Lý giải tư tưởng nhà Phật qua triết lý Nho giáo

299

  Ngài Tuệ Sỹ từng nói “Rượu ngon không hệ trọng ở bình chứa.”1 Theo Ngài, chân lý của Phật giáo sẽ tùy nghi được phô diễn bằng các hình thức vay mượn bất cứ loại hình ngôn ngữ nào như “văn dĩ tải đạo” hay “dĩ Nho giải Phật” hay trong Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp cũng đã chỉ rõ mục đích vay mượn “Cái tự nhiên (đạo) nhờ các thánh nhân mà thành văn chương; các thánh nhân ngược lại dựa vào văn chương để làm sáng tỏ cái lẽ tự nhiên (đạo).”2 Và tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh do Thiền sư Hải Lượng và các đạo hữu sáng tác, cũng là một trong những tác phẩm điển hình cho hình thức vay mượn cụ thể là “dĩ Nho giải Phật” (dùng triết lý nhà Nho để lý giải tư tưởng Phật giáo).

Với các hình thức vay mượn ngôn ngữ không ảnh hưởng đến nội dung tư tưởng giáo pháp cần chuyển tải, vì thực ra một khi nội dung giáo pháp càng được mở rộng, phổ biến thì diện tích của các hình thức vay mượn càng bị thu hẹp dần. Cho đến một lúc nào đó, con người ta đã thông thấu giáo pháp đạt đến vô hạn và tận cùng trong tuyệt đối bất khả tri, người ta sẽ tự quên đi mọi phương tiện diễn đạt qua các hình thức ngôn ngữ. Do vậy, các hình thức ngôn ngữ chỉ đóng vai trò là phương tiện, như dùng thuyền để qua sông, hay ngón tay chỉ trăng, còn nội dung giáo pháp mới là cứu cánh. Điều này được minh chứng vào thời Đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài cũng không quan trọng hình thức ngôn ngữ, điều then chốt làm sao để cho chúng sanh hiểu được giáo pháp và thực hành, đó là mục tiêu quan trọng hàng đầu. Để đạt được kết quả hữu hiệu, Đức Thế Tôn đã đưa ra phương châm học giáo pháp của Ngài bằng chính ngôn ngữ của dân tộc đó, có như vậy họ mới dễ hiểu, dễ thâm nhập. Qua câu truyện dưới đây chúng ta sẽ hiểu hơn về điều này:

“Thời Đức Thế Tôn có hai vị Tỳ-kheo người Bà-la-môn đến xin Đức Phật chuyển tất cả những lời dạy của Đức Phật sang tiếng Sanskrit, Đức Phật không đồng ý, Ngài nói hãy để các dân tộc học pháp Như Lai bằng ngôn ngữ của họ. Với tín đồ ở Ma-kiệt-đà thì Phật nói tiếng Magadhi. Với tín đồ ở Tỳ-xá-ly, Ngài nói tiếng nước Vajji…”3

Ngang qua đây, chúng ta hiểu được thâm ý của Thiền sư Hải Lượng vì sao dùng những điển tích, điển cố, ngôn ngữ của Nho giáo đã thể hiện trong tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh. Bởi vì hiện trạng Nho giáo ở giai đoạn này vẫn đang chiếm thế thượng phong trong chính sự. Phần lớn các nhà Nho có những thái độ không bằng lòng đối với Phật giáo, không hiểu giáo pháp, chỉ trích bừa bãi, phê bình vung vít,… Những hành động này, theo Tiến sĩ Thích Hạnh Tuệ nhận định có thể đã ảnh hưởng đến tình hình đất nước “Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho nguyên khí quốc gia suy yếu, dẫn đến nổi loạn lạc trong một thời gian dài.”4 Ở thế kỷ XVIII này, cuộc hỗn chiến đã lên đến cực điểm. Bấy giờ là sự băng rã toàn diện, xét từ góc độ bên trong, đến cái phong vận sặc sỡ bên ngoài vốn là những biến tướng phồn tạp đa dạng không thể che đậy nổi những gì thối nát, trống rỗng của triều đại phong kiến. Đối diện với những hiện trạng đó trong thời đại của mình. Nhiều nhà Nho trí thức tích cực tìm phương thuốc nhằm ổn định trật tự xã hội, hóa giải chiến tranh, để trả về cuộc sống yên bình, hạnh phúc cho mọi người, trong đó có Thiền sư Hải Lượng.

