Lần cuối tiễn đưa

320
Ni trưởng hầu cạnh Tôn sư

  Sắp đến ngày Chung Thất Trai Tuần của Thầy (Ni trưởng thượng NHƯ hạ ẤN, Trụ trì chùa Huê Lâm II – BR-VT), chúng con về lại Tổ đình Hội Sơn, Phước Long, Phước Tường, Bửu Thạnh để cung thỉnh chư Tôn đức Trưởng bối Tông phong về Huê Lâm II chứng minh trai lễ.

Nơi này, sông Đồng Nai nước vẫn hoài lăn tăn gợn sóng, đò mấy bận đi về đưa đón khách qua sông, nhưng ai biết trong lòng sông vẫn mênh mông buồn nỗi nhớ. Ngày tiễn đưa Sư trưởng Tôn sư về Phật quốc (1999), nước sông cũng đong đầy dâng tràn bao niềm kính nhớ. Và trong con, bấy giờ cũng bồn chồn tha thiết khóc biệt ly (vì chưa giác ngộ), cũng nghiệm suy đạo lý mà vẫn đau lòng dõi bóng Hạc bay, rồi cảm hoài ghi lại mấy vần thơ:

…Thầy Từ về Phật đã xong
Đồng nai dấu Hạc qua sông chẳng còn
Lặng nhìn mây trắng đầu non
Ngậm ngùi tiếc thuở vàng son có Thầy…

Thế rồi cứ tưởng thời gian trôi đi trong êm đềm hoài niệm, chưa vơi nỗi nhớ Lão Ni Thiền khách năm nào giờ con sông lại thêm một lần ở yên nơi đó làm nhân chứng ghi lại chứng tích ly tan và lại thêm một lần mang nỗi niềm đau ly biệt, Hòa thượng Tôn sư thượng NHỰT hạ QUANG (Trụ trì Tổ đình Hội Sơn) cũng đã thác tích quy Tây (2013), từ giã sông Đồng Nai lần gậy trúc về với Bảo sở Trạm nhiên. Để lại con sông với bao niềm thiết tha hoài vọng, ôn cố tri tân, kính thương nhớ tiếc.

Rồi ngày về lại Hội Sơn
Cũng con sông cũ bến đò sang sông
Buồn trông con nước lớn ròng
Vô thường thêm nặng cõi lòng tha nhân.
Ngày nào tiễn gót Tôn sư
Trời Tây chấn tích, Sư tư rẽ đường
Chưa tan nỗi nhớ đoạn trường
Giờ về tiễn biệt Ân sư đăng trình.
Rừng Thiền vắng bóng Cao minh
Hội Sơn chùa cũ khóc tình Linh Sơn.

Buồn thay! Sông Đồng Nai cũng giống như những sân ga trải lòng mình đưa tiễn những chuyến tàu đi. Cũng con sông ấy, đã hai lần dậy sóng tiễn đưa, Thuyền Đại nguyện xuôi dòng về bến Giác. Chỉ là đau: “Người đi dấu vết chưa nhòa, ba y truyền lại sương pha lạnh lùng”.

Bây giờ, chúng con về, chốn cũ lối xưa, sau bao tháng ngày gian khổ trùng tu, Tổ đình Hội Sơn giờ lại khang trang uy nghiêm giữa trời xanh mây trắng, nhưng lòng chúng con vẫn không khỏi ngậm ngùi nhớ “Cảnh cũ Người xưa”. Càng nhớ Tổ Thầy, nhớ Hòa thượng Ân sư thuở nào, lòng đau lại càng đau khi chúng con cũng vừa mới tiễn Thầy mình về với Tịnh cảnh Chân như. Biết rằng ở nơi ấy Thầy an lạc, tự tại tiêu dao, đồng hành cùng chư Đại Bồ Tát, hết suy yếu bệnh đau, không còn chuyện tứ đại bất an, mọi âm thanh sắc tướng giả hợp Thầy đã nhẹ nhàng buông xả, trả về hết cho nhân gian mộng huyễn, chỉ để lại cho chúng con một gia tài hiện thực quý báu mà Thầy đã tích lũy trên chặng đường dài tu tập, được kết tinh bằng câu Phật hiệu “A Di Đà Phật”.

