Thứ Năm, 27 Tháng Một 2022
Giáo dục Tin giáo dục Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM Lễ khai giảng năm...

Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM Lễ khai giảng năm học 2018 – 2019

Nhân lễ khai giảng năm học mới, Trưởng lão Hòa thượng Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM đã có lời huấn từ sách tấn toàn thể Tăng Ni sinh.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính thưa chư Tôn đức Hội đồng Điều hành, quý vị giảng sư cùng toàn thể Tăng Ni thân mến!

Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh đã trải qua được 11 khóa, một số Tăng Ni đã trưởng thành, có học vị Thạc sĩ, Tiến sĩ và đang giảng dạy tại trường của chúng ta cũng như một số trường Phật học trong và ngoài nước. Có thể nói, niên học này là niên học có đông đảo giáo sư có học vị nhất so với tất cả các khóa trước, đây chính là điều kiện tốt nhất cho Tăng Ni nâng cao trình độ, kiến thức Phật học. Nâng cao trình độ, kiến thức là một việc quan trọng, nhưng đạo Phật chúng ta còn xem vấn đề đạo đức quan trọng hơn. Nhìn kỹ, tôi thấy các bậc đàn anh đi trước cũng như các thế hệ đi sau, vị nào biết rèn luyện đạo đức bản thân đều trưởng thành trong Phật giáo và trở thành những mẫu người lãnh đạo tiêu biểu của Giáo hội chúng ta, cho nên, trường chúng ta vẫn đặt vấn đề đạo đức lên hàng đầu. Vì vậy, nếu có điều kiện học nội trú dưới mái trường này, tất cả Tăng Ni sinh phải khép mình vào khuôn khổ Giới luật, trở thành những Tỳ kheo, Tỳ kheo ni lý tưởng của đạo Phật, trở thành những người có thể thay thế Đức Thế Tôn đem đạo sáng của Người vào đời và làm đẹp cho cuộc đời. Đó chính là lý tưởng của người tu.

Đời sống nội trú có nhiều ràng buộc nhưng nếu quý vị biết tận dụng, đó chính là hàng rào ngăn chặn tất cả trần lao nghiệp chướng của mình và giúp quý vị dễ trưởng thành. Những Tăng Ni đã từng tu học nội trú, quen với kỷ cương ở các Trường Trung cấp Phật học thì Học viện chính là môi trường tốt để đi lên còn đối với những Tăng Ni chưa từng sống trong nếp sống thiền môn hay xuất gia trễ, vì có trình độ kiến thức nên được tuyển chọn vào đây, chắc chắn quý vị sẽ gặp một số khó khăn bước đầu nhưng nếu cố gắng, quý vị cũng sẽ vượt qua được và trưởng thành như những người đi trước.

Thời gian học được rút ngắn lại theo hệ thống tín chỉ. Từ bốn năm học theo quy chế trước đây chỉ còn khoảng hai năm rưỡi đến ba năm, nên đòi hỏi Tăng Ni sinh cần dành nhiều thời gian hơn để nghiên cứu, thực tập. Vì học cả mùa an cư cấm túc nên Tăng Ni sinh sẽ vất vả hơn những niên học trước, nhưng đó lại chính là thước đo trình độ và tấm lòng đối với đạo của quý vị. Tôi mong tất cả Tăng Ni sinh luôn cố gắng rèn luyện thân tâm để trở thành mẫu người đạo đức thật sự trong đạo Phật và nâng cao trình độ kiến thức để xứng đáng là người đệ tử xuất gia. Cầu Đức Phật luôn gia hộ cho quý vị luôn được an lành trong chánh pháp của Đức Như Lai.

Sau hồi trống lệnh chính thức khai giảng năm học mới của Hòa thượng Viện trưởng, lãnh đạo các khoa đã có buổi giao lưu cùng sinh viên hai khóa, nhằm giới thiệu chương trình đào tạo hai năm Đại cương cho khóa XIII; cũng như định hướng lựa chọn chuyên ngành cho Tăng Ni sinh khóa XII đang theo học chương trình Cử nhân Phật học tại Học viện.

1. Khoa Triết học Phật giáo
TT.TS. Thích Nhật Từ (Phó Viện trưởng kiêm Trưởng khoa)

Tăng Ni sinh khoa Triết học Phật giáo sẽ có cơ hội nắm được cốt lõi của đạo Phật. Phật học là thuật ngữ trong Phật giáo, bản chất của Phật học là một ngành Triết học, từ xa xưa, nó được liệt vào Triết học Ấn Độ, khi phát triển mạnh, nó trở thành môn Triết học độc lập.

Trước khi vào chuyên khoa, hai năm học Đại cương chiếm hơn một nửa trên tổng số 127 tín chỉ. Các Tăng Ni sinh đã có cơ hội học được 21 tín chỉ mà bản chất thuộc về Triết học Phật giáo và các ngành học liên hệ, bao gồm các môn: Phật học khái luận, Đại cương Triết học Phật giáo, Nghiên cứu Phật giáo Nguyên Thủy, Dẫn nhập Triết học Phật giáo Ấn Độ, Dẫn nhập Văn minh phương Tây, Giới luật Phật giáo… vay mượn Triết học của Đông và Tây, làm nổi bật tính đặc thù và vượt trội của nền Triết học Phật giáo không chỉ dừng lại ở tri thức vì nghĩa đen của Triết học là “Love for Knowledge”, nghĩa là “Đam mê về tri thức” mà còn như một công cụ thực tập chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau. Đây là mục tiêu cuối cùng và chính là lợi thế của các Tăng Ni sinh khoa Triết học đạt được trong hai năm đầu. Trong hai năm học chuyên ngành, Tăng Ni sinh của khoa sẽ được học 48 tín chỉ chuyên về Triết học Phật giáo và 12 tín chỉ cổ ngữ bắt buộc, chia thành 4 nhóm:

Nhóm 1: Các Tăng Ni sinh sẽ học được 4 trụ cột quan trọng nhất của Triết học qua các môn học: Nhận thức luận Phật giáo, Triết học chính trị xã hội Phật giáo, Đạo đức học Phật giáo và Logic học Phật giáo. Nắm vững được 4 trụ cột này, khi ra trường và thậm chí còn đang ngồi tại trường, quý vị đã đủ tri thức căn bản, phương pháp luận căn bản để đào sâu, nghiên cứu. Thông qua đó, viết sách, dịch thuật và tham gia tổ chức các sự kiện cũng như tổ chức các khóa tu rất thuận lợi và thành công.

Nhóm 2: Kho tàng chân lý (Kinh tạng), Tăng Ni sinh sẽ có cơ hội học bắt buộc các bộ Kinh: Trường A Hàm (chọn lựa các bài Kinh tiêu biểu), Trung Bộ, Pháp Hoa (3 bộ Kinh quan trọng bậc nhất của Phật giáo Đại Thừa), Kim Cương, Lăng Già và Thủ Lăng Nghiêm. Hai bộ Kinh thuộc Phật giáo Nguyên Thủy: Trường Bộ Kinh có thể tạm gọi là tóm tắt đối thoại liên Triết học giữa Đức Phật và các trường phái triết học lúc bấy giờ và Trung Bộ Kinh thuộc về nền tảng triết lý quan trọng nhất của Đức Phật trong suốt 40 năm truyền bá chân lý. Còn các bản Kinh Đại Thừa trên nền tảng của hai bản Kinh nêu trên phát triển theo chiều sâu, phân tích và áp dụng trong đời sống thực tiễn, nên sức thu hút của các bản Kinh này rất cao và có giá trị rất lớn.

Nhóm 3: Kho tàng Triết học (Luận tạng), Tăng Ni sinh sẽ được học 6 môn như sau: Thanh Tịnh Đạo (để hiểu toàn bộ nền Triết học Phật giáo qua 3 tạng Kinh, Luật, Luận), Câu Xá, Dị Bộ Tôn Luân (để biết các quan điểm trong Triết học Phật giáo thời kỳ Nguyên Thủy và Bộ phái), Thành Duy Thức (để hiểu về tâm thức học Phật giáo), Trung Quán (để hiểu về một trong những trường phái Triết học quan trọng nhất tại Ấn Độ của Phật giáo Đại Thừa. Đây là 6 môn bắt buộc trong Luận tạng.

Nhóm 4: Cổ ngữ: Sanskrit, Pali hoặc Hán Cổ.
Với kinh nghiệm làm Trưởng khoa Triết học từ năm 2006, tôi tin chắc rằng các Tăng Ni sinh tốt nghiệp đều có được sự tự tin và năng lực để làm các Phật sự ở trong và ngoài nước, tổ chức sự kiện, viết sách, dịch thuật, thuyết giảng và tổ chức các khóa tu rất thành công.

2. Khoa Trung văn
TT.TS. Thích Đồng Văn (Trưởng khoa kiêm Trưởng phòng Sau Đại học)

Khoa Trung văn được hình thành từ năm 2006, được gọi là khoa Trung – Nhật – Hàn. Sau đó, khoa được tách thành 2 khoa: Phật giáo Trung Quốc và Phật pháp Hoa ngữ, sau đó lại được hợp nhất lại thành khoa Trung văn. Khoa Trung văn gồm Trưởng khoa, 2 vị Phó khoa (phụ trách ngôn ngữ và tư tưởng) và các tổ bộ môn. Mục đích của khoa là đào tạo theo sự chỉ đạo của Hội đồng Điều hành, Hội đồng khoa, giúp Tăng Ni sinh có đủ trình độ nghiên cứu và tìm hiểu nền văn hóa phương Đông nói chung và nền văn hóa Phật giáo Trung Quốc nói riêng. Tất cả những kho tàng nói chung về Đại Thừa hay Nguyên Thủy nằm trong văn bản của các nền văn hóa phương Đông rất nhiều, quý vị sẽ được trang bị kiến thức, trình độ để sau khi tốt nghiệp có đủ khả năng du học Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan,… các nước có sử dụng tiếng Hoa làm nền tảng. Nếu ở trong nước, quý vị cũng có thể tham gia Ban Phiên dịch để tu chỉnh các bản dịch còn tồn tại.

Từ khóa VI, khoa đã đào tạo 100 sinh viên, trong đó có 40 sinh viên du học; khóa VII có 10 vị du học; khóa VIII có 18/50 sinh viên; khóa IX có 12/30 sinh viên, khóa X có 10/20 sinh viên du học. Như vậy, tổng số sinh viên du học thường chiếm một nửa hoặc 1/3, khoa sẽ hỗ trợ kinh phí vé máy bay cho quý vị du học lần đầu tiên. Mục đích của khoa là đào tạo quý vị có bằng HSK, tiếng Hoa tiêu chuẩn quốc tế. Có nhiều người học ở Trung Quốc 3-4 năm vẫn chưa đạt được trình độ cấp 4-5 nhưng đối với năm cuối ở khoa Trung văn, quý vị đã đạt được trình độ tiếng Hoa hiện đại đó và có thể căn cứ vào đó để du học được chấp nhận ở các nước dùng tiếng Hoa.