Một trong những phương thuốc theo Kim Định đưa ra trong bài viết “Nho học và vấn đề cải tạo xã hội” như sau: “Cải tạo một xã hội thì việc phải lo trước nhất là tìm cho nó một hướng tiến, một cơ sở tinh thần đặng làm hồn sống bơm sinh lực vào các ngành ngọn, cơ sở tinh thần ví giống như con tim. Chưa hề có tim yếu mà người khỏe. Cũng thế không có xã hội lành mạnh mà thiếu một cơ cấu tâm linh rõ ràng buộc mọi phần tử trong xã hội lại thành một sức mạnh để hướng tới mục tiêu.”5 Thật ra, vấn đề này chính bản thân Thiền sư đã nhận rõ được con đường cứu nguy cho đất nước lúc này chỉ có giáo pháp Phật giáo mới có đủ công năng để làm việc đó, mà cụ thể hơn là đường hướng, phương pháp tu tập của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần. Tiêu điểm xiển dương tinh thần vô ngã, nhập thế cứu đời cũng như phương cách huy động, khơi gợi tinh thần đoàn kết toàn dân, đặc biệt là hào khí Đông A đời Trần. Để các nhà Nho trí thức hiểu được điều đó, vì thế Thiền sư Hải Lượng vận dụng triết lý Nho giáo để lý giải tư tưởng Phật giáo với phương châm giúp mọi người hiểu và tu tập lời Phật dạy. Thiền sư biết rằng chỉ khi con người ta biết tu tập thì họ sẽ gạt bỏ được cái bản ngã, cái tâm tham lam, mở rộng lòng nhân ái, biết thương người, thương đồng bào, yêu đất nước, thì họ sẽ đồng tâm hiệp lực, chung tay góp sức bảo vệ quê hương, mà thiền phái Trúc Lâm là một minh chứng lịch sử. Vì thế, ngay từ chương đầu tiên của tác phẩm, Thiền sư Hải Hòa đã chỉ rõ phương hướng xử thế của Thiền sư Hải Lượng một cách rõ ràng: 師處世以儒,出世以單 – Sư xử thế dĩ nho, xuất thế dĩ thiền6 (Thầy ta xử thế bằng đạo Nho, xuất thế bằng đạo thiền). Thật ra, điều này Thiền sư Hải Lượng đã tiếp nối thực hành theo lời chỉ dẫn của vua Trần Thái Tông trong Thiền tông chỉ nam, vua Trần Thái Tông đã dẫn lại lời nói của Lục tổ, phân công rõ ràng giữa Phật giáo và Nho giáo “Tiên đại thánh nhân dữ đại sư vô biệt, Tắc tri ngã Phật chi giáo hựu giả tiên thánh nhân dĩ truyền ư thế dã”7(Bậc đại thánh và đại sư đời trước không khác gì nhau, như thế đủ biết đại giáo của Đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời). Trong chương Không thanh đã vạch ra phương hướng nhiệm vụ mà các Thiền sư cần phải làm: 扣明李奧,開其心冂,單家第一事也。必把儒家說為說者,成以道一而以 – Khấu minh lý áo, khai kỳ tâm quynh, thiền gia đệ nhất sự dã. Tất bả Nho gia thuyết vi thuyết giả, thành dĩ đạo nhất nhi dĩ8 (Chỉ rõ cái lý diệu huyền, mở ra cái tâm sâu kín cho người ta thấy, là công việc thứ nhất của nhà thiền. Muốn làm được việc đó, tất phải dùng đến luận thuyết của nhà Nho để luận thuyết, vì thực ra đạo chỉ là một mà thôi). Phân công làm việc giữa Phật và Nho có sự kết hợp hài hòa nương nhau tồn tại và phát triển, nhưng về sau thì không được như vậy.