Chúng con bây giờ vừa thấy hạnh phúc được thọ hưởng ân giáo hóa của Thầy, tài sản ấy quả thật vô lượng vô biên chưa chắc một đời này chúng con thọ dụng hết, vì tình Thầy là biển cả bao la, cho đi không bao giờ đòi lại. Lòng Từ ấy, Thầy đã cho chúng con, cho rất nhiều, cho đến khi ngày Thầy rũ áo lâm hành. Chính vì vậy, bây giờ ngồi lắng lòng lại chúng con mới thắm thía nỗi đau khi xa Thầy, còn đâu nữa đôi tay Thầy thương yêu dìu dắt, còn đâu nữa những huấn thị ngọc vàng tiếp sức chúng con đi, rồi lỡ nếu té đau vấp ngã chỉ còn biết tự mình chập choạng đứng lên với những bước ngỡ ngàng… thật đau buồn biết mấy! Có lẽ vì trong ngăn tim bé nhỏ của chúng con chưa tẩy hết bụi trần, nên đối trước định mệnh vô thường cũng giống như nhân thế thường tình nên vẫn thấy xót xa buồn, vẫn thổn thức nghe đau. Xin Thầy từ mẫn cho chúng con thêm khoảng thời gian nữa để “tự tịnh kỳ ý, gội rửa thân tâm” để chúng con đủ nhân duyên dõi theo bước Thầy đi mà ngồi lại bên nhau, chung tay phụng hành Phật sự, tiếp nối chí nguyện của Thầy, làm tròn bổn phận với Tông phong.

Ngôn ngữ trần gian chỉ là nhịp cầu phương tiện để truyền tải, chia sẻ năng lượng hiểu và thương, nhưng không thể nào diễn đạt hết ân giáo dưỡng của Thầy trong muôn một. Biết thế, nhưng chúng con vẫn xin tạm mượn những dòng này để nói lên tấm lòng hoài niệm kính thương của chúng con dâng lên Thầy. Là những gì còn nóng bỏng hôm nay, ấm áp ngày sau và ngàn sau, ngàn sau nữa mãi mãi tình Thầy.

Bạch Thầy, điều này dù con không nói ra nhưng huynh đệ chúng con cũng đã và đang cảm nhận những gì sẽ phải đến, bởi đó là điều tất yếu không ai có thể vượt qua trong cuộc đời này. Bây giờ, con ôn lại chuỗi ngày qua, mới đó đã ngót trên ba mươi năm bình yên hạnh phúc sống bên Thầy. Từ những bài học vô ngôn thân giáo của Thầy năm xưa đến giờ vẫn không khác. Từ bi, nhẫn nhục, hiếu hạnh, tri túc, vị tha… Tuy ít nói nhưng Thầy rất hiền và độ lượng, bên ngoài nhìn nét hiền hòa nhân hậu của Thầy cứ ngỡ như Thầy yếu đuối, nhưng kỳ thật Thầy rất là mạnh mẽ về nghị lực, hạnh nguyện lại kiên trì rộng lớn, nói và làm đi đôi không cần phải đắn đo đắc thất, sự kham nhẫn chịu đựng nơi Thầy chúng con cũng khó mà theo kịp.

Con về sống với Thầy khi Sư trưởng Tôn sư còn tại thế, Người đã thế phát tế độ và cho con ở lại Huê Lâm II theo Thầy học đạo. Những năm tháng Sư trưởng về làm Phật sự nơi đây, con mới có diễm phúc học cách ứng xử từ hai bậc Thầy khả kính. Sư trưởng giới đức uy nghi tri hành hợp nhứt, trang nghiêm đức độ, Thầy lại giản dị, từ hòa nhẫn nhục, lại hiếu thuận làm đầu. Nói về hạnh hiếu của Thầy, con rất kính phục vì đã không ít lần bắt gặp cách ứng xử của Thầy đối với Sư trưởng Tôn sư. Từ cử chỉ, lời nói, việc làm đều nhất nhất tùy thuận, chưa lần lỗi đạo, thà chịu trách phạt chớ không làm trái ý Thầy, một chút vọng ngữ cũng không có, chưa bao giờ nghe thấy Thầy thở than hay buồn giận. Cũng có vài vị Ni trưởng tiền bối đem hạnh Hiếu của Thầy sách tấn khuyên bảo chúng con noi gương tu học.
Khi Sư trưởng Tôn sư về Phật, đó cũng là lúc Thầy tiếp nối sứ mệnh Tục diệm truyền đăng, ngoài việc tiếp tục duy trì, phát triển Trường hạ, nơi đây, Thầy bắt đầu bắt tay vào những Phật sự lớn như: Trùng tu ngôi Tam bảo, kiến tạo các Thánh tích, mở lớp Bổ túc văn hóa (1992), lớp Bổ túc giáo lý (1993) và Lớp Sơ cấp Phật học Ni tại trú xứ. Ngôi Đại hùng Bảo điện hoàn thành (2003), Thầy lại tiếp tục khai mở khóa tu Bát quan trai, và Đạo tràng Phật thất (niệm Phật bảy ngày), công tác Phật sự nào cũng được Thầy thể hiện bằng cả tấm lòng thành, đầy hoan hỷ phấn khích. Đến năm Canh dần (2010), mặc dù tuổi cao (86 tuổi), sức khỏe không cho phép, nhưng Thầy vẫn hạ quyết tâm xây dựng Niệm Phật vãng sanh đường làm nơi tu tập pháp môn Tịnh độ miên mật chung cho cả hai giới xuất gia và tại gia, bên cạnh đó còn mở trại dưỡng lão nuôi dưỡng người lớn tuổi, người già neo đơn. Ý chí mạnh mẽ của Thầy là vậy, hễ nói là làm, không so lường khó khổ. Rồi những lo toan hoạch định cho công tác Phật sự này phần nào đã khiến Thầy hao gầy sức khỏe, con thật sự đau lòng trước thể trạng và sức khỏe của Thầy khi ấy nhưng làm sao có thể nói ra hay ngăn cản, bởi đó là tâm nguyện vị tha của Thầy, nên đành cúc cung phụng sự với sự lo lắng cầm canh.

