Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng riêng

266

  Lễ hội văn hóa đi chùa vào ngày rằm tháng giêng

Ý nghĩa câu nói của dân gian: “Lễ Phật quanh năm không bằng ngày Rằm tháng Giêng” sẽ được đề cập với 3 góc độ, từ quan niệm của quần chúng, từ quan niệm của đạo Lão và cuối cùng ứng dụng trong lĩnh vực của Phật giáo.

Sở dĩ có câu nói: “Lễ Phật quanh năm suốt tháng, không bằng vào ngày Rằm tháng Giêng” vì chúng ta quan niệm đó là ngày chư Phật ở cõi Tây phương Cực lạc giáng lâm từng ngôi chùa, chứng minh tấm lòng thành của bá tánh. Câu nói dân gian đó, một mặt muốn đề cao giá trị của ngày rằm tháng Giêng, mặt khác thể hiện cách hiểu sai về quan niệm nhân quả và sự gia hộ của chư Phật. Lời kêu gọi đi chùa vào ngày rằm tháng Giêng lúc đầu như là một lễ hội văn hóa, nhưng về sau, yếu tố tín ngưỡng và tôn giáo phát triển mạnh làm cho lễ hội đó trở nên bình thường. Người đi chùa đông bởi vì có Phật chứng minh, khi nào Phật không chứng minh thì không đi, nghĩa là đi có điều kiện.


Tâm lý thông thường của con người muốn được người khác biết đến chủ thể của mình như là một chủ thể đang có mặt, đang làm việc, đang sinh hoạt, đang đi, đứng, nằm, ngồi, ngoại trừ một số cá nhân không thích bày lộ mình ra trước quần chúng. Phần lớn, con người cảm thấy được niềm vui khi có người khác quan tâm và biết đến sự hiện hữu của mình, nên lễ hội dân gian Rằm tháng Giêng trở thành lễ hội rất lớn. Bởi mọi người mong muốn và tin rằng chư Phật sẽ phù hộ, chứng minh, gia trì cho những lời ước nguyện tốt lành trong đầu năm mới được thành tưụ, vạn sự kiết tường như ý. Sự chứng minh của các đức Phật đâu có đơn giản như cách nói của chúng ta, Phật chỉ xuống chứng minh vào ngày Rằm.

Tất cả mọi việc làm của chúng ta được tiến trình nhân quả chứng biết. Chính quy luật nhân quả này như là một cán cân công lý, quyết định tất cả mọi thưởng phạt, hạnh phúc hay khổ đau của con người. Sự có mặt của đức Phật dạy chúng ta quy luật bất biến đó, cho nên tới lúc nào chúng ta còn tin vào luật nhân quả thì lúc đó đức Phật vẫn đang hiện hữu trong ta. Nhìn thấy tất cả các hành động của ta mặc dù rất thầm kín, có thể tồn tại dưới dạng thức, những suy nghĩ rất thầm lặng, chưa bộc lộ ra bên ngoài nhưng vẫn được chứng biết qua nhân quả. Cho nên, các nghĩa cử cao thượng, các việc làm lành dù có được người biết đến hay không chúng ta vẫn làm vì nó là một đức tính tốt. Xã hội hóa các việc lành đó sẽ làm tăng thêm giá trị về sự hiện hữu của con người trong cuộc đời. Dù cho đời sau có hay không kết quả của hành động diễn theo ý muốn của ta, điều quan trọng ở chỗ khi ta làm một việc tốt, lòng cảm thấy hân hoan vì ý nghĩa của sự hiện hữu có mặt. Do đó, chúng ta không chỉ đi chùa vào ngày Rằm tháng Giêng mà đi bất cứ lúc nào chúng ta có thể thu xếp được thời gian.

Nhiều Phật tử rất siêng năng, đi chùa mỗi ngày, thậm chí có nhiều vị cố gắng thu xếp thời giờ tụng kinh vào lúc 6 giờ chiều ở một ngôi chùa, sau đó lập tức đi qua ngôi chùa thứ hai để có thời kinh thứ hai trong ngày bắt đầu vào 7 giờ tối. Niềm vui của họ là được tiếp xúc với các giá trị tâm linh, cho nên biết thu xếp để có thể tận hưởng được các giá trị về đời sống tinh thần, nhờ đó các căng thẳng do sức ép của công việc, làm ăn buôn bán trong các mối quan hệ đối tác được giảm xuống rất dễ dàng.

