Hữu công, hữu tội (phần 1)

70

  Lễ Phật Đản mà không được đi chùa là một sự thiếu thốn lớn về tinh thần đối với gia đình bác Tường. Họ là Phật tử thuần thành, hai vợ chồng trường chay cả chục năm nay còn hai đứa con thì tuy “chay đụng” nhưng mỗi tháng cũng ăn được mươi ngày chớ không ít.
Tài, con trai trưởng (mà cũng là con út) trong gia đình lại là mẫu người có lý tưởng, thích hoạt động. Tuy đã ra trường, làm việc mấy năm nay ở thành phố cách đó hơn trăm dặm mà Tài vẫn thường xuyên về lo cho gia đình Phật tử hải ngoại với chức vụ Liên đoàn trưởng. Anh không tính gì đến chuyện lập gia đình; đôi vợ chồng già hiểu đạo cũng không ép uổng hay hối thúc chi cả.
Ông Tường hay đùa, lặp lại mấy câu kệ của cư sĩ Bàng Uẩn thuở xưa:

Có con trai không cưới vợ,
Có con gái không gả chồng,
Cả nhà cùng nói chuyện vô sanh.

Nhưng không dễ gì được như vậy. Cô con gái lớn của ông phải sắp sửa theo chồng về Atlanta. Phúc, chàng rể tương lai, tốt nghiệp sau Tài mấy năm, đã nhận việc ở đấy. Phúc cũng có đạo tâm, tánh tình điềm đạm nên ông vui vẻ nhận lời cầu hôn, vả lại hai “vai chánh” đã phải lòng nhau từ lâu rồi.

Bữa nay thứ bảy, bà Tường lo làm bánh cuốn từ sáng để đến trưa thì có sẵn cho mọi người ăn. Tài về nhà mỗi tuần không nói chi nhưng hôm nay Phúc cũng bay về thăm vợ sắp cưới nên bà Tường phải làm đặc biệt hơn.

Bánh cuốn hấp chay của bà không thua gì bánh cuốn nhân thịt. Bà bằm củ sắn thật nhỏ, xào với cà rốt, nấm mèo, nấm rơm, gia vị vừa ăn để làm nhưn. Để thay thế hành phi, bà dùng những cọng “leek” (ba rô) thái nhỏ, phi vàng lên cũng thơm lắm. Còn nước tương thì luôn luôn bà thủ sẵn trong nhà mấy chay nước tương trắng hiệu Lá Bồ Đề, pha ra cứ tưởng là nước mắm. Lại thêm món chà bông làm bằng cà rốt giã nhỏ, xào thật khô, màu đỏ au; khi rắc đều lên dĩa bánh trắng ngần thì trông hấp dẫn vô cùng.

Ông Tường cằn nhằn vợ đã chay lạt mà còn bày vẻ ăn uống cầu kỳ, bà bào chữa:
– Thì phương tiện cho con cái ăn ngon, chúng khỏi ngán đồ chay vậy mà.
Người chồng lắc đầu, mái tóc trắng như bông cũng đong đưa theo:
– Vì hai chữ “phương tiện” mà lắm người đi xuống dốc hồi nào cũng không hay đó bà!
Bà vợ làm thinh không trả lời, tiếp tục tráng bánh. Bà thừa hiểu hai chữ “phương tiện” ông dùng để chỉ những chuyện lôi thôi đang xảy ra ở chùa.

Hai chục năm về trước, gia đình ông bà đầu tiên dọn về đây, người Việt mình chưa có ai. Thành phố nhỏ tuy đìu hiu, vắng vẻ nhưng cảnh trí thiên nhiên thơ mộng lắm. Dân chúng địa phương hiền hòa, hiếu khách và sống lành mạnh nên hai ông bà “chọn nơi này làm quê hương” thứ hai của mình.

Dần dần, hãng xưởng mọc lên, lôi cuốn nhiều người đến mảnh đất đầy sông rạch ao hồ ở miền Nam này; người Việt tụ về càng ngày càng đông.

Người Việt tha hương mình, hễ vừa an cư lập nghiệp xong là nghĩ đến vấn đề tâm linh. Người theo đạo Chúa thì họp nhau bàn chuyện lập nhà thờ. Nhờ hệ thống tổ chức của Thiên Chúa giáo rất tốt nên chẳng bao lâu họ có nhà thờ Việt Nam để đi xem lễ và sinh hoạt, có ông cha hướng dẫn tinh thần.

