Lời nhắn nhủ của chiếc bồ đoàn

107

  Nói đến tôi, mọi người sẽ không cảm thấy mới lạ. Bởi vì, hoàn toàn không nhất định phải đến trong những ngôi chùa thanh tịnh trang nghiêm mới có thể nhìn thấy tôi, đồng thời tôi cũng không phải là một món đồ độc quyền trong Phật giáo. Ở Trung Quốc, cho dù nhà của mọi người to hay nhỏ, giàu hay nghèo, đều có sự tồn tại của tôi để cho tất cả mọi người sử dụng, tôi cũng không kém phần phổ cập và đối xử bình đẳng trong mọi tầng lớp xã hội.
Bồ (蒲), vốn là tên của loài thực vật sống dưới nước, lấy nó làm một cái đệm hình tròn cho mọi người quỳ lạy, để quần áo không bị vấy bẩn, bám bụi trên mặt đất. Vì vậy, tên gọi và công dụng của bồ đoàn được xác lập, thời gian ngày qua ngày của tôi giống như một nô lệ như thế. Do sự khác biệt về khí hậu, địa lý ở các vùng miền tại Trung Quốc, cho nên rất nhiều địa phương gọi nó là bồ đoàn, mà không phải tất cả bồ đoàn đều được làm từ cỏ bồ.
Bạn không thường nhìn thấy trong các tự viện hay sao? Một số bồ đoàn được làm với hình thức bằng vải; một số chỉ dùng ván gỗ làm mảnh dài dài, giống như một chiếc ghế đẩu nhỏ. Tuy không có hình thức của bồ đoàn, nhưng tên của nó vẫn được sử dụng như thói quen thường lệ không ai lấy làm lạ. Tất nhiên, kiểu dáng của tôi không giống nhau, hình thức lễ bái của mọi người trên bồ đoàn cũng có những đặc điểm riêng. Người chưa từng quy y trong Phật môn, không hiểu các nghi thức của tôn giáo, khi lạy Phật, tư thế khấu đầu của họ trông giống như một cái chày liên tục đưa lên bổ xuống; người đã học Phật, lúc lễ bái rất thành kính trang nghiêm oai nghi túc mục. Điều được gọi là quy định “hai rưỡi” (兩把半), là hai lòng bàn tay mở ra, để đầu chạm xuống đất, đây là nghi thức lễ lạy cung kính nhất. Hầu hết những người học Phật nhiều năm, hoặc người công phu dài hạn, thái độ của họ khi lễ bái đều rất an tĩnh và bình hòa; một số người mới học Phật và có tính khí nóng nảy, khi lễ bái, thì dáng vẻ của họ biểu lộ vẻ bồn chồn không ổn định. Do đó, người quỳ lạy trên tấm bồ đoàn, từ thái độ nóng nảy hay trầm tĩnh, thì có thể nhìn ra được trình độ nghiên cứu học Phật của họ.

Có một số người học Phật chưa được bao nhiêu, hoặc là những người cống cao ngã mạn, hoặc không hiểu rõ hành nghi học Phật, bước vào đại điện với dáng điệu nghênh ngang, nếu họ không quỳ trên bồ đoàn ngay giữa điện thì lạy không được. Dường như nếu quỳ hai bên, thì Phật và Bồ-tát tôn trí ở giữa sẽ không nhìn thấy. Họ đâu biết rằng bồ đoàn ngay trung tâm đó được quy định riêng cho Phương trượng của chùa hoặc đại Pháp sư mà thôi!

“Niệm Phật một tiếng, tội diệt hà sa; lễ Phật một lạy, phước tăng vô lượng”. Bởi vì công đức niệm Phật, lạy Phật to lớn như vậy, cho nên một số người tu Phật, học Phật bận rộn tu hành lo về vấn đề sinh tử, nên thường khoanh hai chân nghiêm trang cố định, mắt nhắm, thu tâm nhiếp vọng, ngồi niệm Phật trên bồ đoàn; hoặc mặc áo tràng, đắp ca sa, mỗi lần quỳ trên thân tôi đều rất đoan chính, để bày tỏ sự tôn kính kiền thành nhất đối với chư Phật và chư Bồ-tát trên tòa sen. Tôi giống như một chiếc cầu, chúng sinh1 nào muốn chạy về nước Phật, điều cần yếu là phải đi qua thân thể tôi, vì vậy trong mắt của người học đạo xem ra tôi quan trọng biết bao!

Tôi và những người lạy Phật thường gần gũi với nhau, cho nên tôi biết rằng họ lạy Phật có đủ loại công đức và lợi ích. Có một số người coi việc lễ lạy như một môn vận động thể thao, họ nói lạy Phật nhiều không chỉ có thể tăng trưởng phước tuệ cho mình, mà còn làm cho thân thể khỏe mạnh, đặc biệt là những người đau bao tử, cho rằng lạy Phật nhiều bệnh càng thuyên giảm.