Khoa Trung văn gồm có 2 ngành: Ngôn ngữ và Tư tưởng. Không phải vào khoa Trung văn là chỉ được học tiếng Hoa mà còn được học tiếng Việt. Tiếng Việt và tiếng Hoa song hành nhưng chủ yếu đào tạo về Hán ngữ để tìm hiểu những giáo lý còn trong kho tàng tiếng Hán của văn minh phương Đông. Ở các nước Nhật Bản, Hàn Quốc… vẫn dùng nền tảng chữ Hoa nhưng phát triển theo nền văn hóa của nước đó, cũng vậy tuy chúng ta viết tiếng Hán, người Hoa vẫn có thể hiểu được nhưng không bao giờ đọc được. Đó chính là những nét đặc thù mà ông cha chúng ta đã tạo thành, dùng căn bản của người khác để tạo thành nét văn hóa đặc trưng của mình.

Giữa một nền chính trị không tương thích như hiện nay, chúng ta cho rằng học tiếng Hoa là lệ thuộc người Hoa nhưng đó là cách nhìn phiến diện. Chúng ta phải nhìn vào thực tại, những văn bản còn tồn tại đó là những giá trị rất cao siêu mà Phật giáo đang cần chúng ta nghiên cứu. Do đó, nếu Tăng Ni sinh nào chọn khoa Trung văn, trong hai năm đầu sẽ học theo chương trình Đại cương của nhà trường cộng với bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết của tiếng Trung. Hai năm cuối, sẽ được học song hành tiếng Hán, tiếng Trung và tư tưởng triết lý trong Tam tạng, triết lý, tư tưởng của phương Đông, phương Tây hay Ấn Độ còn tồn tại trong đó. Sau khi tốt nghiệp, nếu Tăng Ni sinh đạt được tiêu chuẩn mà Học viện yêu cầu, có thể được xét tuyển thẳng lên chương trình Thạc sĩ, Tiến sĩ của Học viện như đã thông báo.

Mong rằng các Tăng Ni sinh cân nhắc kỹ khi chọn lựa, vì khi đang học dang dở, nếu chuyển khoa, sẽ mất thời gian học bổ sung rất dài, vì phải chờ có khóa. Ngoài ra, đề nghị Tăng Ni sinh dù chọn khoa Trung văn hay khoa nào cũng nên ở Nội trú vì khi ở cùng với nhau, quý vị mới có thể luyện tập và học tập với nhau.

Trong khoa Trung, ngoài tôi là Trưởng khoa, còn có NS. Thích Nữ Tuệ Liên, Phó khoa Thường trực và NS. Thích Nữ Như Nguyệt, Phó khoa kiêm Phó ban Quản viện. Quý vị cũng có thể tham vấn với hai vị Phó khoa để chọn lựa được khoa thích hợp vì quý vị sẽ đi trên suốt con đường đó. Chúc tất cả Tăng Ni sinh có được thành tựu học nghiệp ở khóa này, từ ngày vào cho đến ngày viên mãn.

3. Khoa Lịch sử Phật giáo
TT.TS. Thích Trung Sang (Phó khoa)

Nếu nghiên cứu Phật pháp qua Kinh, Luật, Luận mà không nghiên cứu về lịch sử Phật giáo là một trong những thiếu sót lớn của việc nghiên cứu. Vì thế, tiêu chí của khoa Lịch sử là truyền trao kiến thức về lịch sử các nước mà Phật giáo truyền đến. Như chúng ta đã biết, Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang các nước và vùng lãnh thổ như: Sri Lanka, Miến Điện, Tây Tạng, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á… Đến thời hiện đại, Phật giáo truyền sang châu Âu, châu Mỹ và châu Úc. Học khoa lịch sử Phật giáo, quý vị không chỉ nghiên cứu về Kinh điển hay ngoại ngữ, mà còn phải nghiên cứu sự phát triển của Phật giáo trên thế giới, về thời gian Phật giáo du nhập vào từng quốc gia, lịch sử truyền thừa, sự phát triển và suy tàn của Phật giáo trên tất cả các quốc gia đó, nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Phật giáo tại mỗi quốc gia kéo dài từ thời Đức Phật, điển hình như: Tư tưởng Phật giáo Đại Thừa, Phật giáo Nguyên Thủy, Phật giáo Trung Quốc hay tư tưởng Phật giáo Việt Nam,…

Ngoài ra, chúng ta còn nghiên cứu về sự phát triển của A Tỳ Đạt Ma, nghệ thuật, kiến trúc Phật giáo Ấn Độ qua những trường phái nghệ thuật tại Ấn Độ thể hiện qua hình ảnh của Đức Phật, kiến trúc chùa, tháp, hang động,…; văn bia khảo cổ học Phật giáo có từ thời Asoka, những di sản quý giá Ngài đã để lại đến ngày hôm nay. Một mảng rất hay đó là Phương pháp nghiên cứu về lịch sử Phật giáo sẽ cung cấp cho Tăng Ni sinh nền tảng kiến thức để áp dụng nghiên cứu lịch sử. Chư Tôn đức Giáo thọ khoa Lịch sử luôn mở rộng vòng tay đón mời tất cả Tăng Ni sinh và tận tâm truyền trao những kiến thức cho quý vị, để sau khi ra trường, quý vị sẽ có được nền tảng kiến thức vững chắc về môn Lịch sử Phật giáo.

