Hình thành của Giới điệp

5

  Pháp sư Tam Tạng Huyền Trang (三藏玄奘法師 602-664) – bậc cao Tăng nổi tiếng đời Đường. Lúc còn thơ ấu, bởi vì anh trai của Ngài là Trần Tố (陳素) pháp danh Trường Tiệp (長捷) đã xuất gia tại chùa Tịnh Độ (淨土寺), Đông Đô, nên một hôm Ngài đến chùa Tịnh Độ để thăm anh trai. Mắt nhìn ngôi Phạm Vũ Tăng Lâu1 không ngờ nảy sinh cảm giác thanh tịnh trang nghiêm; thấy tướng hảo của Đức Từ Tôn, trong lòng khởi lên sự ngưỡng mộ và sùng kính không gì bằng. Từ đó trở đi hạt giống xuất gia, học Phật, hoằng pháp, độ sinh đã gieo mầm trong trái tim non trẻ của Ngài.

Sau đó, hoàng đế ban chiếu chỉ, tổ chức nghi thức “Độ Tăng2” trong một ngôi chùa ở Lạc Dương, Huyền Trang hào hứng vào chùa ứng thí, nào ngờ lại thất vọng, vì tuổi Ngài chưa đủ 20, nên không lãnh được “Độ điệp3” chính thức của triều đình. Độ điệp vào thời đó, chính là tiền thân của Giới điệp tôi ngày nay.

Huyền Trang không có được Độ điệp, trong lòng áo não vô cùng! Ngài bồi hồi quanh quẩn trước cổng chùa Lạc Dương quyến luyến không chịu rời đi. Khi quan Đại Lý Khanh Trịnh Thiện Quả nhìn thấy, hỏi Ngài:

– Chú làm gì ở đây?
– Tôi muốn Độ điệp xuất gia. Huyền Trang trả lời không do dự.
– Tại sao nhất đinh phải xuất gia? Trịnh Thiện Quả lại hỏi.
– Tôi muốn: Xa, kế thừa giáo pháp của Đức Như Lai; gần, làm rạng rỡ di chúc lưu truyền của Phật.

Chí nguyện vĩ đại và chân thành tha thiết của Huyền Trang đã làm cho quan Đại Lý Khanh cảm động sâu sắc, nhân đây ông phá lệ cấp Độ điệp tôi cho Ngài. Sau khi Huyền Trang được Độ điệp làm Tăng, Ngài đã lập nên công lao sự nghiệp bất hủ thay cho văn hóa Trung Quốc; viết nên một trang rực rỡ thay cho Phật giáo Trung Quốc.

Lúc Huyền Trang xuất gia là vào cuối triều đại nhà Tùy đầu nhà Đường, chiếu theo lý thì Độ điệp tôi đã có mặt trong thời đại Tùy, Đường. Nhưng “Đường Hội Yếu” (唐會要) nói: “Tháng 5, năm thứ sáu Thiên Bảo (niên hiệu Đường Huyền Tông – Lý Long Cơ), ra lệnh quan Từ Bộ (Lễ Bộ) cấp điệp cho Tăng Ni”. Theo cách tính như thế, dường như Độ điệp tôi được sinh ra muộn khoảng một trăm năm. Từ Độ điệp chuyển thành Giới điệp là bắt đầu trong thời kỳ Tuyên Cảnh đời Đường. “Thích Thị Kê Cổ Lược” (釋氏稽古略) nói, “Bính Tý năm thứ mười niên hiệu Đại Trung Đường Tuyên Tông (唐宣宗810-859) sắc phong Pháp sư làm Thủ tòa Tam giáo một cách minh bạch rõ ràng, đầu tiên hạ lịnh cấp chứng điệp thọ giới cho Tăng Ni”. Tên tôi đến lúc này xem như đã được sinh ra một cách chân chính. Mặc dù Trung Quốc bắt đầu truyền trao giới pháp vào thời đại Tam Quốc, nhưng lúc đó, chưa nghe nói cấp Giới điệp tôi để chứng minh.