Lạy Phật và Bồ-tát là để loại trừ những thói quen kiêu mạn, loại bỏ thói quen kiêu ngạo, nhờ vậy mới được sự cung kính của mọi người, thế thì việc hoằng pháp độ sanh mới có thể khiến người tin phục, Phật pháp cũng có thể dễ dàng truyền bá rộng rãi bên ngoài. Đồng thời, càng lễ Phật càng thu nhiếp thân tâm tán loạn, không đến nỗi buông lung tạo tội… Tôi không phải hướng đến mọi người rao giảng, mà là tôi muốn nói về các loại lợi ích và công đức lạy Phật, ở đây không nói nhiều, tự mình thể hội tốt hơn lời tôi đã nói. Tóm lại, sự việc trên thế gian này không hoàn toàn giống như những đóa hoa xinh đẹp như thế, bởi vì không quen được đạo đức giả dối của người đời, nên trong lòng tôi cũng có vô số phiền muộn nói mãi vẫn không hết.

Đó là lý do tại sao tôi nằm trên mặt đất cả ngày để phục vụ những người đang tu học Phật pháp, tất cả là vì yêu cầu mọi người sửa chữa những hành vi sai trái và tư tưởng không lành mạnh của chính mình. Nhưng có một số người đem việc lễ Phật biến thành một sự lừa gạt giả dối không trung thực, thật khiến tôi phải ngao ngán thở dài! Một lần, có người tự cho mình là bậc Trưởng lão đã dạy một Sư phụ trẻ tuổi bảo đến quỳ trên thân tôi lễ Phật. Ông nói rằng ngay cả khi con không muốn tu hành, cũng nên đến lạy cho mọi người nhìn thấy. Lời nói của vị Trưởng lão làm cho thầy tuổi trẻ dở khóc dở cười. Kể từ đó, Thầy phát nguyện quyết không lạy Phật nơi chốn đông người, sợ rằng sẽ khiến cho người khác mỉa mai giống như lời của Trưởng lão đã nói lạy cho người ta xem.

Lạy Phật không phải từ trong tâm bày tỏ sự tôn kính đối với Đức Phật, mà là lạy bằng cách mua danh trục lợi cho người khác xem, đây là điều quá sỉ nhục đến giá trị và ý nghĩa của việc lễ Phật. Hơn nữa, tôi thường thấy có một số người xưng là học Phật, mà mỗi khi họ đến chùa, trước tiên họ sẽ kiến lễ Hòa thượng, giao lưu với Phương trượng Trụ trì, sau đó mới đến Đại hùng Bảo điện hành lễ Đức Phật; hoặc giả có một số người đơn giản là chỉ chào mọi người, mà không lễ Phật khiến trong lòng tôi như bị đám mây nghi ngờ vây phủ. Tôi thật không hiểu, rốt cuộc người học Phật nên lễ Phật trước, hay là lễ người trước?

Nếu bạn cho rằng Đức Phật là từ bi, lạy Ngài hay không Ngài cũng sẽ không trách cứ bạn; nhưng con người luôn nịnh hót và thích nhận được sự tôn kính của người khác, cho nên bạn không thể không trước chào người sau lễ Phật. Thế thì tôi xin nói: Bạn không cần phải học tâm từ bi vĩ đại của Phật, mà nên đi học quyền thế hù dọa con người là tốt hơn! Lại có một số người khoe khoang công bố: Mỗi ngày tôi niệm Phật mười nghìn tiếng, mỗi ngày tôi lạy Phật ba trăm lạy đấy! Dường như họ kể lể công lao với mọi người. Giả sử lạy Phật cũng có thể được coi là chủ nghĩa công danh lợi lộc, thì tôi không thể không cảm thấy rất hoài nghi về sự tôn nghiêm trong việc lạy Phật!

Hiện nay thường nghe nói đến có một số người không tin Phật giáo, họ phê bình chỉ trích Thánh tượng Phật và Bồ-tát mà các tín đồ Phật giáo sùng bái lễ lạy là một loại tượng gỗ, tượng đất. Khi lần đầu tiên nghe lời nói này, bất giác tôi đã kinh tâm động phách, cho rằng lạy Phật mà bị người phản đối, thì việc tiếp đến là số mệnh của tôi cũng sẽ gặp điều không may! Nhưng, sau đó tôi đã suy đi tính lại một cách cẩn thận: Tượng Chúa Jesus được treo trong các nhà thờ Cơ Đốc giáo, di dung của Quốc phụ Tôn Trung Sơn (孫中山 1866 – 1925) treo trong các trường học, các cơ quan; trong nhà mỗi người đều có bài vị của tám đời tổ tông, đây là vì lẽ gì? Nếu nói rằng treo di ảnh Quốc phụ, treo tượng Chúa Giêsu và thờ cúng bài vị của tám thế hệ tổ tiên là để cung kính và tín ngưỡng, thế thì tôi không phải thích biện hộ cho mình, mà xin nói lạy Phật cũng là để cung kính và tín ngưỡng vậy!

