nghĩ tới, không thể nói được đó, lại là nguồn gốc chung của mọi sự vật, từ sinh vật hữu hình đến sinh vật vô hình, từ hữu vi đến vô vi… Người tu theo đạo Phật luôn luôn tìm hướng quay về nguồn cội đó, tìm cách để nhập vào bản thể chung đó. Khi trở về được rồi thì nhìn muôn sự, muôn vật đều bình đẳng: Phật với chúng sanh không khác, thiện và ác không hai. Cho nên, cũng không thấy mình đối lập với người, tất cả đều nhất như bình đẳng. Khi ấy, chẳng những buông bỏ được ngã chấp mà pháp chấp cũng không còn. Đó là phép tu của hàng Đại thừa.

Stephen chăm chú nghe như muốn uống từng lời, nuốt từng tiếng. Chàng cúi đầu lặng im cho dòng tư tưởng mới tiếp thu ấy thấm sâu vào tâm não.

Cả phòng im lặng đến nỗi Huy nghe được tiếng chim ngoài sân. Trời đã sáng, nắng hồng vào tận am tranh.

Một lúc sau, Stephen ngẩng đầu lên, anh hỏi:
– Thưa Thầy, làm sao có thể trở về?
– Mỗi Pháp môn dạy một cách trở về. Riêng tôi, tôi dạy hàng đệ tử am tường lý Bát Nhã và thực hành thiền định. Hai pháp này hỗ trợ cho nhau. Nếu chuyên cần tu học hai pháp ấy thì có thể buông bỏ được vọng tưởng phân biệt để ngộ nhập tâm bình đẳng vô phân biệt, còn gọi là trí huệ Bát Nhã, là tánh giác vốn sẵn có của mỗi người. Tánh này tương ứng cùng bản thể của vũ trụ, vạn hữu.
Stephen đưa mắt nhìn Huy như hội ý rồi ngập ngừng hỏi:
– Thưa Thầy, trong thời gian mươi ngày, con có thể học được một phần nào chăng?
Thầy gật đầu:
– Nếu chuyên cần ngày đêm con có thể học được Tâm Kinh Bát Nhã và phương pháp hành thiền. Sau khi nắm được cái gốc rồi thì sau đó con có thể tự mình chiêm nghiệm và tự mình hành trì.
Stephen đứng lên cung kính đảnh lễ nhà Sư và thỉnh cầu:
– Kính xin Thầy vui lòng thâu nhận con làm đệ tử và truyền cho con pháp tu vi diệu ấy.
Sau khi Thầy gật đầu hứa khả, hai người đảnh lễ rồi lui ra.
Họ thong dong bước theo con đường mòn dẫn ra khu rừng vừa mới được khai phá để xây cất làng an dưỡng.
Huy hỏi nhỏ:
– Thế anh định ở đây luôn cho đến ngày về, không đi tham quan nơi nào khác à?
Stephen cười:
– Gặp kho tàng đầy châu ngọc mà còn đi ngao du sơn thủy làm gì cho phí thì giờ!
Mai và các con ra đón hai người ở phi trường. Hai đứa nhỏ vừa trông thấy cha đã chạy đến ôm chặt lấy chàng. Huy dang rộng đôi cánh tay ôm con và đưa mắt nhìn vợ, cái nhìn trĩu nặng nhớ thương.
Stephen tiến đến chào Mai và khoe:
– Tôi đã quy y với Sư trưởng. Pháp danh là Chí Pháp.
Mai cười vui:
– Chúc mừng anh nhé! Từ đây chúng ta trở thành anh em một nhà rồi đó!
Sau khi đưa Stephen về nhà, gia đình Huy có bữa ăn sum họp, bữa ăn dưới những ngọn nến lung linh, trong tổ ấm êm đềm. Huy cảm thấy ấm áp vô cùng và quên hết những mệt nhọc đường xa.

Hai đứa con tíu tít, đứa hỏi chuyện này, đứa hỏi chuyện kia; chàng âu yếm trả lời từng chút một. Sau đó, hai đứa dành phần dọn dẹp, rửa chén cho ba mẹ có thì giờ trò chuyện cùng nhau.