Trong truyền thống Phật giáo Nam tông có ba ngày liên hệ tới ba viên ngọc quý được gọi là ba đền tâm linh. Ngày Phật bảo, tức là ngày rằm tháng Tư Rasakbucha tượng trưng cho tất cả những gì cao thượng nhất, đẹp đẽ nhất trên cuộc đời, liên hệ tới sự có mặt của đức Phật, sự thành đạo của Ngài và sự ra đi khỏi cõi đời này. Ngày Tân bảo được gọi là ngày Katinabucha, ngày tôn vinh đời sống đạo đức của chư vị chân tu Phật học xuất gia tiến về một phương trời cao rộng, từ bỏ những hưởng thụ của đời sống thế trần, trở thành con người thanh cao trong giản đơn và mang giá trị tâm linh của Phật pháp đến với mọi người. Sau ba tháng an cư, các thiết y công đức được dâng lên các vị xuất gia vào ngày Rằm tháng 9 Âm lịch tương đương tháng 10 Dương lịch.

Ngày Rằm tháng Giêng được hiểu trong Phật giáo truyền thống là ngày Pháp bảo, vì ngày đó có hai sự kiện quan trọng. Thứ nhất, đức Phật tuyên bố rằng là ba tháng nữa Ngài sẽ rời khỏi cõi đời này. Vì tất cả những việc cần làm trong cuộc đời này Ngài đã làm xong, nhiệm vụ giáo hóa cho cuộc đời có được cặp mắt của tuệ giác và tình thương đã được thiết lập. Các pháp môn giáo hành trì đã được phơi bày không có gì giấu giếm. Môn đệ và tất cả bá tánh đã hiểu được con đường và hành trì có kết quả với sự an vui và hạnh phúc, cho nên Ngài cảm thấy nhiệm vụ đã chu toàn, ra đi để hóa độ chúng sanh ở các hành tinh khác. Sự kiện thứ hai, ngày Rằm tháng Giêng là thời điểm đức Phật đã giảng thuyết về một bài thi kệ có tựa đề là “Giải thoát, giải thoát giáo”, tức dạy con người những cách thức phóng thích nỗi khổ và niềm đau, vì giải thoát là sự mở trói, phá tan xiềng xích, dộng tan cửa ngục mà mỗi ý niệm về lòng tham, mỗi tâm niệm về sân hận và mỗi ý niệm về si mê chính là một ngục tù, giam nhốt chúng ta trong nỗi khổ niềm đau.

Đặc biệt dân gian miền Bắc cho rằng ngày Rằm tháng Giêng, chư Phật, Bồ tát sẽ có mặt ở tất cả ngôi chùa để chứng giám, nên lễ hội dân gian đó gắn liền với tín ngưỡng. Ai nấy đều nô nức trở về chùa, không ai bảo ai, trên tay cầm vài mươi nén hương, khói nghi ngút khắp cả ngôi chùa. Hòa phong tục tập quán đốt vàng mã, nguyện cầu, khấn vái, cúng sao mong cho các tai ách và hạn vận của mình trong một năm được tháo gỡ nhờ vào lòng từ bi của đức Phật.

Chúng ta đến chùa vào ngày Rằm tháng Giêng chỉ với quan niệm dân gian thông thường đó, thì giá trị giảm đi rất nhiều. Thay vì tiếp xúc đạo Phật như một viên kim cương, với quan điểm chúng ta tiếp xúc đạo Phật qua lớp sôcôla bọc viên kim cương đó, tức là thử một phần rất nhỏ các giá trị trong đó còn nội dung quan trọng hơn lại bị bỏ quên, và đó là mất mát và tổn thất về phía người hành trì. Chúng ta cần dành thời giờ để đến các giảng đường, nơi mà các bài thuyết pháp có thể được diễn ra trong một ngôi chùa nào đó, để chúng ta học hỏi được những gì mà đức Phật dạy.