Nếu nghiên cứu Phật pháp qua Kinh, Luật, Luận mà không nghiên cứu về lịch sử Phật giáo là một trong những thiếu sót lớn của việc nghiên cứu. Vì thế, tiêu chí của khoa Lịch sử là truyền trao kiến thức về lịch sử các nước mà Phật giáo truyền đến. Như chúng ta đã biết, Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang các nước và vùng lãnh thổ như: Sri Lanka, Miến Điện, Tây Tạng, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á… Đến thời hiện đại, Phật giáo truyền sang châu Âu, châu Mỹ và châu Úc. Học khoa lịch sử Phật giáo, quý vị không chỉ nghiên cứu về Kinh điển hay ngoại ngữ, mà còn phải nghiên cứu sự phát triển của Phật giáo trên thế giới, về thời gian Phật giáo du nhập vào từng quốc gia, lịch sử truyền thừa, sự phát triển và suy tàn của Phật giáo trên tất cả các quốc gia đó, nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Phật giáo tại mỗi quốc gia kéo dài từ thời Đức Phật, điển hình như: Tư tưởng Phật giáo Đại Thừa, Phật giáo Nguyên Thủy, Phật giáo Trung Quốc hay tư tưởng Phật giáo Việt Nam,… Ngoài ra, chúng ta còn nghiên cứu về sự phát triển của A Tỳ Đạt Ma, nghệ thuật, kiến trúc Phật giáo Ấn Độ qua những trường phái nghệ thuật tại Ấn Độ thể hiện qua hình ảnh của Đức Phật, kiến trúc chùa, tháp, hang động,…; văn bia khảo cổ học Phật giáo có từ thời Asoka, những di sản quý giá Ngài đã để lại đến ngày hôm nay. Một mảng rất hay đó là Phương pháp nghiên cứu về lịch sử Phật giáo sẽ cung cấp cho Tăng Ni sinh nền tảng kiến thức để áp dụng nghiên cứu lịch sử. Chư Tôn đức Giáo thọ khoa Lịch sử luôn mở rộng vòng tay đón mời tất cả Tăng Ni sinh và tận tâm truyền trao những kiến thức cho quý vị, để sau khi ra trường, quý vị sẽ có được nền tảng kiến thức vững chắc về môn Lịch sử Phật giáo.’

4. Khoa Công tác xã hội
TT.TS. Thích Quảng Thiện (Phó khoa)

1. Đời sống: Bốn năm học gồm 8 học kỳ. Trong 4 học kỳ đầu tiên, quý vị đã sống nội trú trong sự an hòa. Để sau khi ra trường có được bản lĩnh, tự tin, tiến thủ, ngoài những kiến thức Phật học, cũng phải có thời gian để quý vị va chạm, gặp gỡ, làm việc nhóm trong các hoạt động của khoa nên trong 4 học kỳ sau, nếu quý vị không được ở nội trú, tôi sẽ thay mặt lãnh đạo khoa tìm kiếm địa điểm gần trường nhất cho quý vị thuận tiện trong việc ở và đi học. Chúng tôi sẽ hỗ trợ kinh phí học tập cho những vị thiếu điều kiện. Mỗi năm, khoa đều tổ chức cấp học bổng trị giá 3 triệu đồng mỗi tháng cho sinh viên đủ tiêu chuẩn, khoa sẽ hỗ trợ quý vị tiền xăng đến trường.

Như Thượng tọa Nhật Từ đã nói, khoa Triết đưa vào chương trình đều là những vấn đề Phật học; theo TT. Viên Trí, khoa Mầm non ở những tôn giáo khác đã có từ trăm năm trước nhưng đến bây giờ Phật giáo chúng ta mới thực hiện. Như vậy, Phật giáo chúng ta sẽ đi chậm hơn rất nhiều; khoa Lịch sử Phật giáo hướng đến sự nghiên cứu về sự du nhập, hình thành và suy tàn của Phật giáo, vậy tại sao Phật giáo lại lụi tàn hãy để khoa Công tác xã hội giải quyết. Vì khoa Công tác xã hội truyền trao cho các vị tất cả những kinh nghiệm, phương pháp, định hướng, thực tập ngay tại trường để quý vị hiểu ngay những việc cần làm của một vị Bồ tát. Khi quý vị thâm nhập vào thế giới Bồ tát hạnh, chắc chắn Phật giáo sẽ nằm ngay trong lòng dân tộc, người dân mọi tầng lớp. Như thế, chúng ta đưa màu áo chúng ta ra xã hội, chở che xã hội và công tác xã hội sẽ giải quyết những vấn đề các khoa hướng cho quý vị trong hai năm đầu.

2. Chương trình: Cũng như các khoa khác, trong hai năm sau, khoa Công tác xã hội học chuyên ngành, gồm các môn: Quản trị học, Tâm lý học, Tâm thần học,… Quý vị sẽ vào bệnh viện để quan sát bệnh nhân, từ đó cảm thương, khởi lên từ bi tâm và quý vị phải làm sao đưa Phật pháp vào trong họ, để họ có được một đời sống bình an. Những môn nghiên cứu như Phát triển cộng đồng… Trước đây, nghiên cứu cộng đồng là phải đi theo xã hội, nhưng sau này công tác Phật giáo ngày càng nhiều, nên nghiên cứu cộng đồng là nghiên cứu tại chùa của chính mình về những khó khăn, thế mạnh, đang cần gì, phải làm gì để mang những hoạt động của chùa mình đến với quần chúng, làm sao để Phật tử đến với chùa và quy y với chúng ta… Đối với những môn nghiên cứu cá nhân hay có tính cách công tác nhóm, quý vị sẽ được học cách làm việc nhóm, điều khiển một tập thể, giúp đỡ huynh đệ đồng tu, góp sức vào các công tác của Giáo hội sau khi ra trường. Những môn như thế rất thiết thực trong đời sống quý vị, qua những phương thức để quý vị thực hành cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp.