Đạo Phật thì chậm chạp hơn. Ban đầu, những người có đạo tâm chỉ họp lại bàn chuyện đạo thôi. Tới ngày rằm hay mồng một thì thay phiên nhau tổ chức những bữa ăn chay, tụng kinh.

Dần dần, họ lập ra hội Phật giáo với số hội viên thường xuyên không quá hai mươi vị. Số hội viên bất thường thì đông hơn, nhất là vào những dịp lễ lớn như Vu Lan, Phật Đản, họ kéo về tham dự đến bốn, năm chục người làm cho Niệm Phật Đường của hội, vốn là cái nhà xe được sửa lại, trở nên quá chật chội.

Nhu cầu có một cái chùa được đặt ra rất khẩn thiết. Ai cũng thấy cần một mái chùa để sưởi ấm những tấm lòng tha hương, để làm nơi thờ phượng thiêng liêng, làm phương tiện thuận lợi cho những người muốn tu học.

Thế là Ban Vận động được bầu ra và mỗi người con Phật đều tự cảm thấy có bổn phận phải hô hào, kêu gọi, quyên góp. Những tiệm buôn, tiệm ăn, các phòng mạch bác sĩ, nha sĩ (lúc bấy giờ cũng đã khá nhiều để phục vụ cho năm, sáu ngàn người Việt ở đấy) cũng vui vẻ đóng góp.

Nhiều tay vỗ nên kêu. Với sự quyết tâm của mọi người, chùa L.P. được thành lập. Đó là tòa biệt thự xưa nằm trên thửa đất rộng ba mẫu, ở bìa thành phố. Thật là lý tưởng khi chọn được khu vực này để lập chùa vì cảnh trí u trầm, tĩnh mịch. Những cây cổ thụ tạo nên vẻ cổ kính và đất rộng thênh thang.

Nhưng những người có đạo tâm phải bỏ nhiều thì giờ và công sức để sửa chữa lại tòa nhà trên cho ra vẻ một ngôi chùa. Họ chịu khó nhọc cả năm trời để lần lượt làm lại mặt tiền ngôi nhà, phá bớt vách để làm rộng chánh điện. Lại còn lợp ngói, sơn phết và dựng cổng tam quan. Cuối cùng, lễ Khánh thành chùa được tổ chức vào đầu thập niên chín mươi, với sự chứng minh của ba vị sư từ California sang.

Ban Trị sự của Hội Phật giáo cứ hai năm được bầu lại một lần. Đó là những người có uy tín, có nhiệt tâm lo cho chùa hoặc có đạo tâm, được đề cử lên. Không ai chịu ứng cử cả nhưng nếu được đề nghị một cách thiết tha thì họ không từ chối.

Bác Tường nhận làm hội trưởng một nhiệm kỳ, sau đó nhất định rút lui vì ông vốn không muốn dính vào chức vụ gì cả, nhưng lúc nào cũng dốc lòng lo Phật sự.

Mọi việc xem như đều tốt đẹp trong mấy năm đầu với sinh hoạt mỗi tháng hai lần vào ngày chủ nhật. Những dịp lễ lớn như Phật Đản, Vu Lan, hội thỉnh thầy ở nơi khác đến để chứng minh, chủ lễ và thuyết pháp.

Hình ảnh chiếc y vàng trong chánh điện thật trang nghiêm, ấm cúng làm cho một số người nảy sinh ra sự ao ước: “Phải chi chùa mình có một vị thầy trụ trì thì hay biết mấy!”