Mai rót cho Huy ly trà nóng, trà mạn sen do Thầy biếu mà chàng vừa mang về. Hương trà làm chàng liên tưởng đến những ngày vui thanh tịnh vừa qua.
Mai ân cần hỏi han:
– Chuyến đi rồi có gì vui, có gì buồn, anh nói cho em nghe đi!
Huy uống thêm một ngụm trà, trầm ngâm một chút rồi thong thả nói:
– Vui có, buồn có em à! Để từ từ anh kể lại hết cho em nghe. Anh vui là thấy bà con thân tộc đều còn đủ, căn nhà kỷ niệm của ba má được vợ chồng chú Tiến giữ gìn cẩn thận và anh đã giúp chú Tiến đúng lúc. Càng vui hơn nữa là được gặp Thầy, được cùng Stephen nghe pháp, có thì giờ rảnh rang để tọa thiền và giúp Thầy trong công tác xây dựng.
Huy nói tới đó thì ngồi yên, Mai nóng lòng hỏi:
– Còn buồn về việc gì?
– Nhiều nỗi buồn man mác, linh tinh, do sự suy nghĩ của mình khác người ta. Có một cái buồn theo anh suốt trên đường về.
Mai nhìn chồng chờ đợi. Huy thấp giọng, kể:
– Việt kiều ở Mỹ về nước thường vung tiền ra ăn chơi hoặc là bố thí để khoe khoang. Anh không làm như vậy, một là tánh mình xưa nay không như thế; phần khác vì số tiền anh đem theo chỉ có giới hạn mà Tiến thì cần tiền ngay để hoàn tất thủ tục sang tên nhà. Anh lại muốn cúng dường Thầy số tiền kha khá để góp phần vào công trình lớn mà Thầy đang thực hiện; do đó anh không còn tiền để phân phát cho bà con như chú Bảo, con cô Tư đã làm.
– Còn ngày đón anh thì bao nhiêu người ra phi trường, ồn ào nô nức, ngày anh đi, bận ngày mùa chỉ có gia đình chú Tiến và chú Ba thôi, hơi buồn.
– Đến phi trường, nhìn anh, có người nói:
– Ờ, cù lần thấy mồ!
– Việt kiều dỏm.
Mai nắm tay chồng an ủi:
– Anh à! Ở đời chẳng phải ai cũng cùng quan niệm sống như mình đâu! Mình chê người này thì cũng có người khác chê mình lại; đó là lẽ thường. Điều quan trọng là trước những lời khen chê mình nên giữ tâm trạng bình thản. Muốn được vậy mình hãy hiểu người trước khi người hiểu mình.
Huy nhìn vợ với vẻ cảm phục:
– Anh cám ơn em. Lời khuyên của em rất chí lý. Nếu hiểu biết, mình sẽ dễ dàng tha thứ và thương yêu.
Bỗng nhiên, một tia sáng chợt lóe lên trong đầu, Huy hớn hở nói:
– Em à, có lẽ với hiểu biết và thương yêu, mình sẽ dần dần sống được với tinh thần bình đẳng vô tư.
Mai đồng ý:
– Em vẫn nghĩ thế! Em nhớ ngày xưa, Thầy có dạy rằng: “Hành giả đang tu học cũng như người lái xe, phải luôn luôn chuyên chú nhắm vào mục đích của mình mà tiến tới. Khi nào phiền não sân hận nổi lên thì nên biết rằng mình đang lạc vào nẻo tối tăm, nguy hiểm, hãy tìm cách quay trở ra con đường chánh. Chỉ con đường rộng rãi, thênh thang và đầy ánh sáng mới làm cho mình được an ổn, vui vẻ và đưa mình tới nơi chốn bình yên, quê hương đầy hạnh phúc.”
– Đúng rồi em ơi! Đạo ở ngay trong cuộc sống, chẳng ở đâu xa. Khi mình biết cách chuyển hóa phiền não là mình được hưởng sự an lành ngay. Và chính những ngày tháng an lành hôm nay là nhân tố quyết định cho đời sống mai sau.


Huy cảm thấy những điều thị phi, những ưu phiền chẳng còn khuấy động tâm tư. Hạnh phúc đang ở quanh đây, thật đơn giản vô cùng!

Bích Thu