5. Khoa Hoằng pháp
NS.TS. Thích Nữ Huệ Liên (Phó khoa)

Điều đầu tiên, khoa Hoằng pháp đặc biệt và vinh hạnh nhất trong tất cả các khoa khi được Hòa thượng Viện trưởng đương nhiệm vị trí Trưởng khoa. Tất cả Tăng Ni sinh đã và đang tu học dưới sự lãnh đạo của Hòa thượng Viện trưởng chính là con ruột của Hòa thượng, nhưng nếu chọn khoa Hoằng pháp, quý vị sẽ “ruột” hơn nữa. Khoa Hoằng pháp bên cạnh Hòa thượng Trưởng khoa, có hai vị Phó khoa là NS.TS. Thích Nữ Huệ Liên và TT. Thích Minh Nhẫn, một nhân vật cũng vô cùng nổi tiếng tại tỉnh Kiên Giang. Hiện tại, Thượng tọa vừa là Phó BTS tỉnh Kiên Giang vừa là Tổng Thư ký nên rất uy thế.

Khi nói đến hai từ “Hoằng pháp”, con tim của tất cả Tăng Ni đều phải rung động, vì đây là trách nhiệm vô cùng thiêng liêng của người con Phật, đó chính là thừa kế sự nghiệp Chánh pháp của Đức Phật. Chúng ta phải có trách nhiệm thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh qua công tác hoằng pháp. Cho nên, khoa Hoằng pháp được thiết kế trong kiến thức Phật học của tất cả Tăng Ni sinh. Đặc biệt, khoa Hoằng pháp đào tạo cho các Tăng Ni sinh đang học hoặc sau khi tốt nghiệp đều có trình độ, khả năng ít nhất là có thể đứng trước quần chúng, làm giảng viên, giảng sư, giáo thọ sư,… hoặc làm Trụ trì, vì làm Trụ trì chính là hoằng pháp, hay cao hơn nữa là nhà lãnh đạo trong Phật giáo.

Chương trình học của khoa được thiết kế gồm rất nhiều môn học vô cùng đặc biệt. Ngoài những môn học về Kinh, Luật, Luận, quý vị còn được học các môn liên quan đến việc ứng dụng Phật giáo vào đời sống, xã hội, biết cách hài hòa giữa các truyền thống tu học của các tông phái Phật giáo, bổ sung kiến thức cho quý vị trở thành một nhà hoằng pháp, một người thầy giáo, cô giáo vô cùng trang nghiêm, đạo đức, đủ tư cách để làm mô phạm.

Tôi xin giới thiệu rõ sự đặc biệt của khoa Hoằng pháp qua các môn học sau:

1. Kinh nghiệm hoằng pháp: từ chính kim ngôn của Hòa thượng Viện trưởng kiêm Trưởng khoa truyền trao kinh nghiệm hoằng pháp và gửi gắm tư tưởng cho các thế hệ kế thừa.

2. Tâm lý học Phật giáo: một môn vô cùng quan trọng cho những người đứng thuyết giảng, vì phải hiểu được đối tượng tâm lý như thế nào để quý vị có những bài thuyết giảng phù hợp với khán thính giả.

3. Sư phạm hoằng pháp: đặc biệt ở chỗ do các vị giảng sư, Giáo thọ sư vô cùng nổi tiếng phụ trách như Trưởng khoa Triết học – TT.TS. Thích Nhật Từ,…

4. Môn Phương pháp giảng dạy: do một Giáo sư Trường Đại học Sư phạm phụ trách. Vì giảng dạy là cách thức truyền trao kiến thức cho thế hệ kế tiếp, nên môn Sư phạm cũng được đưa vào chương trình.

5. Môn Giao tiếp Sư phạm: cũng vô cùng quý giá đối với một nhà hoằng pháp, cũng do một Giáo sư nổi tiếng từ Trường Đại học Sư phạm phụ trách và đặc biệt là sự thực tập diễn giảng giúp quý vị có kinh nghiệm, khả năng diễn giảng bất cứ lúc nào dù đang học hay sau khi tốt nghiệp.

Hoằng pháp rất quan trọng. Trước nhất, đó là nhiệm vụ của mỗi Tăng Ni kế đến là giúp cho vị đó được nhiều lợi ích. Mong rằng tất cả quý vị nếu thấy rằng mình cần phải thực hiện trách nhiệm hoằng pháp cho đúng vai trò là người con Phật, kế thừa sự nghiệp của Đức Như Lai, khoa Hoằng pháp sẽ vui mừng đón tiếp.

6. Khoa Pali – NS.TS. Thích Nữ Tịnh Vân (Phó khoa)

1. Cổ ngữ Pali: Pali là một ngôn ngữ cổ xưa được Đức Phật dùng để sinh hoạt trong Tăng đoàn khi Ngài còn tại thế. Pali có trước, sau đó là Sanskrit và kế tiếp là Chinese. Khi sinh hoạt trong Tăng đoàn, phần đông Tăng sĩ ở những nước Nam truyền như: Sri Lanka, Miến Điện, Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Campuchia,… đều sử dụng cổ ngữ này. Muốn hiểu được nhau, ngoài tiếng mẹ đẻ, chúng ta cần phải có một thứ ngôn ngữ gọi là quốc tế ngữ. Ngôn ngữ quốc tế hiện nay có 6 tiếng: Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Trung và Ả Rập. Anh ngữ tuy không chiếm toàn cầu nhưng nó có thể được xem là một ngôn ngữ phổ biến. Nếu gọi tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến dành cho tất cả mọi người, thì Pali là một ngôn ngữ không thể thiếu dành cho tu sĩ. Chính vì ngôn ngữ này được dùng khi Đức Phật còn tại thế nên nó còn được gọi là Thánh ngữ hay Phật ngữ.