Rồi họ thì thầm với nhau:
– Nhà thờ có ông cha, chùa phải có thầy. Như vậy mới phải lẽ.
– Mình toàn là Phật tử với nhau, ai cũng bận đi làm cả thành ra công chuyện chùa đâu người nào bỏ hết thì giờ để chu toàn được.
– Chùa không có người ở thường xuyên dễ bị phá phách, trộm vặt.
– Quan trọng hơn cả là vấn đề tinh thần: con không cha như nhà không nóc vậy.
Thế là vấn đề được chánh thức đặt ra trong một buổi họp rộng rãi.
Trước “khí thế hăng say” của họ, chỉ có bác Tường và một vài người lớn tuổi khác cho ý kiến một cách dè dặt:
– Trên thực tế, hội lập chùa sẵn rồi mời sư đến trụ trì sẽ có những vấn đề tế nhị lắm!
– Làm sao tìm được một vị thầy hữu tài hữu đức, giới hạnh tinh chuyên? Những bậc như vậy đã sáng lập tổ đình, có đệ tử đông vầy, chẳng lẽ bỏ chùa về đây sao?
– Chùa mình người lớn tuổi đông, phải tìm một vị thầy đứng tuổi, có đức độ, Phật tử mới chịu nghe.
– Sau này, nếu có sự bất đồng ý kiến giữa vị thầy và hội ở đây, cần giải quyết trên căn bản nào?

Nhưng vấn đề của những vị này đặt ra, trong lúc đó, đối với họ, không đáng để quan tâm. Họ tin rằng nếu tìm được một vị chân tu thì không có gì đáng lo ngại cả.

Thế là bao nhiêu người để tâm tìm kiếm, hăng hái như lúc vận động lập chùa vậy. Đâu chừng một năm sau, Ban Trị sự báo tin đã tìm được một vị sư đứng tuổi, tu lâu năm, mới từ Việt Nam đi chính thức sang Mỹ. Họ vui mừng rước vị sư đến thăm chùa và bày tỏ ý định thỉnh thầy trụ trì của mình.

Được một vị “đúng tiêu chuẩn” như vậy, họ mừng quá, không cần tìm hiểu xa xôi gì cả về lai lịch, cuộc đời tu hành của ông thầy ra sao. Hơn nữa, vị này lại có tài ăn nói nên thu phục sự kính tin của nhóm Phật tử nhiệt thành tại chùa L.P. không mấy khó khăn.

– Quí vị “offer job” cho tôi – vị này khá Anh văn nên thường nói chen tiếng Anh vào cho vui – Mà “job” đó như thế nào? Giữ nhà, lo dọn dẹp sạch sẽ trong ngoài hay chuyên gõ mõ tụng kinh?
Một người nhanh nhẩu nói:
– Mô Phật, chúng con cần thầy lãnh đạo tinh thần.
Nhà sư cười:
– Tinh thần của quí vị, quí vị còn chưa làm chủ được, tôi đâu dám lãnh đạo! Lãnh đạo tinh thần là từ ngữ có tính cách chung chung, không cụ thể rõ ràng chút nào.
Ông Hội trưởng Vạn Niên, người đã tình cờ nhờ sự giới thiệu mà tìm được thầy, giờ mới cung kính đứng lên, chắp tay nói:
– Nam Mô A Di Đà Phật, chúng con thỉnh cầu thầy đến đây để trụ trì chùa.
Nhà sư vẫn làm nghiêm, hỏi tiếp:
– Quí vị thỉnh sư trụ trì nhưng có ai biết ý nghĩa của chữ “trụ trì” không?
Ai nấy đều ngồi im phăng phắt. Mãi một lúc sau, ông thầy mới nói:
– Để tôi giải thích rõ ràng cho quí vị hiểu. Sau khi hiểu rồi, nếu quí vị vẫn còn giữ ý định mời trụ trì, tôi mới hứa khả được.
Vị sư đưa mắt nhìn hết mọi người, chậm rãi nói:
– Trụ, nói cho đủ, là Trụ Như Lai Địa, trì là Trì Như Lai Tạng.

Trụ Như Lai Địa là ở tại đất của Như Lai. Chùa tuy là do bá tánh phát tâm đạo dựng nên nhưng nếu hiểu đạo một chút thì không chấp là của mình mà đem cúng dường Như Lai để làm nơi trụ xứ cho các sứ giả Như Lai.

Lập chùa mà chấp là chùa của riêng một gia đình, một dòng họ hay một hội riêng thì hoàn toàn không đúng nghĩa của tự viện, quí vị hiểu không?

