Mẹ hiền Quán Thế Âm

1037

 Ngày ấy năm Tân Hợi (1971) tôi rời xa xứ Quảng, vào Nam tha phương học Đạo. Mỹ Khê cũng  là một trong sáu danh lam thắng cảnh của Quảng Ngãi.

Mọi người lần lượt bước lên tàu, đến phiên tôi cũng như bao nhiêu người hành khách khác. Nhưng khác hơn, họ tay xách nách mang, con cái đùm đề, còn tôi chỉ một gói hành trang nho nhỏ. Tôi quay đầu nhìn lại nơi chôn nhau, cắt rốn lần cuối, vì ra đi không biết ngày nào trở lại?

Chiếc tàu từ từ nhổ neo, hướng ra biển cả, thuyền vượt ra khơi, những con sóng bạc đầu hung hãn chồm lên, như muốn ăn tươi nuốt sống cả chiếc tàu. Với kinh nghiệm của thuyền trưởng, tuy chậm nhưng rồi cũng vượt ra khỏi cửa biển Mỹ Khê. Càng ra xa sóng càng êm, nước xanh biêng biếc, những con cá lớn bơi lội trông rất đẹp, chúng bơi lội thong dong, dường như cuộc sống của chúng bình an. Trời về chiều ánh nắng yếu ớt, phản chiếu một màu vàng nhạt rồi tắt lịm, sau dãy núi ở chân trời xa thẳm. Bầu trời tím dần rồi tối hẳn, chỉ còn ánh đèn trong khoang tàu tỏa ra ánh sáng mờ mờ. Khoảng nửa đêm chúng tôi đang ngủ, nghe tiếng ì ạch của nhân viên trên tàu đang sửa máy. Chúng tôi không ai gọi ai nhưng mọi người đều thức dậy, giữa biển cả mênh mông nếu nước tràn vào, không có tàu khác cứu hộ thì làm sao bây giờ? Chỉ người lớn lo nghĩ xầm xì với nhau, không dám đánh thức đám trẻ con, sợ chúng lao nhao thì bấn loạn cả tàu. Bỗng tôi sực nhớ lời Sư bà Chùa Tịnh Nghiêm Quảng Ngãi, kể về Thượng tọa Trừng Ninh, lúc từ đảo Lý Sơn trở về đất liền, thuyền sắp chìm. Thượng tọa bảo niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thế là thuyền được cá ông đưa vào bờ nên thoát nạn. Tôi liền khuyên mọi người trên tàu thành tâm niệm. “Nam mô tầm thinh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát, chúng con đang lâm nguy, xin Ngài đến cứu chúng con”. Đứng giữa biển cả bao la, chín phần chết một phần sống, sấm sét long trời, những tia sáng chớp nhoáng cứ giáng vào tàu chúng tôi, cả tàu không còn dám nghĩ chuyện gì khác, ngoài việc tha thiết niệm danh hiệu Ngài. Quả nhiên nửa giờ sau, một cơn gió lớn, sóng thật to đẩy mạnh, chúng tôi tưởng chừng như tàu sắp chìm, đêm nay chắc làm mồi cho cá !!! Nhưng lạ thay tàu chúng tôi đánh dạt vào bờ ở bãi biển Nha Trang, trong bóng đêm chúng tôi không biết có cá ông đẩy tàu hay không? Hú hồn, chỉ biết cả tàu thoát chết, chúng tôi theo cầu phà vào bờ, biết tàu có sự cố không tiếp tục hành trình được, nên thuyền trưởng thuê tàu khác cho chúng tôi đi tiếp, nghỉ ngơi đến sáng hôm sau mới khởi hành. Một đêm kinh hoàng và cũng là một đêm đầy kỷ niệm, từ đó đến nay bốn mươi sáu năm, trải qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời hành đạo, tôi nhớ mãi sự nhiệm mầu cứu hộ của Mẹ hiền Quán Thế Âm mà vững bước trên lộ trình giải thoát.