2. Công dụng và tầm quan trọng: Ngôn ngữ Pali được dùng để dịch Tipitaka (Kinh, Luật, Luận tạng Pali) và dùng để học. Khi vào chương trình học, tuy Tăng Ni chưa biết gì về cổ ngữ này nhưng sẽ được dạy ngay từ đầu. Mặc dù tên khoa là Pali nhưng quý vị sẽ được học hoàn toàn bằng tiếng Việt. Trong suốt thời gian học chuyên ngành, quý vị sẽ học những bài căn bản như xây dựng niềm tin bất động đối với Tam bảo bằng cách nào, sau khi có niềm tin chúng ta đi vào những lời dạy của Đức Phật thông qua Kinh, Luật, Luận. Về Kinh tạng, chúng ta học một số Kinh tiêu biểu trong 5 bộ Nikaya: Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng, Tăng Chi và Tiểu Bộ. Về Luật tạng, chúng ta học những giới điều, đạo đức, cách đối nhân xử thế, để làm sao chúng ta đạt được mục đích cuối cùng là an vui giải thoát thông qua Patthana,… Về Luận tạng, chúng ta sẽ học Namarupa, Citta, Cetasika và Nibbana. Nói chung, Kinh, Luật, Luận không tách riêng ra mà nó hỗ tương cho nhau nên dù các môn học khác nhau nhưng Tăng Ni sinh cũng sẽ được ôn tập nhiều để biết thế nào là được sanh làm người khó như thế nào, được biết Phật pháp là quý và mục đích cuối cùng là chúng ta có được hạnh phúc an lạc, vượt qua sầu bi, diệt trừ khổ ưu để thành tựu chánh trí và tự thân có an lạc, chúng ta mới tỏa sáng giúp cho những người khác tỏa sáng và được an lạc.

3. Thành tựu: Khóa XII có 800 thí sinh dự tuyển, vẫn có một Tăng sinh chọn thi môn cổ ngữ Pali. Nhưng đến khóa XIII, không có một thí sinh nào chọn thi môn cổ ngữ này. Như vậy, vấn đề ở đây là quý vị đã không được tiếp cận Pali ở Sơ cấp, Trung cấp, nên quý vị sợ đó là một chuyện bình thường vì chúng ta sẽ làm điều gì đó khi có khả năng. Toàn nước chúng ta có 4 Học viện được đặt tại: Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh và Cần Thơ (dân tộc Khmer) nhưng duy nhất chỉ Học viện Phật giáo Việt nam tại TP. Hồ Chí Minh có thi tuyển bằng ngôn ngữ Pali. Như vậy, cổ ngữ Pali và khoa Pali duy nhất “made in The Vietnam Buddhist University in Ho Chi Minh City”. Mong rằng quý vị hãy cố gắng chọn học khoa Pali để đạt được nội lực mạnh, từ nội lực mạnh, quý vị sẽ có cơ thể tráng kiện và giúp được nhiều hơn cho Giáo hội.

7. Khoa Phật pháp Anh ngữ
NS.TS. Thích Nữ Liễu Pháp (Phó khoa)
Khoa Anh văn Phật pháp chỉ là một khoa nhỏ, thuộc “dân tộc thiểu số” trong Học viện chúng ta, vì đặc thù khoa là kén người học. Sinh viên vào khoa phải có căn bản Anh văn tương đối.

Trong hai năm đầu, chương trình Đại cương vẫn có những môn tiếng Việt, nhưng đến năm 3 – 4, chương trình Chuyên ngành, tất cả mọi thứ từ sách giáo khoa, việc giảng bài trong lớp cho đến việc thi viết, làm tiểu luận… đều hoàn toàn dùng tiếng Anh. Nhưng may mắn là trong hai năm đầu, khoa có tổ chức dạy những môn rất căn bản để bổ sung về mặt ngôn ngữ cho quý vị như: kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và văn phạm tiếng Anh được đưa vào trong các tín chỉ, học phần. Những môn này sẽ được các giảng viên tiếng Anh, vừa có trình độ vừa rất có tâm, đến từ các Trường Đại học trong thành phố đảm trách. Cho nên, quý vị phải cố gắng, nỗ lực rất nhiều trong hai năm đầu. Tuy nhiên, vì ngoại ngữ là một môn học đòi hỏi sự kiên trì và luôn nỗ lực nên nếu quý vị chỉ học trong lớp vẫn chưa đủ, các sinh viên nội trú khoa Anh văn nên được sắp xếp ở chung phòng, để có điều kiện thực tập bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Về kỹ năng nói, đặt ra quy định các thành viên chung phòng chỉ giao tiếp bằng tiếng Anh. Ban đầu quý vị sẽ bối rối và sợ nói sai, nhưng sai quý vị sửa dần cũng sẽ thành đúng. Trong nhóm, bạn nào giỏi hơn sẽ hỗ trợ các bạn còn lại. Về kỹ năng viết có thể rèn luyện bằng cách viết nhật ký bằng tiếng Anh. Bốn năm học tại Học viện, quý vị sẽ có rất nhiều kỷ niệm và nếu được ghi lại bằng tiếng Anh, quý vị vừa lưu lại được những kỷ niệm đó vừa có cơ hội rèn luyện kỹ năng viết. Nếu không tin tưởng bản thân viết đúng, có thể nhờ những bạn cùng phòng đọc và chỉnh sửa giúp mình. Thậm chí, quý vị cũng có thể nhờ các vị Giáo thọ sư trong khoa đọc và kiểm tra. Nhưng quý vị nên nhớ là trong đó không có gì bí mật, riêng tư, vì Đức Phật dạy chúng ta luôn luôn sống chân thật, hài hòa với mọi người trước mặt, bên ngoài và kể cả sau lưng hay bên trong. Khi sống chân thật như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái nhẹ nhàng.

