Huấn từ Hòa thượng chủ tịch hội đồng trị sự GHPGVN

300

  Nam mô Phật giáo Tỳ Ni Đa Lưu Chi Pháp Phái Đệ Thập Thất Thế Thiền sư Diệu Nhân cập chư vị Tiền bối Ni sư hữu công tác đại chứng minh.
Hôm nay, trong bầu không khí trang nghiêm đầy tinh thần tri ân và báo ân “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam và của đạo lý dân tộc Việt Nam và của Phật giáo. Được sự cho phép của Ban Thường trực HĐTS GHPGVN và được sự kết hợp tổ chức của Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, Phân ban Ni giới Trung ương GHPGVN tổ chức Đại lễ kỷ niệm 906 năm Ni sư Diệu Nhân viên tịch, Hội thảo khoa học với chủ đề Nữ Phật giáo với Phật giáo Việt Nam và Đại lễ Tưởng niệm 906 năm ngày Ni sư Diệu Nhân viên tịch cùng chư liệt vị tiền bối Tổ sư Ni hữu công” được long trọng tổ chức tại Hội trường Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, huyện Sóc Sơn, xã Phù Linh, Thủ đô Hà Nội. Đại lễ được sự quang lâm chứng minh tối cao của Trưởng lão Hòa thượng Thích Đức Nghiệp, Phó Pháp chủ HĐCM GHPGVN cùng chư Tôn đức trong Ban Thường trực HĐTS GHPGVN. Vào giờ phút này, xin được thay mặt Trung ương GHPGVN, kính chúc Đại lễ được thành công tốt đẹp.

Như người xưa từng nói: “Một mai thân xác tiêu tan, danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời, Pháp thân lồng lộng sáng ngời, chiếu soi pháp giới rạng ngời sử xanh.” Thật vậy, Ni sư Diệu Nhân (1042 – 1113) viên tịch đến nay đã 906 năm, gần 1.000 năm trôi qua, trong dòng chảy lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung và Thiền tông Việt Nam nói riêng, đặc biệt là Thiền tông Phật giáo thời Lý nhưng công đức và đạo hạnh của Thiền sư Diệu Nhân cũng như các bậc tiền bối Ni sư vẫn còn sáng rực trên vòm trời Chánh pháp của Phật giáo Việt Nam, trong trang sử rạng ngời của Phật giáo Việt Nam thời cận và hiện đại. Theo tinh thần tri ân và báo ân của dân tộc Việt, toàn thể Ni giới Việt Nam đứng ra tổ chức kỷ niệm 906 năm ngày Ni sư viên tịch cùng chư Ni tiền bối hữu công là một việc làm thiết thực và tôn trọng quá khứ, kính trọng bậc tiền nhân. Đồng thời, cũng gợi lại những hình ảnh tốt đẹp, những đức hạnh, công đức của Ni sư Diệu Nhân và chư vị tiền bối Ni sư hữu công. Qua đó, chúng ta tưởng nhớ đến bốn dấu ấn lịch sử mà có thể làm hành trang trên bước đường tu học phụng sự Đạo pháp và phục vụ chúng sinh của chúng ta:

1. Dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi được truyền vào Việt Nam năm 580 và kéo dài đến năm 1299 khi Phật hoàng Trần Nhân Tông ngộ đạo và đã hợp nhất ba dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường thành Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Với thời gian gần 800 năm hoạt động liên tục trên đất nước Việt Nam có các vị Tăng thống, nào là chư vị Quốc sư, nào là Thiền sư để truyền bá Phật pháp trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Đây là một dấu son, nếu không có Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi thì không có vấn đề Ni sư Diệu Nhân viên tịch để chúng ta cử hành đại lễ hôm nay. Qua đó, chúng ta ghi nhớ công ơn của các bậc Thiền sư dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, trong đó có các vị nào là Tăng thống, nào là Quốc sư, nào là Thiền sư để giữ vững giềng mối đạo nhất là dòng Thiền suốt thời gian gần 800 năm trên đất nước Việt Nam đến giữa thời nhà Trần.