Giai đoạn này, đạo đức đang bị xuống dốc trầm trọng, nhiều Nho sĩ không còn thiết gì đến cương thường đạo lý, không còn sống theo phương châm đạo đức của nhà Nho, triết lý như “Tam cương ngũ thường” bị sụp đổ hoàn toàn, triết lý Nho gia nay còn lại chỉ là cái vỏ hẩm nát. Tôi giết vua, con hại cha, anh em bất hòa… Điều này được ghi lại trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái rất cụ thể. Như trường hợp anh em nhà Trịnh Tông – Trịnh Cán chém giết lẫn nhau để giành ngôi vị, vua Lê Chiêu Thống “cõng rắn cắn gà nhà”, kết quả báo ứng phải bỏ ngôi vua để bảo tồn tánh mạng, trong lúc chạy trốn bị Trấn thủ Nguyễn Cảnh Thước lấy hết 40 cây vàng, đã vậy chiếc áo ngự bào nhà vua đang mặc trên người chúng cũng không tha. Hay như Tuần huyện Trang đã tự ý nộp chúa Trịnh Tông cho nghĩa quân Tây Sơn… Triết lý tôn quân lúc bấy giờ hoàn toàn vô hiệu, không có giá trị, lý tưởng sống của một sĩ phu đã bị cuốn trôi bởi vật chất, lòng người đơn bạc, cảnh đời khổ não. Theo Thiền sư Hải Huyền ở chương Hoán thanh, sở dĩ con người ở giai đoạn này rơi vào hoàn cảnh khốn cùng là vì: 世間真見者少,不真見者多,真須喚醒出來,自然興祥亡妖,璧開兩截看定 – Thế gian chân kiến giả thiểu, bất chân kiến giả đa, chân tu hoán tỉnh xuất lai, tự nhiên hưng tường vong yêu, bích khai lưỡng tiệt khan định (Trên đời này, người biết đúng thì ít, mà kẻ không biết đúng thì nhiều, quả thật cần phải gọi tỉnh dậy ngay, để tự dấy lên điều lành, làm mất đi yêu quái, để nhìn nhận cho rạch ròi).”9 Chính vì thế mà Thiền sư Hải Lượng rất tâm huyết dựng lại những gì đã đổ vỡ, xây dựng lại nền đạo đức vốn có của Nho giáo. Trong cảnh biến loạn như thế, chỉ có giáo pháp thậm thâm vi diệu của Phật giáo mới có thể xây dựng nhân cách của một con người đạt đến vô ngã như trong chương Trác Thanh, Thiền sư Hải Lượng đã nêu ra một nhân chứng lịch sử chứng minh cho điều nói trên: 調御覺皇,捨萬乘而行單身,茹痛六十拳,而身不知痛,是故有而能捨為難 – Điều Ngự Giác Hoàng, xả vạn thặng nhi hành đơn thân, như thống lục thập quyền, nhi thân bất tri thống, thị cố hữu nhi năng xả vi nan (Điều Ngự Giác Hoàng bỏ ngôi vua mà đi bộ một mình, bị sáu mươi cái đấm mà không biết đau)10. Điều này cũng được Thiền sư Hải Âu giải thích thêm ở phần Thanh chú: 御覺皇,棄萬乘如脫屣,受痛打而不知,貪嗔榮辱的念頭,一毫都不著,故能成佛 – Điều Ngự Giác Hoàng, khí vạn thặng như thoát tỷ, thụ thống đả nhi bất tri, tham sân vinh nhục đích niệm đầu, nhất hào đô bất trước, cố năng thành Phật (Điều Ngự Giác Hoàng bỏ ngôi vua như vứt dép, bị đánh đau mà không biết, những ý niệm tham, sân, vinh, nhục không mảy may gắn bám, cho nên thành Phật)11. Cũng chỉ có giáo pháp của Phật mới khai mở trí tuệ để nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo, tạo ra những mẫu người lý tưởng, có trái tim yêu thương rộng lớn, cũng chỉ có giáo pháp của Phật giáo mới tô luyện ra được những vị vua anh minh, tài đức, luôn đặt ý muốn của thiên hạ lên trên ý muốn của mình. Thấu triệt điều đó, mục tiêu mà tác phẩm ra đời của Thiền sư Hải Lượng và các đạo hữu hướng đến là đem giáo pháp Phật Đà đến gần với các nhà Nho để hóa giải những mâu thuẫn của từng lớp trí thức Nho giáo đối với Phật giáo. Bằng những thuyết như: Nhân quả, luân hồi, vô thường dùng phương pháp so sánh Thiền sư đã chuyển tải giáo pháp một cách sinh động đơn cử như: Nói về nghiệp quả của nhà Phật ở chương Trác thanh thì Thiền sư dùng “tiền kiếp” đem đối sánh với “định mệnh” của nhà Nho, theo triết lý Nho giáo thì “định mệnh” không thay đổi được, nhưng ở đây chúng ta bắt gặp một hướng tiến đột phá trong tư tưởng của nhà Nho giáo chánh tông rằng “định mệnh” có thể thay đổi được nếu như “kẻ nào phú quý mà không bo bo với danh lợi thì kẻ đó là người đã khống chế được “định mệnh”12. Hay Thiền sư giảng về thuyết luân hồi: “Luân (cái bánh xe) cho nên hồi (xoay vòng), cũng như nhà Nho nói Tuần hoàn, vì Hoàn (cái vòng) cho nên Tuần (ven theo), không phải cái vòng thì không xoay. Nhà Phật nói Luân (cái bánh xe), nhà Nho nói Hoàn (cái vòng). Luân và Hoàn là đạo trời vậy… Tròn là cái thể của trời, nhật, nguyệt, ngũ tinh đều tròn, cho nên chu lưu, vận hành được. Thích Ca Mâu Ni chuyển cái bánh xe Vô ngại, Khổng Tử đi xe vòng quanh các nước. Đi xe vòng quanh tức cũng là luân hồi… Nhà Nho có chữ Biến thông, Cảm thông, Hội thông; nhà Phật có chữ Thần thông, cùng một nghĩa như nhau.” Hay thuyết nhân quả “đây là chữ quả trong quả nhiên, như chữ tất của nhà Nho gia trong tất nhiên. Nhà Nho nói: Nhà nào tích thiện, tất có thừa phúc; nhà nào tích bất thiện tất có thừa ương. Quả có cái ấy, thì được cái ấy, đó tức là quả. Thạc quả giống hệt với công quả, phúc quả. Vì vậy, phúc không nên hưởng hết, công không nên kể hết, quả không nên ăn hết” và Thiền sư thâu tóm lại “trong cõi u minh, thiện được thiện báo, ác bị ác báo”13, khuyên người đời bớt làm việc ác mà nên siêng làm việc thiện. Thiền sư Hải Hòa giải thích thêm: “Làm việc thiện, gieo cái ác, chỉ để ở trong lòng, báo ứng họa phúc, đều có loại bậc. Ta làm điều thiện chăng!” Thì như Hán Nho nói: “Mỗi ngày lớn lên một chút thì người không nhìn thấy, cũng như khi tóc ta dài ra, khi răng hàm, răng cửa, móng tay, móng chân ta dài ra, thêm lên, nào có thấy được đâu! Kẻ nào làm điều ác, thì cũng lại như thế, Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ cần phải nhìn nhận từ trong lòng ta.”14 Khi đề cập về thuyết “vô thường” của Phật giáo thì Thiền sư Hải Huyền ví dụ rất giản đơn, dễ hiểu “xét trên thân thể người ta, tính khí buổi sáng với buổi chiều cũng đã khác nhau.”15 Tất cả vạn vật trên cõi đời này đều bị chi phối bởi định luật vô thường. Nếu chúng ta thấu hiểu được vô thường một cách tường tận thì cuộc sống sẽ bớt khổ đau, con người ta bớt đi sự tranh đấu, đường đi đến vô ngã ngày càng được thu hẹp dần và cuối cùng sẽ được hưởng Niết-bàn ngay hiện tiền này. Qua đây, chúng ta thấy được sự uyên thâm của Thiền sư Hải Lượng và các vị đạo hữu đã sáng tác ra một tác phẩm luận thuyết tôn giáo rất đặc sắc. Với một khối lượng tài sản tri thức vô hạn, cộng thêm quá trình trải nghiệm tu tập của bản thân Thiền sư Hải Lượng đã đem hết tâm huyết của mình gửi gắm vào trong tác phẩm, ngõ hầu giúp cho tha nhân nhận diện được nguyên nhân gây ra khổ đau, chỉ dẫn phương cách giải quyết mà Tam tổ của Thiền phái Trúc Lâm đã thực hiện thành công. Càng tìm hiểu sâu vào tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, thì chúng ta càng nhìn thấy rõ quan điểm “dĩ Nho giải Phật” chiếm vị thế chủ đạo. Bằng những điển cố, điển tích của nhà Nho, các vị Thiền sư đã truyền tải giáo pháp Phật giáo một cách tài tình đầy trí tuệ mà ít có ai làm được. Cuối cùng, Thiền sư đã đi đến vạch đích như Ngài Tuệ Sỹ đã khẳng định: “Rượu ngon không câu nệ nơi bình chứa” ý nghĩa là như vậy.