– Dạ hiểu!
Ông thầy gật đầu, tiếp:
– Còn người xuất gia chân chính là một trong Tam Bảo, là người kế thừa sự nghiệp của Như Lai, khi nhận lời trụ nơi nào thì có bổn phận phải duy trì, gìn giữ Như Lai Tạng.
Như Lai Tạng, nói một cách cụ thể, là tất cả những tài sản của Như Lai. Về vật chất thì từ chén cơm đôi đũa cho đến cây kim sợi chỉ trong chùa đều thuộc về Như Lai Tạng, vì đó là những phương tiện giúp cho sự tu hành, còn về phương diện tinh thần thì người trụ trì phải biết giữ gìn, chăm sóc, trưởng dưỡng chủng tử Như Lai của mình và của người để làm phát triển đạo nghiệp của Như Lai.
Như người con lãnh gia tài của cha mẹ, không những chỉ biết gìn giữ cho trọn vẹn mà còn phải biết kinh dinh cho sự nghiệp ấy ngày càng phát triển thì mới tròn bổn phận. Cho nên, vai trò của người trụ trì nặng nề lắm và trách nhiệm cũng lớn lao lắm.

Người trụ trì cần ít nhất là hai điều kiện để có thể hoàn thành sứ mạng: một là phải chân thật phát tâm phụng sự Như Lai, hai là cần sự hỗ trợ, tiếp tay của những Phật tử có đầy đủ tín tâm và đạo tâm.

Vậy quí vị nên tự xét lại mình, xem có thể hộ trì Tam Bảo theo tinh thần ấy hay không thì tôi mới có thể hứa khả được.

Trọn buổi họp, gia đình bác Tường không phát biểu một lời nào. Trên đường về, Tài hỏi:
– Ba thấy ông thầy như thế nào?
– Không nên phán đoán người mới gặp, nhất là đối với một vị Tăng, con à.
– Con không dám phán đoán hay dở, đúng sai nhưng thấy rõ ràng nhà sư này có một lợi khí sắc bén, đó là tài biện luận. Ông nắm vai trò chủ động một cách dễ dàng.
– Ờ! Ba cũng thấy vậy. Tài năng ấy mà đi đôi với giới đức thì hay lắm. Phật tử có phước mới gặp được.
Tài không mấy cảm tình với ông thầy. Anh nhún vai:
– Để chờ xem!
Cả nhà vui vẻ thưởng thức món bánh cuốn đặc biệt vừa xong. Phúc phụ Thúy dọn dẹp rửa chén trong lúc bác gái xẻ dưa hấu. Tài vừa pha trà vừa đùa nhẹ:
– Anh Phúc, ý quên, anh Hai nè! Chừng nào em sắp cưới vợ chắc phải thọ giáo anh một khóa để biết cách làm rể.
Thúy trả đũa ngay:
– Thọ giáo với anh Phúc mệt lắm đó! Phải học nấu cơm tấm, nấu bún bò Huế, mà cậu thì ngại vô bếp lắm, tôi biết mà!

Tài lắc đầu, nói thầm trong bụng: “Anh Phúc cưới nhằm bà chị mình, bà lanh quá trời!”.
Mọi người trở lại bàn ăn đã được lau dọn sạch sẽ để vừa ăn tráng miệng vừa nói chuyện. Gia đình này có nếp quây quần trò chuyện với nhau sau bữa ăn hoặc cuối tuần. Thói quen ấy giúp cho người trong nhà luôn luôn gần gũi và hiểu biết nhau.

Bỗng có tiếng chuông reo. Tài đứng lên đi mở cửa. Tưởng ai, hóa ra bác Vạn Niên, cựu Hội trưởng và bác Tâm, vốn là Thư ký của hội.

Bác Tường đứng lên đón khách:
– Mời “nhị vị” vào đây!
Phúc và Thúy định rút lui thì bác Niên vội nói:
– Hai cháu ở lại đây, cả cậu Tài nữa. Hôm nay, chúng tôi đường đột tới thăm gia đình anh chị Tường, may mà gặp các cháu đủ cả.
Cả nhà ngơ ngác, không biết bác cựu Hội trưởng muốn nói gì.
Bác Tâm có vẻ bình tĩnh hơn, tiếp lời:
– Chúng tôi muốn xin ý kiến của gia đình anh chị về dự định sắp tới của chúng tôi. Chuyện này quan trọng lắm. Xin giữ kín giùm.
Trong khi Phúc, Thúy chưng hửng không biết ất giáp gì, Tài xoay mặt chỗ khác cố giấu nụ cười vì chính anh là “nội ứng” của hai người khách này.