2. Trong ba dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, chỉ có dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi có một người nữ xuất gia tu hành và chứng ngộ, trở thành một bậc Tổ sư Ni và Thiền sư Ni. Đây là điểm đặc biệt trong dòng chảy lịch sử của Phật giáo Việt Nam và trong dòng Thiền của lịch sử Phật giáo Việt Nam, trong đó có dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi mà các dòng Thiền khác như Vô Ngôn Thông và Thảo Đường không có. Cho nên, sự xuất gia tu hành và ngộ đạo của Ni sư Diệu Nhân đến trở thành một vị Thiền sư Ni, Tổ sư Ni người Việt đầu tiên trên đất nước Việt Nam đã trở thành dấu ấn lịch sử thứ ba mà chúng ta tưởng niệm ghi nhận và chúng ta là hàng hậu duệ, kế thừa, tiếp nối dòng sinh mệnh của lịch sử Phật giáo Việt Nam, dòng sinh mệnh của dòng Thiền Việt Nam, trong đó có dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi hay các dòng Thiền khác như Vô Ngôn Thông, Thảo Đường và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử sau này. Chúng ta tưởng nhớ và kỷ niệm Ni sư Diệu Nhân, trong đó có lòng nhớ ơn sự xuất gia thành đạo và chứng quả của Ni sư tại Việt Nam, là một người nữ xuất gia tu hành và đắc đạo. Đây là điều đặc biệt của người Việt Nam và càng hãnh diện hơn khi thấy rằng người nữ cũng có thể xuất gia tu hành và chứng quả ngang với Đại Tăng. Nếu giác ngộ và giải thoát thì chứng được chân lý và bình đẳng như nhau. Chân lý không phân biệt Tăng tục, nam nữ, lớn nhỏ,… Miễn giác ngộ được chân lý, người đó đều được gọi là người giải thoát giác ngộ. Vì thế, cho nên chúng ta nương vào đấy để làm kim chỉ nam mà nỗ lực tinh tấn, hành trì, giữ gìn giới luật để có thể đạt được phần nào những công đức, hành trạng, kết quả như Ni sư Diệu Nhân đã đạt được trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Qua đó, chúng ta cũng thấy được rằng, thời Phật còn tại thế, lãnh đạo Ni đoàn tại Ấn Độ đã có Tổ sư Ni Đại Ái Đạo thì tại Việt Nam cũng có một vị Tổ sư Ni. Đó là điều đặc biệt mà chúng ta càng thấy hãnh diện để làm gương mẫu quy hướng cho toàn thể Ni giới Việt Nam nương vào đấy tu hành tinh tấn, đạt được kết quả tốt đẹp.

4. Ni sư Diệu Nhân đã để lại cho chúng ta những triết lý đạo Phật: sắc không, vô tướng, các Pháp đều là không, các pháp đều là vô tướng. Tâm là vô tướng, mà Phật tại tâm, cho nên, Phật là vô tướng. Như thế, ngộ được tâm, tức là ngộ được Phật. Ngộ được Phật tại tâm, tức là ngộ được Phật không tìm đâu xa. Đối với Thiền, chúng ta thấy rằng là vô phân biệt, đối với tất cả cảnh không phân biệt, không phân biệt thì vọng niệm không sinh. Lúc đó an trụ tự tính thanh tịnh, chơn tâm thường trú sẵn có của chính mình không tìm đâu xa và cũng không cần tìm hỏi ai.

5. Bài học cuối cùng chúng ta nỗ lực ghi nhớ đó là tiếp nối dòng chảy của lịch sử truyền thừa của Ni sư Diệu Nhân trong sự tu hành chứng ngộ của Tổ sư Ni Thiền của Việt Nam. Trải qua thời gian khác nhau theo các thời kỳ lịch sử của Phật giáo Việt Nam, nhất là trong thời kỳ cận đại và hiện đại, nhất là ngày nay đối với GHPGVN chúng ta có sự lãnh đạo của GHPGVN, có Phân ban Ni giới Trung ương dưới sự lãnh đạo của Ni trưởng Huyền Huệ, Ni trưởng Đàm Hảo, Ni trưởng Tịnh Nguyện và Ni trưởng Đàm Nghiêm cùng các vị. Số lượng Ni chúng 20.181 người, cơ sở là 11.141, như thế đây là một lực lượng hùng hậu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nếu toàn thể Ni giới Việt Nam đoàn kết, hòa hợp, giữ gìn Giới luật, chung sống lục hòa thực hiện theo lời Phật dạy, sống trong lòng Giáo hội Phật giáo Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đại Tăng thì chắc chắn sẽ giúp cho GHPGVN hoạt động một cách đắc lực và có kết quả hữu hiệu trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Cụ thể, trong thời gian qua Ni giới Việt Nam từ ngày thành lập GHPGVN đến nay đã hoạt động một cách rất nề nếp, ổn định, nhất là về mặt công tác từ thiện xã hội mỗi năm trên 100 tỷ đồng. Về mặt quan hệ quốc tế, đã trở thành một thành viên của tổ chức Sakyadhita. Các quan hệ quốc tế càng ngày càng được mở rộng và biết được Phật giáo Việt Nam thông qua Ni và nữ Phật tử Việt Nam trên trường quốc tế. Như thế thấy rõ rằng công đức và việc làm của Ni giới vô cùng lớn lao đối với Đại Tăng cũng như đối với Giáo hội và Giáo hội cũng rất trân trọng và ghi nhận công đức này.

Hôm nay, nhân Đại lễ kỷ niệm 906 năm ngày Ni sư Diệu Nhân viên tịch và tưởng niệm chư Ni tiền bối hữu công, Trung ương GHPGVN một lần nữa xin tán thán công đức của toàn thể Phân ban Ni giới Trung ương đã có sáng kiến kết hợp cùng Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội tổ chức thành công Đại lễ Tưởng niệm hôm nay, điều này đánh dấu và ghi ân công đức của Ni sư Diệu Nhân. Qua đó, cũng mở ra một chân trời mới, một tương lai mới, một định hướng mới cho sự phát triển của Ni giới trong hiện tại và tương lai. Một lần nữa kính chúc Đại lễ thành công viên mãn.

Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ tát ma ha tát.

HT. Thích Thiện Nhơn