Ngài Quán Thế Âm là một vị Bồ tát đã Giác ngộ Chân lý, chứng được “Nhĩ căn viên thông” nên nghe được tất cả âm thanh, tiếng cầu cứu của muôn loài trong vũ trụ khi bị lâm nguy. Trong kinh Pháp Hoa phẩm Phổ Môn, Ngài phát ra mười hai đại nguyện, nguyện nào cũng vì lợi ích cho chúng sanh. Ngài ứng hiện ba mươi hai thân. Để cứu độ giáo hóa chúng sanh, từ cõi Ta bà đến khi chúng sanh mãn duyên cõi trần, Ngài và Ngài Đại Thế Chí trợ lực Đức Phật A Di Đà, tiếp rước vong linh sanh về Tây phương Cực lạc. Có lúc cần hiện thân Phật, thân Bích Chi Phật, thân Thinh Văn để thuyết pháp, Ngài liền ứng hiện thân Phật hoặc thân Bồ tát để làm các Phật sự. Có khi Ngài hiện thân cư sĩ, thân Tể quan, Bà La Môn,… để cứu vớt, Ngài độ sanh không hề mỏi mệt. Với từ lực vô biên, từ tâm rộng lớn của Bồ tát Quán Thế Âm, hễ nghe chúng sanh kêu cứu là Ngài thị hiện đến cứu ngay. Như con thơ cần có Mẹ, Mẹ mới đến bên giường ẵm bồng cho bú. Chúng ta cũng vậy, có thành tâm nguyện cầu thì mới có cảm ứng. Với hạnh nguyện độ sanh Ngài phát nguyện, luôn luôn ở biển Nam Hải để cứu vớt chúng sanh sắp bị chìm đắm.

“Gió dông đi biển chìm thuyền
Niệm danh Bồ tát sóng tan hết liền”.

Tôi là người lâm nguy được Ngài cứu vớt và cứu cả trăm người trong chiếc tàu đêm hôm ấy, đó là về sự, còn đứng về lý tánh mà nói, là chỉ cho tâm con người. Khi tâm chúng sanh bị: “Vui, buồn, hờn, giận, yêu, ghét, muốn” nổi lên, làm mình đảo điên, đau khổ. Lúc đó chỉ cần ta nhất tâm niệm danh hiệu Ngài, thì tâm sẽ được lắng dịu, bình tĩnh trở lại. Lúc tâm mình sân si nổi nóng, khác nào rồng độc, quỷ dữ gào thét, phun lửa. Chính lúc ấy, chúng ta lạc vào rừng sâu gặp thú dữ, hay bị dông gió nhận chìm ghe, thuyền. Trong kinh Đức Phật dạy: “Một phút sân đốt cháy cả rừng công đức”. Lúc tâm lắng dịu, tâm hồn ta hiền hòa như nước biển đại dương, mênh mông vô tận.

“Diệu Âm, Quán Thế Âm
Phạm Âm, Hải Triều Âm”.

Khi tâm ta thanh tịnh, mới nghe được tiếng vỗ của hải triều, thanh thoát du dương, như lời kinh chuyển tải sự nhiệm mầu vào cuộc sống. Mặt nước lặng yên dụ cho tâm chúng sanh được an định, trăng xuất hiện dụ cho trí tuệ. Có Định, có Tuệ là nhờ có Giới. Mà Giới, Định, Huệ là nền tảng của Tam Vô Lậu Học, là thuyền bè đưa chúng sanh thoát ly sanh tử luân hồi. Tay phải Đức Quán Thế Âm cầm cành dương liễu mềm dịu, nhưng rất dẻo dai, dụ cho Ngài đi vào đời, đã dùng lòng Từ bi và đức tánh Nhẫn nhục, mà hóa độ chúng sanh nan điều, nan phục, bỏ tà kiến, quay về với chánh pháp.

Vậy chúng ta là đệ tử của Phật, chúng ta nên học theo lòng Từ bi, hạnh Nhẫn nhục của Mẹ hiền Quán Thế Âm, vào đời tiếp bước quý Ngài thực hành hạnh lợi tha, làm lợi ích quần sanh.

Ni Sư Phước Giác