Đến với đạo Phật thông qua phong tục tập quán, tín ngưỡng thì chúng ta sẽ biến ông Phật thành vị thần linh và bản thân mình chỉ sống trên những lời nguyện cầu. Mặc dầu nó phát xuất từ những gì mình mong mỏi thiết thực và chân thật nhất, nhưng kết quả là một vấn đề khác. Vì theo đạo Phật, tất cả mọi thứ được và mất trong cuộc đời do nhân và duyên tạo ra kết quả, thay vì chúng ta đổ dồn tâm sức vào nguyện cầu thì đổi lại Phật dạy, hãy gieo trồng các hạt giống về những gì chúng ta mong đợi, kết quả sẽ diễn ra một cách tất yếu.
Tình trạng có kết quả như mong đợi, giống như chúng ta đào giếng và dĩ nhiên phần lớn ai cũng muốn có được nước. Nếu người đào giếng đó là một nhà thơ thì mục đích của việc có nước giếng là để ánh trăng có thể soi vằng vặc, ảnh hiện tạo ra quang cảnh rất hài hòa về ban đêm, với một bức tranh tức cảnh sinh tình. Người đào giếng đó chỉ mong cầu mau có nước để thấy trăng hiện mà không đào, hoặc là vừa đào vừa chơi thì nguyện cầu đó, ước muốn đó dù có chân thành tới cỡ nào đi nữa vẫn không bao giờ có kết quả.

Đạo lý của Phật dạy, thay vì đổ dồn và đánh mất năng lượng vào những mong đợi thiếu hiện thực thì hãy nỗ lực làm, cứ đào khi nào có nước thì trăng sẽ hiện. Như vậy, chúng ta sẽ giảm thiểu được năng lượng bị thiêu đốt vào những mong cầu và đôi lúc nó dẫn tới tình trạng hi vọng càng nhiều thất vọng càng cao, chán nản theo đó phát sanh. Cho nên, đức Phật dạy chúng ta sống bằng hành động và sống rất thiết thực mặc dầu chúng ta phải nuôi dưỡng các ý chí, các nguyện vọng chân thành như là một động năng để đẩy chúng ta về phía trước.

Ý nghĩa lễ thượng nguyên

Lễ Thượng Nguyên trong chữ Hán là sự bắt đầu cao cả, bắt đầu có tầm vóc lớn, nó còn được gọi là Tết Nguyên Tiêu, hoặc là Tết Nguyên Kịch hay là Nguyên Già bởi vì nó gắn liền với ban đêm có ánh trăng soi vằng vặc. Nó là một quang cảnh rất hữu tình cho mọi thế hệ, già trẻ lớn nhỏ, nam nữ ở mọi phương trời.

Lễ Nguyên Tiêu là đêm trăng tròn đầu tiên của một năm âm lịch, với ánh trăng soi và sự lung linh huyền diệu, tạo ra khung cảnh vừa đẹp vừa linh thiêng. Do đó, nó gắn liền rất nhiều phong tục tập quán và dân gian xem đó như một cơ hội du xuân về đêm. Có lẽ, dân tộc Việt Nam là một trong rất ít dân tộc trên thế giới có thời gian thưởng ngoạn, vui xuân, ăn Tết dài nhất và lâu nhất. Tết không chỉ bắt đầu vào đêm giao thừa, vào thời khắc mới của một năm, còn kéo dài tới Rằm tháng Giêng và nhiều nơi còn quan niệm luôn cả tháng Giêng, ít nhất là 15 ngày hay là 30 ngày. Tết Tây chỉ có 2-3 ngày là kết thúc. Tết văn hóa tôn giáo của các quốc gia trên thế giới cũng chỉ có vài ba ngày mà thôi. Người Việt Nam nghỉ Tết khá lâu, có lẽ lâu nhất trong các dân tộc.