Thọ giới cấp điệp vốn là một quy định khảo thí tốt đẹp trong Phật giáo, những người không đủ tư cách thọ giới sẽ không nhận được tôi và không thể xem như là người xuất gia. Mãi đến những năm đầu của triều nhà Thanh, xuất gia cũng bị hạn chế rất nghiêm ngặt, chẳng hạn như trong “Đại Thanh Luật Lệ” (大清律例) có quy định như sau: “Nếu Tăng Ni không được cấp giới điệp, mà tự mình cạo tóc xuất gia, bị đánh tám mươi gậy, nếu nghe theo cha mẹ thì cha mẹ phạm tội tương đương; nếu theo Trụ trì trong tự viện, và thọ nghiệp sư, hoặc tự mình thế phát là đồng tội hạ lệnh hoàn tục”. Mặc dù quy định này rất nghiêm ngặt, nhưng đến thời Ung Chính (雍正1678-1735) triều nhà Thanh, mô hình trung nó đã dần dần lỏng lẻo. Về sau, một số người bần cùng không thể tự sinh tồn đã lẩn trốn sống nhờ trong cửa Phật; một số kẻ liều mạng tuyệt vọng vì phạm tội cũng đã dùng tiền mua tôi rồi ẩn trốn trong cửa Phật. Đặc biệt là từ khi nền chính trị của đất nước trở nên không rõ ràng và nền kinh tế suy sụp, Chính phủ đã từng bán Giới điệp độ Tăng để thêm khoản tiền thu cất vào kho.

Trước đây, Giới điệp vốn chỉ dành cho các nhà Sư có phong cách mới có thể cầu được, sau này, tôi giống như món hàng hóa đã bị Nhà nước kinh doanh. Thế đấy, vấn đề của tôi tuy nhỏ, nhưng thật đáng tiếc, phẩm chất của Tăng đồ từ đây phức tạp hơn, điều mà người xưa cho rằng “Xuất gia là việc của bậc đại trượng phu” ở đây đã hoàn toàn mất đi ý nghĩa nguyên thủy của nó.

Nói đến việc Nhà nước bán Độ điệp độ Tăng không nhất thiết phải bắt đầu vào thời nhà Thanh, mà đã khởi xướng từ nhà Đường. “Đường Thư – Thực Hóa Chí” (唐書‧食貨志) nói: “An Lộc Sơn phản, Dương Quốc Trung đã khiến người hầu của mình là Ngự sử Thôi Chúng đến Thái Nguyên nhận tiền Độ điệp của Tăng Ni đạo sĩ, trong vòng mười ngày đã kiếm được hàng triệu đồng”. Đây mới là khởi đầu mua bán Độ điệp của quan gia. Phật giáo đến ngày nay sở dĩ không hưng thịnh, bởi vì phẩm loại của các Tăng đồ không đồng đều, cầu giới pháp và nhận giới điệp quá dễ dàng. Mặc dù điều này cho rằng chế độ lạm thâu đồ chúng là do Phật giáo tạo nên, nhưng cũng không phải không có liên quan đến nền chính trị của Quốc gia.

Nếu hiện nay có người hỏi tôi: Rốt cuộc, hình thức của tôi trông như thế nào? Thế thì, tôi phải tự giới thiệu về mình để nói với họ: Tôi được in trên một loại giấy Tuyên lớn4, nó to hơn, đẹp hơn và có giá trị hơn những tấm bằng tốt nghiệp của sinh viên đại học ngày nay. Bởi vì thông thường người có văn bằng tốt nghiệp trong xã hội, chẳng qua là chỉ có tư cách thăng quan phát tài; mà các Tăng Ni có tôi thì có thể được vào đạo và được mọi người tôn vào ngôi Tăng bảo. Nhưng có một số người vì tìm cầu kiến ​​thức mà đi học, cũng có một số người vì văn bằng tốt nghiệp mà đi học; giống như có một số Tăng Ni vì tiến đạo mà thọ giới, nhưng cũng có một số vì giới điệp mà thọ giới. Những so sánh này là không thể vơ đũa cả nắm được.

Giả sử bây giờ có người lại hỏi tôi: Sự quan trọng của tôi cuối cùng như thế nào? Thế thì, tôi sẽ nói với họ không chút do dự: Người xuất gia có tôi, giống như nhân dân trong nước cần chứng minh thư. Hiện nay, chứng minh thư là lá bùa hộ mệnh của mọi người, cũng như Độ điệp tôi là Pháp bảo tùy thân của các Tăng Ni; ngày nay mọi người không có chứng minh thư thì không thể ra ngoài, nhưng Tăng Ni ngày xưa nếu không có tôi thì không thể quải đơn5. Các Tăng Ni Phật giáo ở Trung Quốc cần Giới điệp, giống như công dân cần Chứng minh thư.