Người lạy Phật không nhất thiết đã tin Phật mới lạy, ngay cả những người chưa tin tưởng Phật giáo cũng thường lạy Phật, cầu Bồ-tát. Ví dụ: có người cầu thăng quan phát tài, có người cầu tiêu tai giải nạn, có người lạy để cầu chư Phật, Bồ-tát chứng minh cho họ kết bái làm anh em, có người cầu Phật, Bồ-tát để kiếm thêm con, thêm cháu; Nếu so sánh những người lạy Phật này với những người đã học Phật, cùng đến lễ Phật, cầu sống hoặc chết, cầu tăng trưởng phước báu, tri kiến của họ tất nhiên còn phải chờ đợi tín đồ Phật giáo chánh tín chỉnh đốn lại, để tránh khỏi những hành vi thần thánh, lạy Phật trên bồ đoàn làm cho trật tự hỗn loạn không khí ngột ngạt!

Lạy Phật đương nhiên là một pháp môn tu hành của các tín đồ Phật giáo chánh tín, nhưng hiện nay có rất nhiều người không phải vì tu hành mà lạy Phật trong chùa, có người lại vì tiền giấy mà vào nhà trai chủ để lạy quỷ ma, dẫn đến rất nhiều lời chế giễu Phật giáo! Đại sư Hám Sơn (憨山大师 1546 – 1623) lúc đầu cũng là một người làm kinh sám2, khi Sư phóng diệm khẩu3 trên đường về nhà, âm thanh đã kinh động đến cặp vợ chồng già trong một gian phòng, bà lão lấy làm lạ rằng giữa đêm khuya khoắt như thế này còn có người đi đường ư. Ông lão trả lời: “Đi đường nửa đêm nửa hôm, không phải là tặc cốt đầu (kẻ trộm), thì cũng là quỷ kinh sám.”4

Nghe họ đem tặc cốt đầu nhập chung với quỷ kinh sám, Đại sư Hám Sơn cho rằng thân phận mình đã bị sỉ nhục. Từ đó, Sư phát nguyện: “Thà tĩnh tọa trên bồ đoàn mà chết, chứ không làm một Ứng phó Tăng5 ở nhân gian!” Cho nên, về sau Sư trở thành một bậc nhất đại Tổ sư có kiến thức và năng lực được người người ngưỡng mộ sùng kính.

Làm một người xuất gia, cần phải phát nguyện độ sinh, tạo phước cho nhân loại. Nếu không thể đạt được tinh thần của Phật pháp Đại thừa này, “Thà tĩnh tọa trên bồ đoàn mà chết” vẫn có thể xem là một người vô hại!

Phần bổ sung:

Bồ đoàn là một loại tọa cụ hình tròn phẳng mà dẹp bện bằng cành lá hương bồ, là vật cung cấp cho người ngồi thiền và quỳ lạy, để bụi trên mặt đất không làm vấy bẩn quần áo. Bồ đoàn có nhiều loại, loại dày gọi là Hậu Viên Tòa (厚圓座), loại dệt bằng cỏ may gọi là Tiêm Viên Tòa (菅圓座), còn có lỗ hình tròn nằm ngay chính giữa.

Các vùng miền tại Trung Quốc, vì sự khác biệt về khí hậu, địa lý và sản vật, cho nên rất nhiều địa phương chỉ có tên gọi bồ đoàn, và không phải tất cả chúng đều được dệt bằng cỏ bồ. Ví dụ: Có một loại được làm bằng vải dưới dạng bồ đoàn, lại có một loại được làm bằng ván như một chiếc ghế đẩu nhỏ mà dài. Mặc dù không có hình thức bồ đoàn, nhưng cái tên bồ đoàn vẫn được sử dụng.

Bồ đoàn giống như một công cụ của trái tim kết nối với Đức Phật, chúng ta có thể thông qua bồ đoàn để sám hối lễ lạy trước Phật.
Khi lễ bái, thành tâm bày tỏ lòng kính phục và tưởng nhớ Đức Phật, đối với những lỗi lầm trước đây, có thể hướng về chư Phật, Bồ-tát sám hối và phát nguyện trên bồ đoàn. Các bậc cao Tăng Đại đức thời cổ đại, hầu hết đều được khai ngộ trên bồ đoàn.

Đại sư Tinh VânThanh Như dịch


  1. Chúng sanh (眾生): Các duyên hòa hợp mà sanh ra, ở đây còn chỉ cho các loài động vật có mạng sống.
  2. Kinh sám (經懺): Nghi thức của Tăng sĩ hoặc đạo sĩ niệm kinh bái sám cầu phước, siêu độ.
  3. Phóng diệm khẩu (放焰口): Nghi thức của Đạo giáo và Phật giáo, là căn cứ theo Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà-la-ni Kinh mà cử hành pháp sự thí thức ăn cho Ngạ quỷ.
  4. Kinh Sám Quỷ (經懺鬼): Đây là lời châm biếm chỉ cho người chuyên tụng kinh bái sám, không làm những việc hoằng pháp lợi sinh.
  5. Ứng phó Tăng (應赴僧): Thiền tông có ghi chép: Tăng tu thiền đắp y màu nâu, Tăng giảng kinh đắp y màu hồng, Tăng Du-già đắp y màu xanh nhạt, Tăng Du-già nay gọi là Tăng Ứng phó.