Ba ngày rằm trong truyền thống Lão giáo

Trong truyền thống của Lão giáo có 3 ngày Rằm quan trọng được gọi là Thượng nguyên, Trung nguyên, và Hạ nguyên. Thượng nguyên là ngày Rằm tháng Giêng gắn liền với một vị quan ở trên trời và từ đó nó có một câu thành ngữ thứ tự “Thiên Quan Tứ Phước” (Quan trời ban phước lộc). Dân gian Trung Hoa ảnh hưởng theo truyền thống của Lão giáo này đã cho rằng ngày Rằm tháng Giêng là ngày có rất nhiều phước lộc cho nên lễ hội văn hóa đã được xuất hiện một cách có ý nghĩa trong ngày rằm này. Lễ Trung nguyên rơi vào ngày Rằm tháng Bảy gắn liền với vị địa quan với chức năng “Địa Quan Phạt Tội” tức là mang lại sự công bằng, công lý trong cuộc đời, tội thì trừng phạt, công thì được thưởng. Ngày Rằm tháng Giêng là ngày để tạo phước lộc, sau đó rằm tháng Bảy là các việc mang lại công lý và công bằng trong cuộc đời. Rằm tháng Mười được gọi là Hạ nguyên gắn liền với thủy quan (tức quan dưới nước, thế giới của biển khơi sông ngòi nói chung) và chức năng là giải áp tức giải tất cả mọi tai ách, oan khiên, oan trái của cuộc đời thông qua các mối quan hệ có nhiều lân cận giữa con người với con người.


Khi người ta gắn liền ba vị quan này, một bên là trời, một bên là đất, một bên là nước, với ba chức năng: Ban phúc lộc, tạo công bằng, giải tai ách đã tạo ra cơ hội cho sinh hoạt văn hóa của con người có một định hướng. Tức là trong tháng Giêng đừng bao giờ mất phương hướng như dân gian Việt Nam, đó là tháng Giêng là tháng ăn chơi mà hãy tạo cái gì đó cho có phúc lộc, có giá trị cho những gì ta dấn thân vào trong suốt ngày Rằm tháng Giêng.
Câu nói dân gian Việt Nam có thể phát xuất từ một cá nhân nào đó, hay là một tập thể nào đó nương vào mùa nghỉ Tết họ đã vui chơi, giải trí với nhiều hình thức khác nhau. Có nhiều người lười hoặc là chơi Tết quá lâu suốt cả một tháng Giêng. Chứng kiến trước cảnh tượng như vậy nên người ta đã đưa ra câu nói: “Tháng Giêng là tháng ăn chơi”. Nhìn trên thực tế dân tộc Việt Nam không sử dụng tháng Giêng là tháng ăn chơi mà nó là tháng của các lễ hội văn hóa và tôn giáo.

Lễ hội qua ba miền

Ở miền Bắc, người dân Việt Nam tham gia vào các lễ hội qua cách thức trẩy hội khác nhau, rất đa dạng và phong phú. Mỗi nơi mỗi cách, hội Gò Đống Đa thuộc khu vực Hà Nội, hội Cổ Loa thuộc đền Gióng (Hà Nội), hội chùa Hương tỉnh Hà Tây, hội Yên Tử ở tỉnh Quảng Ninh, hội Liêm ở Bắc Ninh… Còn nhiều hội mang tính cách dân gian và dân tộc khác gắn liền với mùa Xuân thể hiện nhiều dấu hiệu của an vui, hân hoan, phấn khởi, tươi mát, muôn màu, muôn vẻ.

Ở miền Nam, có lễ hội bà Chúa Xứ ở Châu Đốc, hoặc lễ hội bà Thiên Hậu ở Bình Dương. Đối với những người Hoa còn có lễ hội chùa Ông hay nói cách khác là lễ hội Quan Thánh Đế Quân. Các hoạt động văn hóa được thể hiện rất đa dạng. Chẳng hạn như là cơ hội ngắm đèn, ăn bánh trôi, thưởng thức các ca khúc, ca kịch, hay xiếc, ẩm thực, múa sư tử, múa hương ca và cơ hội để viếng chùa, thắp lễ hoa đăng… Ý nghĩa ngày lễ văn hóa đó đã thiết lập tình hữu nghị giữa hai dân tộc, sống trong cùng một quốc gia mà trong quá khứ đã từng có những cuộc chiến tranh đẫm máu, gây ra những cảnh hận thù và phân ly rất nhiều.
Ý thức hệ qua các cuộc chiến làm cho con người ngày càng phân ly, trong khi đó, lễ hội văn hóa làm con người gắn bó và gần gũi với nhau nhiều hơn. Nhu cầu để thưởng thức giá trị tinh thần cao cấp này ai cũng có, ở đâu cũng có và trong niềm vui dễ dàng có cơ hội liên kết với nhau. Các lễ hội văn hóa đó phải gắn liền với phong tục tập quán của một dân tộc, để ý nghĩa xã hội văn hóa được phát huy một cách triệt để.