Lại có người nói: Tôi giống như một cái phiếu cơm, Tăng Ni có tôi, họ mới có thể sống cuộc đời như mây và nước, bằng không, cho dù trên đầu bạn có đốt mười hai vết sẹo6 đi nữa, nếu khi bạn đến tham quan tự viện nào đó, trước tiên Sư phụ Tri khách bảo bạn trình tôi ra cho họ xem, nếu bạn không đưa tôi ra, họ nhất định không thể thu nạp và giúp đỡ bạn.
Tăng Ni xuất gia đã không thể thiếu tôi, lẽ đương nhiên, họ phải trải qua giai đoạn cần cầu giới pháp mới có thể lãnh được tôi. Để được tôi, điều tất yếu là họ phải qua một đoạn sinh hoạt giới kỳ long trọng và khó khăn gian khổ. Hàng tu sĩ có tôi, tin rằng mỗi người trong số họ sẽ không bao giờ quên một chương kỷ niệm đáng nhớ nhất, có ý nghĩa nhất trong đời sống xuất gia tu hành.

Nói chung người thọ giới nhận được tôi, theo tình hình tổng quát phải mất thời gian từ một hoặc hai tháng. Thật ra, theo ý kiến ​​của tôi thì: Ngày tháng thọ giới không nhất thiết phải kéo dài như vậy, mà ngược lại thời gian học giới cần được nghiên cứu cẩn thận. Phật dạy: “Sau 5 năm học giới, mới có thể nghe dạy tham thiền” (五年學戒以後,方可聽教參禪). Trước đây, rất nhiều ngôi Đại Tùng Lâm đã thiết lập Luật học viện (律學院), Học Giới Đường (學戒堂). Ngày nay theo dòng chảy của thời mạt pháp, tất cả đều thay đổi mọi thứ không còn như xưa, nhiều nơi không xem trọng đến việc học giới luật, chỉ vội vội vàng vàng trong vài ngày, cho dù truyền giới, mới thọ Bồ Tát giới chỉ cần lãnh được một tờ Giới điệp thì tràn ngập niềm vui. Trước khi thọ giới đã không hiểu ý nghĩa của giới, mà ngay cả sau khi thọ giới cũng không hiểu rõ giá trị của giới, thế thì lẽ nào xem như đắc giới hay sao?

Lời thật e mích lòng, nhưng tôi chẳng ngại gì nói với các bạn: Cầu Giới không phải được tôi thì xem như đã xong, mà là cần phải yêu cầu được Thể của Giới. Không chỉ cầu đươc Thể của Giới, mà còn phải bảo trì Thể của Giới và Tinh thần của Giới. Chỉ thọ giới trên danh nghĩa mà hoàn toàn không tuân theo chỉ thị của Giới, đây chẳng những làm nhục tôi, mà còn làm ô nhục Tăng cách của các bạn. Giới luật là biểu hiện tinh thần và hành vi của Tăng cách, không có giới thì chẳng khác nào không có Tăng cách. Thế mà ngày nay, những người không thọ giới, không có giới điệp không có Tăng tướng, cũng tham gia hỗn tạp trong Tăng đoàn, tự thu nạp đệ tử, tự xưng là Pháp sư, đây đều là một hiện tượng sa sút trong Tăng đoàn thanh tịnh cao quý.

Giới điệp tôi càng phải đề xuất ở đây: Người xuất gia không nói về tuổi tác lớn hay nhỏ, mà chỉ nói về thứ tự trước sau giới lạp7. Hy vọng mọi người dùng trái tim yêu thương tôi để tôn kính giới. Trước khi Đức Phật Niết-bàn, Ngài còn dặn dò “Lấy Giới Làm Thầy” (以戒為師), mọi người đều phải nên ghi nhớ cho tốt những di ngôn tối hậu của Đức Phật.