THS. Diệu Tâm


  1. Tuệ Sỹ (1972), Tư tưởng số 1 – 3, Dẫn vào thế giới văn học Phật giáo, tr. 45.
  2. Lưu Hiệp (1999), Văn tâm điêu long, NXB. Văn học, tr. 19.
  3. Cao Hữu Đính (1996), Văn học sử Phật giáo, NXB. Thuận Hóa, Huế, tr. 35 – 36.
  4. Thích Hạnh Tuệ (2018), Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh tông văn học Phật giáo, NXB. Khoa học xã hội, tr. 143.
  5. Kim Định (1969), Tư tưởng số 1 – 3, Nho học và vấn đề cải tạo xã hội, tr. 45.
  6. Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu Hán Nôm, Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập V, NXB. Khoa học xã hội, tr. 123.
  7. Viện Văn học thơ văn Lý – Trần (1988), tập 2, NXB. Khoa học xã hội – HN, tr. 26 – 28.
  8. Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập V, NXB. Khoa học xã hội, tr. 122.
  9. Sđd, tr. 192 – 193.
  10. Sđd, tr. 260.
  11. Sđd, tr. 262.
  12. Sđd, tr. 261.
  13. Sđd, tr. 172.
  14.  Sđd, tr. 173.
  15.  Sđd, tr. 192.


    Tài liệu tham khảo
    1. Tư tưởng số 1-3, Ấn quán Vạn Hạnh, năm 1972.
    2. Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long, NXB. Văn học, năm 1999.
    3. Viện nghiên cứu Hán Nôm, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập V, NXB. Khoa học Xã hội.
    4. Thích Hạnh Tuệ (2018), Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh tông văn học Phật giáo, NXB. Khoa học Xã hội.
    5. Trần Trọng Kim (2003), Nho giáo, NXB. Văn học.
    6. Văn học thơ văn Lý – Trần (1988), tập 2, NXB. Khoa học Xã hội.
    7. Cao Hữu Đính (1996), Văn học sử Phật giáo, NXB. Thuận Hóa, Huế, tr. 35 – 36.
    8. Thích Kiên Định (2008), Lược sử văn học Sanskrit & Hán tạng Phật giáo, NXB. Thuận Hóa.