Lắng lòng nhớ về bậc đại Ni

163

   Như một chút duyên còn đọng lại giữa vô thường sanh diệt, vừa qua, sáng ngày 9/ 4/ 2021, (nhằm ngày 28 tháng 2 năm Tân Sửu), tại chùa Quang Minh (thuộc phường Tân Đồng, TP. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước), môn đồ pháp quyến trang nghiêm cử hành lễ húy kỵ lần thứ 14 của cố Ni trưởng Chí Kiên. Cũng trong thời gian này, Tổ đình Huê Lâm (phường 2, quận 11, TP.HCM) đã long trọng tổ chức lễ Đại tường cho cố Ni trưởng Thích Nữ Như Châu. Trong tinh thần niệm ân những bậc Thầy mô phạm, dấu vết lịch sử của các Ni trưởng lại thêm lần nữa được gợi nhớ trong ngày trọng đại này. Qua đó, cũng chuẩn bị chút tinh thần cho lễ Đại tường sắp tới của Ni trưởng Thích Nữ Như Ấn.

Lễ Đại Tường Cố Ni trưởng thượng Như hạ Châu tại Tổ đình Huê Lâm

Cố Ni trưởng thượng Chí hạ Kiên

Cố Ni trưởng thượng Chí hạ Kiên.

Pháp húy Hồng Chí, tự Tâm Ý, thế danh Đặng Thị Mười: (1913 – 2007), thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 39. Trụ thế 95 năm, 75 mùa hạ lạp, Ni trưởng đã chung tay đóng góp cho trang sử Ni giới nước nhà cùng thời với Sư trưởng Như Thanh, Ni trưởng Liễu Tánh. Nói đúng là một trong những gương mặt gạo cội của Ni giới miền Nam trong giai đoạn thành lập và phát triển Ni bộ Bắc tông.

Qua lời của Ni trưởng Thích Nữ Như Cương khi cung tuyên tiểu sử của cố Ni trưởng, đã cho thấy tinh thần hiếu học, cầu tu dũng mãnh của Người, trong đó phải kể đến quá trình tham học tại Vĩnh Tràng, Linh Thứu, Tịnh Minh, Bảo Tạng, Từ Hóa và Bình Quang… Mọi tâm lực, trí lực của Ni trưởng đều hướng về sự nghiệp giáo dục, đào tạo Ni tài, đem thân thị chúng với ước mong Ni chúng tự khẳng định mình bằng chính đạo phong và sở học, đoàn kết một lòng để xây dựng một Ni bộ vững mạnh, trang nghiêm thanh tịnh.

Ngày nay, những âm hưởng về Ni trưởng vẫn còn được lưu dấu trong nhiều bài viết tại các tập san Phật học trong nước như Hoa Sen, Hoằng Pháp và Hoa Đàm. Bừng sáng trong chiều sâu tư duy và nhận thức khi còn ở độ tuổi 15, cây bút của Người quả đáng để Ni chúng hậu học quy ngưỡng. Sự chín chắn đó cũng từng được phác họa trong thi phú: “Thiền khách du sơn” được Ni trưởng viết năm 1974:

"Thiền khách du sơn tự tại nhân
Cõi lòng thanh thoát đạo thênh thang
Non cao đá dựng từng từng gộp
Rừng thẳng cây giăng lớp lớp hàng
Suối bạc lung linh thông giác ngạn
Tùng xanh phơn phớt triệt huyền quang
Sắc Không Chơn Vọng đâu còn nữa
Buông bỏ hai đầu, chặng giữa tan."

Cố Ni trưởng thượng Như hạ Châu

Pháp húy Nhựt Châu, tự Nguyên Hương, thế danh Nguyễn Thị Châu (1939 – 2019).
Nối gót sự nghiệp của bậc Tôn sư (Sư trưởng Như Thanh), Ni trưởng đã kiêm nhiệm trong rất nhiều vị trí được Giáo hội giao phó. Đặc biệt là sự đóng góp cho trang sử phát triển Ni giới của Ni bộ Bắc tông. Ngoài ra, còn làm rạng rỡ tông phong Tổ đình Huê Lâm mà bậc Tôn sư đã ủy thác.

Sau 2 năm vắng bóng, trai nghi Đại tường cố Ni trưởng đã được diễn ra dưới sự chứng minh của nhiều trưởng lão Tăng Ni tại trung tâm Thành phố. Nhìn về lịch sử của hơn 80 năm sống đời đạo hạnh đó, bóng mát và hương đức độ của Ni trưởng vẫn còn in đậm nét son và được xem như suối nguồn để khích lệ và khơi dậy tinh thần phụng sự, tu học của chư Ni ngày nay.

Nén nhang vẫn chưa lịm tắt trên hương án ngày Đại tường nhưng trước chân dung đầy thanh tú của Người, chư Ni hậu học không chỉ đến để thấy, để nghe mà còn để lắng lòng trong những suy tư, trăn trở mà các Ngài vẫn còn để dành cho Ni lưu mai hậu.

Cố Ni trưởng thượng Như hạ Ấn

Cố Ni trưởng thượng Như hạ Ấn

Xuất thân từ một gia đình trung lưu, thâm tín Phật pháp; Ni trưởng thượng Như hạ Ấn thế danh Ngô Thị Khả, tự Diệu Chánh, húy Nhựt Khả (1924 – 2019) không ngừng nuôi dưỡng đạo tâm và sớm trở thành một bậc Ni lưu tài đức của Ni giới Phật giáo Cận đại trong những năm cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI. Trụ thế 95 năm với 55 Hạ lạp là một chặng đường đánh dấu hành trình xuất gia và học đạo của cố Ni trưởng. Có thể nói, cũng như nhiều huynh đệ khác xuất thân từ cái nôi của Huê Lâm đường thượng, thuộc dòng Lâm tế Gia Phổ đời thứ 41, thờ Cố Sư trưởng thượng Như hạ Thanh làm thầy, Ni trưởng không ngừng nỗ lực, hoàn thiện đúng tư cách một người con hiếu đạo và đã có những đóng góp rất lớn cho Ni giới, cho tông phong. Trong đó, các hoạt động Phật sự của Ni trưởng không chỉ gói gọn tại Tổ đình Huê Lâm mà còn hướng về Huê Lâm II, Hải Vân, Quy Sơn Ni tự. Phản ánh trên nhiều mặt đóng góp của Ni trưởng thì nổi bật nhất là công tác phiên dịch Kinh điển (bao gồm Kinh Kim Quang Minh Hiệp Bộ và Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương (dịch, 1973), Kinh Bát Nhã Giảng Lục và Kinh Bát Nhã Thuật Giải (dịch, 1980) và khai mở đạo tràng niệm Phật. Nhờ những công đức lành vun vén thuở sinh tiền mà khi xả báo, Ni trưởng đã an tường, tiêu dao nơi Tịnh cảnh và xá lợi lưu lại của Người cũng là một minh chứng về sự tu học, hành trì viên mãn.

Nhật Hiếu