Trẻ vui nhà, già vui chùa

Dân gian có câu: “Trẻ vui nhà, già vui chùa”, nói lên hai khuynh hướng hưởng thụ văn hóa và dấn thân vào văn hóa khác nhau. Thế hệ trẻ thì ở nhà, thế hệ lớn tuổi thì đến chùa. Ở nhà có thể vui nhộn, thưởng thức văn nghệ, hoặc là những trò chơi, bạn bè; vào chùa hướng về đời sống tinh thần. Do đó, hai hướng lựa chọn này có hai cách thức mang lại hai giá trị khác nhau, trong hưởng thụ các giá trị vật dục, chỉ cần một giây phút mất kiểm soát con người có thể trở thành nô lệ của nỗi khổ niềm đau và biến mình thành nạn nhân. Trong khi đó, hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần con người sẽ thăng hoa chính mình, đỡ tốn tiền mà lại tăng thêm giá trị. Câu nói này bây giờ không còn đúng nữa, vì ngày nay đi chùa không chỉ với người lớn tuổi, sau những năm tháng thăng trầm, vinh nhục, con người hướng nội, quay về với chính mình; mà giới trẻ, nam thanh nữ tú cũng dìu dập và nô nức đến chùa để trẩy hội.

Quí vị có mặt ở miền Bắc, nơi gắn liền các lễ hội với sự tham gia của rất nhiều người lớn tuổi, nhưng bây giờ người tham gia trên phân nửa là giới trẻ. Khuynh hướng đó đã có mặt khắp mọi nơi mọi chốn. Quan niệm dân gian giống như qui luật qui nạp, đúc kết kinh nghiệm được diễn ra từ một bối cảnh lịch sử nào đó, nhưng xem đó là chân lý thì chỉ như là đóng khung sẽ diễn ra sai với những gì chúng ta mong đợi.

Điều đáng nói, ở tại miền Bắc, người ta có khuynh hướng không phải đi chùa mặc dù lễ hội Rằm tháng Giêng lúc đầu có nguồn gốc từ Lão giáo, nhưng sau khi được tiếp biến văn hóa từ cái nhìn nhà Phật, ý nghĩa đạo đức, xã hội, và giá trị tâm linh của nó được nâng lên. Nhưng rất tiếc ngày nay, người miền Bắc lại gắn liền với các điện thờ Bà nhiều hơn là chùa Phật. Nếu như trước đây người ta có khuynh hướng đi bốn chùa trong hệ tứ pháp như chùa Bà Dâu, chùa Bà Đậu, chùa Bà Tướng và chùa Bà Giàng, thì bây giờ người ta đi sáu ngôi chùa Bà vì họ có niềm tin gắn liền với sự phù hộ của các Bà. Với niềm hi vọng rằng, Bà tượng trưng cho tình thương như là một người Mẹ. Sáu ngôi chùa đó là chùa Bà Đá, chùa Bà Đanh, chùa Bà Đành, chùa Bà Ngô, chùa Bà Giàng, và chùa bà Mốc, các ngôi chùa này đều ở miền Bắc. Ngày hôm nay, ngày mai và vài ngày hôm sau nữa tất cả ngôi chùa này rất đông Phật tử và những người không tôn giáo nói chung đến cúng viếng, cầu nguyện, xin xăm, đoán tướng, cúng sao, mong cho các hạn ách của mình được trôi qua dưới sự phù hộ của các Bà xem như là linh hiển, mong Trời Phật giúp cho mình vượt qua mọi điều bất hạnh trong cuộc đời.

