5.7 C
London
Monday, December 6, 2021

Lộ trình tu tập của một hành giả

  Lộ trình chuyển phàm phu nhập vào Thánh quả của một chúng sanh thì phải học theo giáo pháp của Đức Thế Tôn. Giáo pháp ấy đã được Đức Thế Tôn chứng ngộ và khéo thuyết giảng nhằm mục đích giúp cho chúng sanh hiểu được tất cả pháp trên thế gian đều là vô thường để dễ dàng buông xả không chấp vào bản ngã “tôi” và “cái này là của tôi” vượt thoát khỏi khổ đau ngay trong hiện tại và thành tựu Phật quả trong tương lai. Đó là lộ trình tu học Giới, Định, Tuệ, mà Đức Thế Tôn đã dạy trong Kinh Tăng Chi, phẩm Sa Môn: “Này các Tỳ-kheo! Có ba công việc này một Tỳ-kheo cần phải làm trước1, thế nào là ba? Đó là thọ trì tăng thượng Giới học, thọ trì tăng thượng Tâm (Định) học, thọ trì tăng thượng Tuệ học. Ba công việc này, này các Tỳ-kheo! Một Tỳ-kheo cần phải làm trước”. Trong Trường Bộ Kinh, Đức Thế Tôn đã dạy rất nhiều lần cho các Tỳ-kheo: “Này các Tỳ-kheo! Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu) và vô minh lậu2”.

Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang đã dạy: “Giới như đất, Định như cây trồng xuống đất, Tuệ như trái cây. Giới năng sanh Định, Định năng sanh Tuệ, Tuệ năng minh tâm. Minh tâm kiến tánh sẽ thành Phật3”.Mỗi người trong chúng ta những lúc tự do tự tại, hay bị những điều dục vọng làm mê muội khiến cho lãng phí thời giờ không chút nào hay biết. Thời giờ đối với người trí huệ quý giá như kim cương, nhưng đối với kẻ ngu si thì giống hệt như bùn lầy, chẳng chút giá trị nào trong khi đời người rất ngắn ngủi, ngắn như hơi thở ra vào. Người ta không có thể làm chủ sinh mạng, càng không thể làm chủ được cái chết để sống mãi trên đời. Vậy mà con người lại không để ý đến nó, lại đắm chìm theo những dục vọng mong cầu, để cố tình nuôi cái thân mạng này, làm đẹp cái thân mạng này, vì cái thân này, vì cái bản ngã này, mà tạo nhiều điều tội lỗi, bất kể những nỗi khổ của người xung quanh, gây nhiều tội ác. Vì thế, nối truyền mạng mạch Phật pháp Tổ Sư Minh Đăng Quang dạy rằng: “Giáo lý Khất sĩ, một là dứt các điều ác, hai là làm các điều lành tùy theo nhân duyên cảnh ngộ, không cố chấp vì lẽ không có thời dư dả và cũng biết rằng: Các việc lành là để trau tâm, vì tâm mà làm sự phải, chớ không ngó xem nơi việc làm kết quả và ba là cốt yếu giữ lòng trong sạch4” .

Vì thế, mỗi chúng sanh muốn thành tựu quả vị giải thoát hoặc chứng đắc Tứ quả Sa môn thì điều kiện đầu tiên là phải quy y Tam bảo và thọ trì giới luật. Người cư sĩ tại gia thọ trì năm giới cấm, hành giả xuất gia người nam thì thọ trì 250 giới, người nữ thì thọ trì 348 giới cấm. Giới là gì? Tại sao Đức Thế Tôn và đức Tổ Sư bắt buộc mỗi chúng ta phải giữ giới? Giữ giới có đem lại những điều lợi ích thiết thực gì ngay trong đời sống hiện tại này không?
Giới là những điều ngăn chặn chúng sanh làm các việc ác từ nơi thân khẩu ý. Đây là lời giáo huấn mà Đức Phật truyền dạy, vẫn còn được bảo tồn và thực hành đến ngày nay. Pháp này có tên là Dhamma Vinaya. Hai danh từ này thường được phiên dịch là Giáo Pháp và Giới Luật.

Giới (Sīla) một trong ba môn học “Vô lậu” nhằm dứt các lậu hoặc (asāva) đưa đến giải thoát. Giới giữ một vị trí quan trọng, điều này được khẳng định qua việc trước khi nhập Niết bàn Đức Thế Tôn dạy rằng: “Này Ānanda! Pháp và Luật ta giảng dạy và trình bày, sau khi ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy là Đạo Sư của các ngươi5”.Đức Tổ sư Minh Đăng Quang dạy rõ: “Giới là nguồn cội của đạo Phật, Giới còn thì đạo Phật vẫn còn, Giới mất thì đạo Phật phải mất. Giới ví như khuôn hình cái trống, để bảo thủ lấy cái tiếng đầm ấm, thanh tao của nó. Giới ví như bầu không khí để hộ lấy sự sống của muôn loài. Giới ví như bức tường để ngăn cản các nẻo phóng tâm, chẳng cho lục trần thâm nhập. Có giới mới có thể phân biệt được nẻo chánh đường tà; có giới mới có sự an vui hòa hảo. Giới là cái nhân sanh của giống người và trời, nghĩa là chỉ có giới mới có thể bảo giữ cho con người được hoàn toàn tấn hóa. Giới luật dắt dẫn người hành đạo từ thấp chí cao, tùy đẳng cấp, chớ sự tu hành chẳng phải không chuyên mà thành, không hành mà đắc. Giới ví như bờ biển, bao giờ cũng lài, cũng thấp, cũng bằng phẳng, chớ không phải dốc, đứng và thẳm sâu như các giếng, ao vậy. Nên vị nào hiểu rõ giới luật ấy rồi, thì hết lòng vui thích mà hành theo6”.