Khoa dự định thành lập Câu lạc bộ tiếng Anh hàng tuần để các sinh viên có cơ hội thực tập dưới sự hướng dẫn của các giảng viên trong khoa. Có thể một số trong quý vị sẽ thắc mắc rằng học Phật pháp bằng tiếng Anh, kiến thức sẽ không đủ sâu như các khoa Triết học, Lịch sử,… Xin quý vị hãy yên tâm, vì trong hai năm Đại cương, chương trình của khoa có những môn bắt buộc như Phật học khái luận, những môn tự chọn như Triết học Phật giáo Ấn Độ, Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Đại cương Luật tạng,… hoặc trong Nikaya có Trường Bộ Kinh cũng được giảng dạy bằng tiếng Việt bởi những giảng viên trong các khoa khác. Cho nên, trong hai năm đầu, quý vị vẫn có được kiến thức nền bằng tiếng Việt rất vững chắc, để hai năm sau, quý vị sẽ học những bộ Kinh đó bằng tiếng Anh hoặc bằng văn bản tiếng Pali như: Kinh Pháp Cú, Kinh Mi Tiên Vấn Đáp hoặc những bản kinh Đại Thừa như: Kinh Kim Cang, Kinh Tứ Thập Nhị Chương bản Anh ngữ. Những kiến thức này về sau sẽ rất bổ ích cho quý vị khi đi du học ở nước ngoài. Đặc biệt, môn Pali là môn bắt buộc của khoa và được dạy bằng tiếng Anh từ năm thứ nhất, giúp quý vị có một hệ thống xuyên suốt để có thể tiếp tục học ở nước ngoài sau này, đây là một bước chuẩn bị rất quan trọng. Nếu quý vị học cử nhân khoa Anh văn tương tự như quý vị có được hai bằng cử nhân, đó là cử nhân Phật học và cử nhân tiếng Anh, đây là một cơ hội rất tốt để phát huy khả năng của mình bằng việc tham gia các hội thảo trong và ngoài nước. Hiện nay, Học viện chúng ta thường kết hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội – Nhân văn hàng năm đều tổ chức những hội thảo quốc tế có tầm cỡ quốc tế hoặc châu Á như năm 2019 tới, Việt Nam đăng cai tổ chức Đại lễ Vesak. Những hội thảo như thế thường được tổ chức 2-3 ngày. Những diễn giả khắp thế giới gửi bài về đều bằng tiếng Anh và chúng ta cần một đội ngũ biên dịch và phiên dịch. Hiện nay, ban phiên dịch vẫn rất thiếu nhân sự, như Hội nghị Nữ giới Phật giáo Quốc tế Sakyadhita có khi có cả một trăm bài tham luận gửi về trong khi đó, ban phiên dịch tại Việt Nam chỉ có 4 người. Như vậy, mỗi người phải dịch 25 bài và mỗi bài khoảng 5-10 trang A4. Nếu vào khoa Anh văn, quý vị sẽ có thể nằm trong đội ngũ phiên dịch tương lai, hỗ trợ chư Tôn đức tổ chức các Hội thảo Quốc tế được tốt đẹp theo khả năng của mình.

Mỗi năm, Học viện đều tổ chức thi để cấp học bổng cho Tăng Ni sinh du học ở các nước, phần lớn các cuộc thi đó đều dùng tiếng Anh trong thi viết và phỏng vấn nên khoa Anh văn sẽ là một khoa có lợi thế. Một số sinh viên khóa VIII của khoa hiện đang du học tại Ấn Độ, Sri Lanka và Thái Lan chiếm khoảng 50% số lượng học bổng đó. Cũng có những vị đang là giảng viên như Thầy Đồng Tâm, hiện là giảng viên cơ hữu của Trường Đại học SIBA (Sri Lanka). Khi có được vốn Anh ngữ vững vàng, ngoài hoạt động trong nước, quý vị cũng có thể hoạt động ở những nước khác. Ví dụ như vừa qua, tôi đã giảng dạy trong một khóa tu gieo duyên hai tuần ở Malaysia. Trong đó, có 90 người tham dự và chương trình giảng dạy suốt hai tuần đó đều bằng tiếng Anh, họ không cần phiên dịch, vì tất cả đều giỏi tiếng Anh. Malaysia là một quốc gia Hồi giáo, Phật giáo chiếm rất ít, nên số lượng Tăng Ni cũng ít. Indonesia cũng vậy. Vì thế, nếu quý vị là những người có khả năng, nên viện trợ, giúp đỡ cho những nước Phật giáo, những nơi đang thiếu lực lượng hoằng pháp. Mong rằng khi chọn khoa Anh văn, quý vị phải lưu ý hai điều: hoặc là phải có khả năng, hoặc là phải quyết tâm bổ sung vốn Anh ngữ trong hai năm đầu để đủ năng lực theo kịp trong năm 3-4 nếu chưa đủ khả năng.

