Lời ngậm ngùi than thở của Bài Vị

16

  Trong mỗi gia đình của mọi người, thông thường đều có thờ “Bài vị” bằng gỗ hoặc giấy, đặt trên chiếc bàn giữa nhà chính; trong các tự viện Phật giáo thì có Trường Sanh Lộc Vị (長生祿位) trên Đản Sinh Đường1, hoặc Vong Nhân Bài (亡人牌) trên Công Đức Đường2 , đó cũng gọi là “Bài Vị”. Bài Vị chính là tên của tại hạ.

Mặc dù tôi được làm bằng một mảnh giấy hoặc miếng gỗ, nhưng chỉ cần trên mặt tôi bất luận có tên của người chết hoặc sống, thì được người đời sau và con cháu của họ cung kính cúng bái. Có tôi, các bậc cổ đức Thánh hiền mới có thể sống mãi trong trái tim của mọi người. Bởi vì giấy và gỗ tuy không cao quý hay thấp hèn, nhưng ý nghĩ trong lòng bạn lúc này là vô cùng tôn quý không gì so sánh!

Bậc tôn trưởng của bạn không may đã qua đời, nghĩ đến những ân huệ của họ dành cho bạn, vì cần phải cúng tế Tổ tiên một cách kiền thành, bạn phải dùng đến tôi để tưởng niệm; Thứ nữa, nghĩ về những bậc hiền thánh vĩ nhân, để noi theo cách làm người của họ, ngoài sự ngưỡng mộ về mặt tâm linh, thì trên hình thức cũng tự nhiên bộc lộ sự tôn trọng và sùng bái của bạn. Vì những điều này, bạn không thể không sử dụng tôi-Bài vị.

Ngoài ra, còn có rất nhiều loại con cháu hoang đàng chi địa, họ dựa vào di sản do Tổ tiên để lại, thường vung tiền như nước không hề quý tiếc, nhưng khi ánh mắt họ chạm vào thân tôi đang chễm chệ trên gian nhà chính, thoáng một niệm, họ sẽ nghĩ đến tổ tiên mình khổ tâm vất vả gian nan khai sáng sự nghiệp, nhân đó cảm thấy xấu hổ, hối hận, mới có thể quyết chí tự cường, hăm hở vươn lên. Văn Thiên Tường (文天祥 1236-1283) – nhà văn học, nhà chính trị cuối thời Nam Tống, khi ông còn thơ bé, từng đi chơi trong một ngôi chùa và nhìn thấy di tượng của các bậc Thánh hiền trên bàn thờ được người cung kính bái lạy, trong lòng ông nghĩ tương lai tên của mình cũng sẽ được khắc trên bài vị, cho nên, sau này ông hết sức trung thành, lòng dạ son sắt vì nước vì dân. Nói rằng tôi là một loại giáo dục hướng đến điều thiện, có lẽ mọi người sẽ luôn đồng ý.

Ngoài Đản Sinh Bài của Trường Sanh Lộc Vị và Vong Nhân Bài của Hồn Quy Cực lạc, còn có nhiều bài vị khác nhau: Tất cả gia đình trong chế độ quân chủ trước đây đều có “Vạn Tuế Bài”, trên đó ghi “Vạn tuế vạn vạn tuế”. Hiện nay, Trung Quốc đã là một quốc gia dân chủ. Vì vậy, trên mặt tôi họ sửa lại và viết là “Quốc Gia Dân Chủ vạn tuế vạn vạn tuế”. Từ muôn tuổi của một vị quân vương, trong phúc chốc đổi thành muôn tuổi của nhân dân toàn quốc. Ôi! Người dân cả nước đã sát cánh cùng tôi rất thân thiết, tôi cảm thấy phấn khích vô hạn!
“Báo Ân Bài” (报恩牌) có thể thường được nhìn thấy trong một số gia đình biết tri ân báo đức. Vì không quên ân huệ của người khác đối với gia đình mình. Cho nên, họ đã viết trên mặt tôi: “Mỗ mỗ ân công chi vị” (Bài vị của ân công gì gì đó) sớm tối thắp hương cúng nước, tâm niệm ghi nhớ ân đức của họ. Nhưng nhìn vào thế giới hiện nay, trái tim của con người đã thay đổi rồi. Mọi người đều thích ghi nhớ thù hận của người khác, thậm chí đem nó ghi chép trong quyển sổ như tiểu thuyết, đem ngày tháng năm sinh của người mà mình không ưa thích viết trên bài vị tôi, ngày ngày nguyền rủa, hy vọng kẻ oan gia mà mình thù hận sẽ mang bạo bệnh chết sớm. Ái do dục mà sanh, ác do dục mà chết cũng bởi nó, thế giới này vĩnh viễn là vũ đài để giao chiến tình yêu và tội ác!