Ở miền Bắc còn nhiều nơi thiết lập các đàn tràng chia làm sáu lớp khác nhau, trên cao nhất là thờ Phật, kế đến là Trời, kế đến là Tiên, Thánh, thứ 5 là sao thủ mạng của bản thân, và thứ sáu là cô hồn đoản tử. Quan niệm dân gian này có thể phối hợp ba truyền thống dân gian tín ngưỡng, đạo Lão, đạo Phật và đạo Khổng. Nhưng vẫn xem giá trị tâm linh của đạo Phật là cao nhất.

Tam Giáo Đồng Nguyên diễn ra trong bối cảnh khi chính trị giữa Việt Nam và Trung Hoa trở nên khốc liệt. Sự hài hoà về Tam giáo mặc dù vốn khác nhau trở thành những yếu tố rất quan trọng để nối kết tình dân tộc giữa hai quốc gia, thiết lập nền tảng hòa bình thông qua tu dưỡng văn hóa là một nhu cầu rất đặc sắc và rất hay. Dân gian tiếp thu yếu tố văn hóa trong ba tôn giáo này để thiết lập ra một đàn tràng và yếu tố Phật giáo vẫn chiếm vai trò quan trọng. Cô hồn là thấp nhất, trời-tiên-thánh một số tôn giáo chấp nhận chung, một số chấp nhận riêng. Cúng Phật mà không hiểu được giá trị tâm linh đạo đức mà đức Phật đã dâng hiến cho cuộc đời thì chúng ta chỉ thử được một phần rất nhỏ tức là các giá trị sôcôla thay vì giá trị kim cương. Đánh đồng Phật với các thần linh, thượng đế thì chúng ta không hiểu được Phật.

Tục đón trăng và nối kết kỷ niệm tình yêu

Trong dân gian còn có tục du trăng hay là đón trăng vào ban đêm. Ở Hà Nội, có chùa Hà (Cầu Giấy), không ai bảo ai, cứ ngày Rằm tháng Giêng, các cô cậu thanh niên đến tuổi biết yêu đều về đây thắp hương, khấn vái Trời Phật phù hộ cho cuộc tình này trở thành trọn vẹn, răng long đầu bạc. Trước đây, các nam thanh nữ tú hay tới cây đa đầu làng, đến hồ giữa xóm, chỗ gò cao, bến nước, vườn đào để trao nhau lời thề và tâm sự với nhau bằng những câu hò để kết nối tình thân và thiết lập tình yêu. Một trong những câu hò quan trọng nhất được rất nhiều người thuộc “Nhớ ơn đêm Rằm tháng Giêng, có ông nguyệt lão se duyên cho mình”.

Nhân ngày tới chùa, nhất là chỗ trước đây đã trao lời thề, họ làm mới cảm giác yêu thương. Việc làm mới và làm nóng lại mối tình bằng thời điểm bắt đầu của nó là một nhu cầu rất cần thiết cho rất nhiều cặp vợ chồng. Bởi vì, những năm tháng đầu của tình yêu luôn có vị ngọt của chăm sóc, hiểu biết, chia sẻ, cảm thông. Vài năm sau, nó bắt đầu đổi khuynh hướng mới trở thành như là tình nghĩa với các trách nhiệm: vợ – chồng, cha mẹ – con cái, và gia đình – làng xóm.

Ý niệm về trách nhiệm trong đời sống khế ước xã hội hôn nhân làm cho tình yêu trong nhiều cặp vợ chồng mất đi hoặc giảm đi nhiều. Nếu như tâm lý và sự sống của hai người khác nhau nhiều quá mà không tìm được sự thương lượng để đắp bồi hạnh phúc thì nó dẫn đến tiến trình thứ hai là vị đắng. Nghĩa là sống chung với nhau chỉ mang lại khổ đau, dằn vặt cảm xúc, dằn vặt hành hạ về đời sống và làm cho cả hai bên đều cùng nghẹt thở, khó chịu.

Tiến trình tâm lý đó nếu không giải quyết sẽ dẫn tới bế tắc, do đó được kinh điển nhà Phật gọi là vị xúc ly, tức là muốn vẫy tay chào vĩnh viễn với nó khi trái tim cả hai bên bắt đầu bị se thắt, lạnh giá, bão hòa và không còn tiếng nói chung của cảm thông, hiểu biết, thương yêu.