Bác Tường trai vẫn thản nhiên còn bác gái có vẻ lo ngại. Ông chủ nhà mời mọi người dùng nước để làm bầu không khí trở lại bình thường.

Một hồi sau, bác Niên mở đầu câu chuyện: Cách đây ba năm, chắc quý vị cũng còn nhớ, chính tôi là người tìm được thầy N.N. về đây trụ trì chùa mình.
Mới đầu, ai cũng kính phục ổng hết, vì ổng ăn nói hay quá. Ổng biểu gì ai nấy điều răm rắp tuân theo. Được thể, càng ngày ổng càng độc tài và làm những chuyện chướng tai gai mắt hết sức.

Bác gái vốn là một Phật tử ngoan hiền, bà không muốn nghe ai nặng lời phê phán một vị Tăng nên dịu dàng cất tiếng:
– Thì thầy cũng như cha mẹ, phận mình là con phải vâng lời.
Bác Tâm cãi lại ngay:
– Xin lỗi chị nghe! Vì cha mẹ có công sinh thành dưỡng dục nên dù cha mẹ khó khăn nghiêm khắc gì mình cũng phải cúi đầu cam chịu. Còn đằng này, chúng ta tạo sẵn cơ ngơi rồi ổng về làm cha mình, ai chịu nổi!
Ông Vạn Niên nói thêm:
– Phật tử mình bỏ công của trong mấy năm trời mới dựng nên ngôi chùa. Ổng về, cái gì cũng chê, phải phá bỏ làm lại đủ thứ, tốn tiền biết bao, thật là phí phạm của thường trụ. Nội cái hàng rào quanh chùa cũng tốn cả chục ngàn, nói chi cổng tam quan, rồi vườn cây kiểng, hòn non bộ… Phật tử cứ phải đóng góp hoài ai cũng than van.
Rồi bác chép miệng:
– Phải chi tiền đó mình đem trả nợ nhà băng thì giờ này khỏe rồi. Nghĩ lại càng thêm tức, Ban Trị sự bù nhìn do ổng lập ra, họ không dám có ý kiến gì hết! Họ chỉ có quyền mỗi tháng mở thùng phước sương đếm tiền rồi ký trả tiền nhà và đủ thứ hóa đơn thôi!
Ông Tâm tiếp lời:
– Kể cũng lạ! Hồi đó tiền trong thùng phước sương mình chi xài đủ thứ rồi cũng còn dư. Bây giờ, có tháng thiếu trả tiền nhà, phải kêu gọi đóng góp thêm.
Bác Tường ngồi đăm chiêu: Những điều họ kể ra chẳng phải là bác không biết nhưng đối với một sự việc, nếu nhìn ở khía cạnh này là đúng, ở khía cạnh khác lại sai, nên bác không muốn những đạo hữu này “tố khổ” thầy, e phải tội. Bác đỡ lời:
– Trên thực tế, hồi trước chùa không có sư, ai cúng chùa cũng bỏ hết vô thùng phước sương thành ra nhiều tiền, bây giờ có thầy, nhiều người cúng riêng cho thầy mà không cúng chùa nên tiền trong thùng ít đi là phải rồi.
Ông Tâm nhún vai:
– Đó! Đó! Chỗ tôi muốn nói là thầy không biết điều. Người ta cúng cho thầy, thầy bỏ túi xài riêng, còn nợ nần thì Phật tử hè nhau mà trả. Năm nào, ổng cũng về Việt Nam. Người ta đồn ổng có vợ con ở bên đó!
Bác Tường không ngờ có kẻ bạo miệng đồn như vậy, nên ông muốn chấm dứt câu chuyện ngay. Giọng ông chắc nịch:
– Mô Phật! Nói có sách, mách có chứng, mình còn hổng dám tin huống hồ họ đồn khơi khơi vì ác cảm. “Tội tùng khẩu xuất”, các anh ơi!
Bác Vạn Niên vẫn còn xẳng xái:
– Ờ, chuyện bên Việt Nam mình không biết thì đừng nói, còn chuyện ở đây, nếu chúng tôi có bằng chứng, anh nghĩ sao?
– Bằng chứng gì?
– Số là sau hai năm, ông thầy tung hoành như chỗ không người, chúng tôi chướng mắt lắm nên năm rồi, sẵn cháu Lệ Xuân của tôi từ Việt Nam mới sang, tôi nhờ cháu dùng mỹ nhân kế, dụ ông vào tròng. Bây giờ có bằng chứng hẳn hoi.
Cháu tôi vốn có máu “điệp viên” nên khi tôi ngỏ ý nhờ nó “thử ông thầy”, nó chịu liền, cháu trẻ đẹp lại dạn dĩ nên thành công không khó.
Tài nghe nhắc đến Lệ Xuân, lòng xao xuyến. Anh chú ý đến cô mà thấy lúc nào cô cũng quấn quít bên ông thầy nên tức lắm. Giờ nghe bác Tâm thố lộ kế hoạch “mỹ nhân kế”, anh thở phào nhẹ nhõm. Có lẽ Lệ Xuân cũng là lý do thầm kín khiến anh ghét ông thầy, muốn tiếp tay đẩy ông đi nơi khác cho khuất mắt.