Khổng Lão Phu tử cũng có một bài vị, gọi là “Chí Thánh Tiên Sư chi vị” (linh vị của bậc Thánh chư Thánh); Tôn Trung Sơn cũng có bài vị gọi là “Quốc Phụ di tượng” (Di tượng của Quốc phụ – Tôn Trung Sơn được người dân Đoài Loan tôn xưng là Quốc phụ). Vì có bài vị của Khổng Tử, trong lòng mọi người vẫn luôn tồn tại lễ nghĩa cang thường, đạo đức nhân luân; Vì có di tượng của Quốc Phụ, nhân dân mới hiểu được những gian nan khi sáng lập Trung Hoa Dân Quốc. Trước đây, nghe nói các tín đồ Gia-tô-giáo viện cớ không tôn thờ các thần tượng nên không chịu hành lễ di tượng của Quốc Phụ. Tôi nghe qua thật là khí giận đầy bụng! May mắn thay, Chính phủ rất sáng suốt họ đã ra mệnh lệnh cho những người không Tổ quốc, không cha mẹ này kính lễ tôi, nếu không phục tùng, họ sẽ bị cách chức và điều tra. Không phải là tôi vui sướng trên sự đau khổ của kẻ khác, thật ra những người con của Chúa nói không tôn thờ sùng bái thần tượng là không đúng.

Ở đây, tôi muốn đưa ra một lời khuyến cáo chân thành cho những người viện cớ không tôn thờ thần tượng: Các bạn cho rằng cúng bái tôi chính là cúng bái một tượng gỗ có phải không? Kỳ thật, mọi người đều có quan niệm về thần tượng. Trong trái tim bạn có hình bóng của cha mẹ, thì cha mẹ là thần tượng để bạn kính lễ; bạn tin vào Chúa Giêsu thì Chúa Giêsu là thần tượng để bạn tin tưởng phụng thờ; bạn cầu nguyện với Thượng đế, xin Thượng đế dẫn bạn về Thiên quốc, Thượng đế và Thiên quốc đều là thần tượng mà bạn kính ngưỡng; Nếu không sùng bái thần tượng trừ phi chính bạn không thừa nhận bạn là người, đã là người thì phải có một khái niệm về thần tượng. Bạn nói rằng bạn không bái lạy thần tượng, đó là sự thiếu hiểu biết của bạn đấy!

Cúng thờ tôi, một số người cho là truy niệm bậc tiên hiền, một số người cho là để tưởng nhớ và sùng kính, nhưng cũng có một số người cho là vì sợ hãi, ý nói kính quỷ thần nhưng tránh xa họ. Giống như có “Mỗ mỗ Đại Tiên chi Thần vị” (bài vị của bậc Đại Tiên nào đó), chính là vì sợ phát sinh hỏa hoạn, sợ người chết, sợ xui xẻo… mà thờ, điều này còn tồi tệ hơn nhiều so với việc cung kính tưởng niệm những bậc Thánh hiền.

Ngoài những bài vị vì tôn kính và sợ hãi mà thờ cúng, còn có một loại “Cô hồn bài” (Bài vị cô hồn) vì lòng trắc ẩn và cảm thông mà cúng, trên đó có dòng chữ “Pháp giới chi nội Thiết vi sơn trung cửu u thập loại nhất thiết Thủy lục Cô hồn chi linh vị”. Nghĩa là: “Linh vị của tất cả cô hồn trên bờ, dưới nước mười loài chín cõi trong núi Thiết Vi ở khắp pháp giới”. Từ trái tim thương xót của mọi người mà phổ cập đến tất cả quỹ đạo. Đây là mở rộng tâm bi của nhân loại, thật là hiếm thấy! Cũng có một số nơi sau khi cúng tôi, nhưng lại sợ không có linh hồn người chết trên bài vị. Cho nên, có đơn cử cái gì đó gọi là “Dẫn hồn”3, loại hành động này không cần thiết. Đây thật là một trò cười!

Thời đại đổi thay, hiện nay tôi bị loại bỏ dần dần bởi nghệ thuật nhiếp ảnh. Mỗi khi cúng tế, tôi thấy “di tượng của tiên sinh nào đó” hay “di dung của phu nhân nào đó” đặt trên linh đường. Tất nhiên, di dung hoặc di tượng thân thiết hơn nhiều so với mấy chữ “Linh vị của ông…, bà… ” trên bài vị.

Nơi thờ cúng linh vị nhiều nhất là Công Đức Đường trong tự viện; nơi thờ cúng Trường sinh Lộc vị nhiều nhất là Đản sinh đường cũng trong tự viện, nhưng chỉ phân ra hai bên Linh vị và Lộc vị. Than ôi! Sống và chết cách nhau không xa. Người sống là Lộc vị, bài vị của họ hầu hết được làm bằng giấy đỏ; Người chết là Linh vị, bài vị của họ đa số được làm bằng giấy vàng. Giấy đỏ và giấy vàng cũng có thể nói là để biểu lộ rõ ràng ranh giới giữa sống và chết mà thôi!