Việc trở về các ngôi chùa vào ngày Rằm tháng Giêng nhắc lại những kỉ niệm đẹp không phải là chuyện cấm kị, vì đó là đối tượng vượt qua của người xuất gia. Đối với người tại gia đó là chuyện bình thường cho nên người tại gia vẫn có quyền được yêu, tiến tới hôn nhân, hạnh phúc gia đình và thể hiện cái đó trong khuôn viên ngôi chùa. Nhờ giá trị kỷ niệm đẹp đó mà giá trị hạnh phúc ban đầu, vị ngọt đó được làm mới.

Trong Phật giáo có câu mà tất cả người xuất gia đều thuộc lòng, để giúp vượt qua mọi khó khăn trong đời sống chuyển hóa và tu tập: “Xuất gia như sơ, thành Phật hữu như” (nếu duy trì được tâm niệm xuất gia như buổi đầu tiên mới bắt đầu phát tâm với chí nguyện lớn, với thao thức lớn thì thành Phật là chuyện dễ dàng, ai cũng có thể làm được). Chúng ta có thể lấy câu nói đó áp dụng trong tình yêu và hôn nhân, nếu giữ được tình yêu lý tưởng trong những tháng đầu quen nhau, trong những năm đầu sống chung hạnh phúc đến suốt cuộc đời thì khó có nỗi khổ niềm đau nào xuất hiện. Lâu lâu, phải hâm nóng, nhắc nhở để có thể vượt qua những điểm dị biệt, vun bồi những điểm chung.

Tục đón trăng thiết lập và kết nối tình yêu đã trở thành nhu cầu văn hóa rất hay vì thể hiện tình yêu trong khuôn viên ngôi chùa rất đẹp. Nó không có những yếu tố lố lăng quá đà mà ngày nay ở các công viên ta có thể nhìn thấy, vì cái đó có thể phá vỡ nền văn hóa dân tộc. Hơn nữa, khi chúng ta kết nối tình thân và tình thương, ôn lại quãng thời gian của tình yêu đẹp trong đời mình là để cả hai người cùng sống lại và làm mới. Nhu cầu đó hỗ trợ cho chúng ta có thể nuôi dưỡng tình yêu một cách có ý nghĩa và có lợi cho cả hai bên và tránh những sự đổ vỡ không cần thiết.

Quan niệm dân gian phát xuất từ quan niệm của đạo Lão, tạo ra tiến trình tiếp biến văn hóa rất cần thiết, và kể từ khi đạo Phật hòa vào sự tiếp biến văn hóa đó thì ý nghĩa của ngày Rằm tháng Giêng càng có nhiều điều chúng ta có thể học hỏi.

Như đã nói, ngày Rằm tháng Giêng theo truyền thống của Phật Nam tông đó là ngày đức Phật thuyết giảng bài kệ “Giảp pháp giới, giải pháp giáo”, như là một tuyên ngôn về đời sống đạo đức mà tất cả những ai muốn được hạnh phúc càng phải thực hiện, thực tập. Sẽ là một sai lầm khi chúng ta cho rằng đời sống đạo đức chỉ dành cho những người xuất gia. Nó là vòng đai bảo hộ cho tất cả mọi người.


Đề tài “Đi chùa quanh năm không bằng ngày Rằm tháng Giêng” chỉ để nhắc đến một điều quan trọng là chúng ta đừng biến đức Phật thành vị thần linh ban phước, giáng họa mà hãy xem đức Phật là một tấm gương vĩ đại của đức tính cao thượng, vô ngã vị tha, tuệ giác sáng chói, lòng từ bi không giới hạn. Dấn thân không mệt mỏi suốt 45 năm, Ngài đã mang lại lợi lạc cho biết bao nhiêu là thế hệ, cho nên chúng ta cố gắng học hỏi phần nào hay phần đó ở Ngài để chúng ta trở thành những con người có ý nghĩa. Nếu ngày Rằm tháng Giêng chúng ta đến chùa với những tính tốt đó thì chắc chắn cả quãng đời 5-7 năm của chúng ta chỉ bằng ngày chúng ta sống cao thượng. Nếu ngày nào cũng làm giống ngày Rằm tháng Giêng thì đời sống này thật sự có ý nghĩa và hạnh phúc.

Trần Ngọc Thảo