Việc gì đến tất sẽ đến, dù có cố gắng thế nào cũng không thể vượt qua sự chi phối của nhân duyên và định luật vô thường, con chưa đủ đức lại kém tài, công trình trục trặc kinh phí phải hoãn lại một thời gian dài, rồi Thầy lâm bệnh, thật sự đã xuống sức, Phật sự chưa hoàn thành… Thầy ơi, con phải làm sao đây để bù đắp? Nghĩ đến đây, con lại thấy lòng mình ngập tràn hổ thẹn, muốn quỳ bên gối Thầy bày tỏ lòng ăn năn sám hối, muốn nghe lại những lời trách phạt nhẹ nhàng luôn kèm theo sự sách tấn ngọt ngào dễ thương của Thầy. Nhưng bây giờ mọi việc đã hiển nhiên diễn bày ra như thế, chúng con chỉ còn biết lắng lòng niệm tưởng, thương tiếc nhớ ơn Thầy.

Tuần trăng này tiếp nối tuần trăng sau, rồi lại tiếp nối những mùa trăng, những năm tháng sức yếu tuổi cao Thầy về ở lại Tổ đình để tiện bề thuốc thang tịnh dưỡng, vắng Thầy Huê Lâm II buồn xao xác, dù con có cố gắng gia tâm gia lực như thế nào người ta cũng cảm nhận được nỗi buồn của ngôi chùa thiếu ngôi Đường chủ. Bản thân con tự đáy lòng cũng tràn đầy lo lắng, sợ một ngày bão táp mưa sa, cội Tùng đỗ ngã… sẽ đau lòng lắm nếu phải trải nghiệm điều này. Luật vô thường ai cũng biết, sống gởi thác về, thay áo Hạ, đổi chăn Đông, nói nghe quá bình thường nhưng sao giờ con lại lo sợ đến thế! Con sợ phải xa Thầy, sợ con đường dài miên viễn đầy chông gai phía trước, sợ hụt hẫng tay chèo khi thuyền chưa về bến, sợ lúc đêm về cô đơn tự vấn trước bốn bức tường trống vắng lặng câm, thổn thức nhớ Thầy nhiều. Dẫu sao cũng đã hơn ba mươi năm gởi mình nơi cửa Phật, một ngày cũng Thầy, nửa chữ cũng Thầy, huống chi thời gian ngần ấy. Với con, tình Thầy trò là một nhân duyên lớn, cảm nhận được chỉ một tâm từ mà Thầy đã nuôi lớn chúng con, cho chúng con rất là nhiều tấm lòng của một “Lão Bà Tâm Thiết”. Thế nên, chỉ nghĩ đến lúc xa Thầy, lòng con đau lắm, con biết mình vẫn còn phàm phu lắm, chưa đủ giác ngộ để tự tại răn nhắc mình trước phút vô thường sinh ly tử biệt, dù đó là ai trong Thầy trò chúng ta.
Nguyện Hoa Đàm tái lai. Thành kính thắp tâm hương tiễn đưa Thầy về vui Phật quốc.
Nam mô Huê Lâm đường thượng Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhứt thế Pháp húy NHỰT KHẢ, thượng NHƯ hạ ẤN, Tự DIỆU CHÁNH Giác linh Ni trưởng Tôn sư.

TKN. Như Tịnh