8. Khoa Giáo dục Mầm non
NS.TS. Thích Nữ Như Nguyệt

Vào năm 2014, rất nhiều Phật tử đã phản ánh đến các chùa Ni về việc tìm một Trường Mầm non Phật giáo để gửi con em rất khó khăn, nên họ phải gửi sang các trường Công giáo. Nhận thấy điều này, Phân ban Ni giới Trung ương đã đệ trình Học viện kết hợp với Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh thành lập khoa Giáo dục Mầm non. Vì Phân ban Ni giới Trung ương không đủ điều kiện hành chánh để liên kết với Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, khoảng tháng 7 – 8/2014, Hội đồng điều hành Học viện đã ký hợp đồng liên kết với Trường Đại học Sư phạm TP.HCM và đến khoảng tháng 12 cùng năm, chương trình học của khoa đã được tiến hành như Hòa thượng Phó Viện trưởng – Trưởng phòng Giáo vụ đã nói, do Đại học Sư phạm TP.HCM sắp xếp. Sau đó, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã vào Học viện ôn thi cho sinh viên. Tổng số sinh viên năm đó khoảng 100 vị, vừa có Ni sinh vừa có nữ cư sĩ. Đến tháng 01/2015, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh tổ chức tuyển sinh cho một khóa học rất đặc biệt, trong đó có khoảng 90 Ni sinh và 10 nữ cư sĩ ghi danh. Sau kỳ thi, 88 vị trúng tuyển và có 10 vị hiện đang học tại các trường khác, đủ điều kiện để tuyển thẳng, nên sĩ số lúc bấy giờ là 100 vị.

Chương trình học của khoa gồm 110 tín chỉ và 03 tháng thực tập, thời gian học là 4 năm rưỡi. Đến tháng 8/2018, các khóa sinh năm đó đều đã hoàn thành hết tất cả tín chỉ và đã thực tập xong, các vị này trở về trú xứ đã có thể làm Hiệu trưởng các cơ sở. Hội đồng điều hành làm một hợp đồng tiếp theo về mở một lớp đào tạo Hiệu trưởng Giáo dục Mầm non gồm 300 tiết học, bắt đầu từ ngày 17/7/2018. Đến nay, lớp học đã đi được 1/3 đoạn đường. Theo chương trình, đến tháng 01/2019, lớp học sẽ thi tốt nghiệp. Đây là một khoa rất đặc thù. Theo thống kê của Sở Giáo dục TP. Hồ Chí Minh, hiện nay Thành phố chúng ta có hơn 1.500 trường Mẫu giáo và hơn 1.000 nhóm lớp trong đó khoảng 100 trường thuộc Công giáo, Phật giáo có 10 trường, nhưng đến 7 – 8 trường đã phải nhờ giáo viên đủ tiêu chuẩn bên ngoài để làm Hiệu trưởng, 3 trường còn lại do chư Ni làm Hiệu trưởng. Trong khi đó, 100 cơ sở của Công giáo đều do các vị tu nữ làm Hiệu trưởng. Tại lớp Giáo dục mầm non của Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, có rất nhiều nữ tu Công giáo ghi danh học, họ đã học ngành này từ cả thế kỷ trước và rất nhiều nữ tu được đào tạo, trong khi Phật giáo chỉ xuất hiện lác đác.

Giáo dục Mầm non là một khoa rất căn bản để xây dựng nền tảng cũng như để đáp ứng nhu cầu của nhiều Phật tử muốn gửi con em mình vào những trường Phật giáo, mong sau này các cháu tiếp nối trở thành những Phật tử thuần thành của Phật giáo. Hiện nay, sĩ số của khoa còn 66 sinh viên, nguyên nhân do nhiều yếu tố khách quan như: bận việc chùa, chưa đủ tiêu chuẩn trong các kỳ thi,… Hiện tại, có 55 vị tham gia lớp đào tạo Hiệu trưởng Giáo dục Mầm non. Sau ba tháng thực tập tại các Trường Mầm non, chư Ni và nữ cư sĩ của khoa đã nhận được nhiều đánh giá cao về sự thân thiện với trẻ nhỏ nên giới Phật tử hy vọng TP. Hồ Chí Minh sẽ có thêm nhiều cơ sở Mầm non Phật giáo.

Về học phí tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, mỗi năm tăng lên 1 triệu đồng. Ví dụ như năm 2015, học phí chỉ là 7, 2 triệu đồng/sinh viên, nhưng đến năm 2018 – 2019, học phí tăng lên thành 11 triệu đồng. Vì khoa được đào tạo ngay tại Học viện nên họ hoàn lại 25% phí cơ sở vật chất và Hội đồng Điều hành cũng hỗ trợ phần này lại cho sinh viên. Bên cạnh đó, một số chư Tôn đức Ni và Phật tử hảo tâm cũng đã ủng hộ thêm 25% học phí. Như vậy, mỗi sinh viên chỉ đóng 50% học phí. Vì học phí tương đối cao, nên phương hướng sắp tới của Hội đồng Điều hành là vận động thêm từ các Phật tử, Mạnh thường quân. Cuối cùng, mỗi học viên chỉ phải đóng 25% học phí.

Nếu vị nào có tâm nguyện mở Trường Mầm non, lớp học tình thương,… tại trú xứ của mình nên tham gia vào khoa Giáo dục Mầm non để đích thân làm Hiệu trưởng, không phải chi trả thêm kinh phí cho người ngoài.

Vì lãnh đạo khoa Phật giáo Việt Nam và Sanskrit vắng mặt nên Tăng Ni sinh có thể tham khảo trong cẩm nang Học viện. Khoa cuối cùng là Đào tạo từ xa do ĐĐ. Thích Giác Hoàng làm Trưởng khoa, không dành cho sinh viên chính quy.

Hoa Đàm

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!