Đối với hàng đệ tử tại gia cư sĩ thì thọ trì căn bản là năm giới, đó là: 1. Không sát sanh, 2. Không trộm cắp, 3. Không tà dâm, 4. Không nói dối, 5. Không uống rượu hay các chất gây say.

Hoặc thọ trì tám giới hay còn gọi là thọ trì Bát quan trai giới đó là: Bát quan trai, theo nghĩa đen là tám điều không nên làm, như là tám cửa ải chặn đứng các pháp bất thiện. Giới Bát quan trai chính xác được gọi là giới cận trụ. Nghĩa là, sống gần đời sống xuất gia, gần chùa chiền, gần nơi thanh tịnh, tập quen với đời sống thanh tịnh.

“1. không sát sanh; 2. không trộm cắp; 3. không dâm dục; 4. không nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi; 5. không uống rượu, tham lam, sân giận, si mê; 6. không trang điểm phấn son, áo quần hàng lụa tươi tốt, và nghe xem hát múa đờn kèn, yến tiệc vui đông; 7. không ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chiếu lớn xinh đẹp; 8. Cấm ăn sái giờ từ quá ngọ đến ngọ mai (ăn chay)”. Còn cao hơn nữa, cận trụ được hiểu là tập sống gần đời sống một phạm hạnh xuất gia. Ngoài nghĩa cận trụ, giới Bát quan trai còn được gọi là giới Bồ tát hay Trưởng tịnh. Trưởng tịnh là trì giới làm phát triển phần thanh tịnh, những đức tính tốt trong mình.

Tổ Sư còn dặn kỹ rằng: “Giới luật dắt dẫn người hành đạo từ thấp chí cao, tùy đẳng cấp”. Nghĩa là tùy theo sự hiểu biết căn trí của mọi người nam, nữ mà khi xuất gia có những điều giới riêng biệt khác nhau. Người nam khi xuất gia thọ giới pháp Tỳ-kheo: Gồm Tứ pháp và 250 giới Tỳ-kheo. Chư Tăng Khất sĩ mặc bộ tam y, dùng bình bát đất, hành hạnh Khất sĩ để trở thành bậc Vô thượng sĩ trong tương lai. Người nữ hành hạnh Khất sĩ và thọ trì 348 giới khi xuất gia thọ giới pháp Tỳ-kheo Ni cũng phải mặc bộ tam y, dùng bình bát đất.

Mỗi giới điều chế ra nhằm giúp cho hàng Ni lưu thu thúc thân và miệng. Giới là chuẩn mực, là thước đo hành vi ngôn ngữ, phạm hạnh của con người. Nhờ có những mức định tội căn bản này đã giúp cho hàng nữ lưu sớm đoạn trừ những cấu uế phiền não nơi tâm. Nếu không có Giới thì không biết căn cứ vào đâu để kết luận người này có lỗi, người kia không có lỗi, người này thanh tịnh, người kia không thanh tịnh.

Giới giúp cho chúng sanh đoạn trừ 16 cấu uế phiền não nơi tâm do bị tham – sân – si sai sử, đó là: “Tham dục, tà tham cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dật là cấu uế của tâm”.
Kinh Tiểu Bộ, Đức Thế Tôn có dạy: “Người trú giới có trí, tu tập tâm và tuệ. Nhiếp Tâm và thận trọng, Tỳ-kheo ấy thoát triền7”.

Tóm lại, giới luật là mạng mạch của Phật pháp. Nên việc thực hành giới là việc bảo vệ mạng mạch ấy, để giáo pháp không bị phai mờ theo gió bụi của thời gian. Tuổi thọ của giáo pháp dài hay ngắn phụ thuộc vào ý thức và giữ giới của mỗi người. Nên mỗi người tu sĩ nên phản quan tự kỷ về việc thọ giới và giữ giới của mình trong sinh hoạt hiện nay.

Liên Quý


  1. HT. Thích Minh Châu (1995), kinh Tăng chi, tập 1, phẩm Sa Môn, Nxb TP. HCM, tr. 59.
  2. HT. Thích Minh Châu (2005), Trường bộ kinh, tập1, kinh Đại Bát Niết bàn, Nxb TP. HCM, tr. 555.
  3. Tổ Sư Minh Đăng Quang (1998), Chơn lý Luật Nghi Khất Sĩ – Riêng giới xuất gia, Nxb TP. HCM, tr.103.
  4. Tổ Sư Minh Đăng Quang (1998), Chơn Lý, Giáo lý Khất sĩ, Nxb TP. HCM, tr. 880.
  5. HT. Thích Minh Châu (2005), kinh Trường bộ tập 1, bài 15, Kinh Đại Bát Niết-bàn, Nxb TP. HCM, tr. 663.
  6. Tổ Sư Minh Đăng Quang (1998), Chơn Lý, Giáo lý khất sĩ, dành riêng cho người xuất gia, Nxb TP. HCM, tr. 103- 104.
  7. Tổ Sư Minh Đăng Quang (1998), Chơn Lý, Phép cư sĩ, Nxb TP. HCM, tr. 245.
TIN KHÁC
TIN LIÊN QUAN