Hiện nay, vấn đề hỏa táng đặc biệt phổ biến, đôi khi họ cũng có thể loại bỏ tôi, bởi vì mọi người sau khi chết dùng lửa thiêu xác, đem tro cốt đặt vào trong hộp, trên chiếc hộp viết: “Linh vị của… thuộc huyện… tỉnh… sanh ngày… tháng… năm…; chết ngày… tháng… năm… “. Bằng cách này, khi cúng tế tôi không còn được sử dụng nữa. Nơi mà hộp tro cốt đặt nhiều nhất là Linh tháp bên cạnh tự viện, trong những tòa linh tháp đó không biết có bao nhiêu linh hồn được siêu thăng; Trong những chiếc hộp đó, không biết có bao nhiêu sinh mạng bị lửa thiêu hủy.

Đôi khi có một vài bài vị nhỏ chúng tôi đặt trước hộp đựng tro cốt, có bao nhiêu người khi nhìn thấy hộp tro cốt mà rơi lệ và có bao nhiêu người khi nhìn thấy tôi mà thương tâm. Tôi và hộp tro cốt đó, không biết đã phân chia bao nhiêu gia đình hạnh phúc, bao nhiêu tình yêu của tuổi trẻ, và bao nhiêu là bạn thân tri âm tri kỷ! Thông thường, nhiều người đến viếng tháp đều cho rằng nơi chúng tôi sống thật ảm đạm thê lương khiến họ sợ hãi, họ còn cảm thấy dường như có một bộ xương khô từ bốn phương tám hướng đến ôm lấy họ, chỉ với chiếc hộp này, giữa người thế gian và kẻ cõi âm tách biệt hoàn toàn như thế!
Bạn đừng nói bạn còn rất trẻ, bạn đừng nói bạn đang khỏe mạnh, bạn cũng đừng nên nói ngày mai tôi không thể đồng hành cùng bạn, bộ xương trắng của bao nhiêu người tuổi trẻ, bao nhiêu người khỏe mạnh đều ở cùng với tôi. Vì vậy tôi xin gửi lời nhắn nhủ đến các vị: Các bạn cần phải kịp thời nỗ lực, đừng vứt bỏ mạng sống của mình; Đồng thời muốn đem lời nói này làm một phương châm tặng cho các bạn:”Chớ đợi đến già mới học đạo, mồ hoang lắm kẻ tuổi xuân xanh” (莫待老來方學道,孤墳多是少年人).

Trên đây tôi đã nói những lời phức tạp và rườm rà, dù lời chân thật trong trái tim tôi vẫn còn chưa nói hết. Bởi vì, tôi hoàn toàn không mong đợi một số tên của người sống và người chết phải viết lên thân thể tôi nữa. Hy vọng có một ngày trên mặt tôi có thể viết: “Linh vị hồi sinh chân tinh thần Phật giáo”. Nếu được như vậy tôi sẽ tươi cười trở lại một cách không ngờ!

Phần bổ sung:

Bài vị là một mảnh gỗ hình chữ nhật có ghi tên họ để tiện việc cúng tế. Phong tục này có nguồn gốc từ Nho gia, nghi lễ Nho gia ghi danh tánh và chức vụ của người chết trên một tấm biển gỗ hình chữ nhật dài khoảng 10 đến 40 cm, để các thần linh có nơi nương tựa. Tập quán này bắt đầu từ thời Đông Hán, và sau đó Phật giáo tiến hành sử dụng.
Trong các ngôi tự viện Phật giáo, các bài vị trên Vãng Sanh Đường được gọi là Trường Sanh Lộc Vị; các bài vị trên Công Đức Đường thì gọi là Vong Nhân Bài. Người sống là Lộc Vị, hầu hết dùng giấy đỏ làm bài vị; Người chết là Linh Vị, thì dùng giấy vàng làm bài vị. Giấy đỏ và giấy vàng cũng có thể nói là ranh giới phân chia giữa sự sống và cái chết.

Đại sư Tinh Vân – Thanh Như dịch


  1. Đản sinh đường (延生堂): Người có công đức cống hiến trong ngôi tự viện, sau khi chết tên của họ được khắc lên Bài vị để thờ cúng. Đản sinh đường nguyên gọi là Điện Đông Nhạc, kiến lập vào đời Đường. Thời Khang Hy nhà Thanh đổi tên thành “Đản Sinh Đường”, nương theo quy định của Giới Luật lập đàn truyền giới.
  2. Công đức đường (功德堂): Nơi sắp xếp tro cốt người chết để thờ cúng. Những vong linh này khi sinh thời con cháu họ thường làm nhiều điều công đức cho tự viện.
  3. Dẫn hồn: (引魂): Tiếp dẫn vong hồn người đã chết thọ nhận mùi vị cam lồ.