Niềm hy vọng và mong mỏi chân thành của tôi: Sau khi các sư phụ đã có tôi, các vị đều là bậc mô phạm của trời và người, đều là những trụ cột chống đỡ mạng mạch Phật giáo. Tôi muốn có được một chút vinh quang bên mình của các vị sư phụ; tôi càng hy vọng Phật giáo trong tương lai sẽ không lạm truyền giới pháp, lạm phát giới điệp. Thì thật là may mắn cho tôi! Thật là may mắn cho Phật giáo!

Phần bổ sung:

Giới điệp là giấy chứng nhận cấp cho các Tăng Ni sau khi xuất gia thọ giới. Vào năm thứ 10 niên hiệu Đại Trung Đường Tuyên Tông (856), vua từng ban sắc chỉ bổ nhiệm Pháp sư Huyền Trang làm Thủ tòa Tam giáo (Phật, Đạo và Nho giáo), và hạ lệnh cấp Giới điệp cho Tăng Ni thọ giới. Đây là sự khởi đầu cấp Giới điệp chính thức cho Tăng Ni tại Trung Quốc.
Triều đại Đường, Tống, Tăng Ni xuất gia bắt buộc phải có Độ điệp (chứng minh thư Tăng Tịch xuất gia), sau khi thọ giới nhận lãnh Giới điệp đều do Chính phủ ban phát. Lúc thọ giới phải trình Độ điệp để kiểm nghiệm, mới được phép vào giới trường. Triều đại nhà Minh, sắc lệnh ba lần cho phép chư Tăng thọ giới phải sao chép Điệp văn và mang theo bên mình, xem như giấy chứng nhận, hễ gặp phải bất cứ cửa ải khắt khe nào cũng phải kiểm tra xong mới cho qua. Tác dụng của Giới điệp đã trở thành giấy thông hành của các Tăng Ni. Vào thời Ung Chính nhà Thanh, Độ điệp bị bãi bỏ, các Tăng Ni xuất gia lan tràn không hạn chế, nhiều nơi cũng tấp nập truyền giới, Giới điệp cũng do tự viện truyền giới cấp phát. Sau thời Trung Hoa Dân Quốc, đã không ban Độ điệp nữa, mà chỉ còn lại hệ thống Giới điệp mà thôi!

Đại sư Tinh Vân – Thanh Như dịch


  1. Phạm vũ Tăng lâu (梵宇僧樓): Tăng lâu là một ngôi tự viện, Phạm vũ chỉ cho Phật giáo. Phạm vũ Tăng lâu chính là chỉ cho các ngôi chùa có lầu Tăng. Phạm, Tăng đều là tên gọi trong Phật giáo; vũ, lâu có cùng ý nghĩa.
  2. Độ Tăng (度僧): xuất ly thế tục, xa lìa sinh tử, tức là cử hành nghi thức nhất định, khiến người đời xuất gia để trở thành Tăng.
  3. Độ Điệp (度牒): Chứng thư của quan phủ thời Đường, Tống cấp cho Tăng, Ni xuất gia.
  4. Tuyên Chỉ (宣紙): Loại giấy cao cấp không dễ bị hư rách, là đặc sản của thành phố Tuyên Thành, tỉnh An Huy, cũng là một trong tứ bảo: nghiên, bút, giấy, mực.
  5. Quải đơn (掛單): Hành cước, tạm trú qua đêm. Các vị tăng du phương không có chỗ ở nhất định, thường ngủ lại chùa khác, máng Tăng y của mình dưới đơn.
  6. Giới ba (戒疤): Còn gọi là Giới Hương. Chỉ cho giới thể thanh tịnh của Tăng Ni tín đồ Phật giáo khi cầu thọ giới pháp, đốt hương trên cơ thể của họ để lại vết sẹo, hành vi đó căn cứ vào tư tưởng xả thân cúng dường, đoạn trừ ngã chấp. Số chấm đốt hương thông thường là một, hai, ba, sáu, chín, hoặc mười hai. Mười hai chấm biểu thị là “Giới Bồ tát” cao nhất trong số các giới đã thọ. Giới Bồ tát tại gia đốt ở cổ tay vào đêm trước ngày thọ giới, còn người xuất gia hầu hết đốt trên đỉnh đầu.
  7. Giới lạp (戒臘): Tuổi của người xuất gia sau khi thọ giới.