Thúy nghe câu chuyện đã đến hồi gây cấn nên xen vào hỏi:
– Kế hoạch ấy ra sao, thưa bác?
Được người hỏi tới, bác Tâm càng hứng chí hơn:
– Ờ, thì nó từ Việt Nam mới qua, lấy cớ là cần người dạy Anh văn mà chưa quen ai, nhân biết thầy có bằng cử nhân Anh văn nên nhờ thầy dạy kèm giùm. Thầy gật đầu một cái là nó có cớ lân la bên thầy, giờ nào rảnh là nó chạy lại chùa, bất kể sáng, trưa, chiều tối.
– Chính tôi nhìn thấy rõ ràng tối hù rồi mà thầy còn mở cửa cho Lệ Xuân vào. Giờ đó có Phật tử nào ở trong chùa đâu!
Tài nghe nóng mặt:
– Trong chùa có chú tiểu Minh Mẫn tập tu mà!
– Úi dà! Thằng bé đó khật khùng thì biết gì, cậu ơi!
Bà Tường cảm thấy choáng váng, bà không muốn dính vào câu chuyện tày trời này nên thối lui:
– Lạy Phật! Mình là Phật tử, không nên có âm mưu phá thầy như vậy. Tội này đọa địa ngục A – Tỳ chớ chẳng nhỏ.
Ông Vạn Niên cắt nghĩa:
– Người ta thường nói: “Lấy đá thử vàng, lấy vàng thử đàn bà, lấy đàn bà thử đàn ông”. Có thử thách mới lộ ra bộ mặt thật chớ thấy ai mặc áo nhà tu mình cứ nhắm mắt cúi đầu lạy bừa thì gặp kẻ giả tu, họ tha hồ làm bậy, chỉ hại cho Phật pháp. Đây chỉ là phương tiện thôi, chị à.

Bây giờ, chúng tôi có đủ bằng chứng rồi cho nên định nhân dịp Phật Đản này, sau khi làm lễ xong xuôi, sẽ lột mặt nạ đạo đức giả của ông thầy rồi mời ông ra khỏi chùa luôn. Tôi xin ý kiến của gia đình anh chị, xem có nên làm như vậy hay là chọn một giải pháp nào êm thắm hơn?

Ông Tường làm thinh. Trả lời có nghĩa là đồng ý với âm mưu của họ. Chuyện lôi thôi này ông biết có thể xảy ra, nên đã nêu vấn đề trước khi họ mời thầy mà lúc đó đâu ai chịu nghe.

Không khí trong nhà trở nên căng thẳng, nặng nề. Phúc muốn tạo sự hòa dịu nên giơ tay xin phát biểu:
– Cháu ở xa không hiểu rõ sự việc ra sao, đúng sai như thế nào nhưng ví dụ chuyện này có thật đi nữa, chúng ta cũng không nên bêu xấu một người tu sĩ. Chỉ nên giải quyết trong nội bộ thôi.

– Chúng tôi cũng không có ác ý đó nhưng chỉ ngại mồm mép của ổng, ổng có thể lật ngược thế cờ như chơi nếu trong buổi họp chỉ độ mười người.
Bác Tường không muốn dây dưa nữa, ông nói:
– Xin lỗi hai anh, chúng tôi không dám dự vào chuyện này và đã dự định không đi dự lễ Phật Đản năm nay.


Hai người khách biết ý chủ nhà, đành đứng lên cáo từ, lòng không vui vẻ chi.

Diệu Nga