Hiểu chút thâm lý
(phần 2)

870

– “Ngoài  không có chỗ  mong cầu”. Trong bát khổ Phật dạy rằng: cầu bất đắc khổ, nghĩa là còn có chỗ mong cầu tức là khổ, bởi vì nó đều thuộc về pháp tạo tác, sanh diệt. Thiền Sư Mã Tổ Đạo Nhất đã dạy rằng: “Phàm người học đạo không có chỗ mong cầu, ngoài tâm không riêng có Phật. Ngoài Phật không riêng có tâm. Không lấy thiện, chẳng bỏ ác…” Ở đây Tổ dạy rõ ràng người học đạo nên không có chỗ mong cầu, có chỗ mong cầu tức trái với đạo. Đạo vốn không phải do mong cầu từ bên ngoài mà được. Chúng ta lại mong cầu điều gì thêm nữa, trong khi bản tánh của mình vốn tự đầy đủ và hay sanh muôn pháp? Chỉ cần ta liễu liễu thường tri, tin chắc rằng ngay nơi tâm này chính là Phật. Không cần tìm kiếm đâu xa hay vọng cầu điều gì cả. Chỉ cần khéo sống lại với ông chủ của mình thì mọi sự hướng ngoại tìm cầu đều dứt sạch.

“Tâm không cột nơi đạo”. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn Lục Tổ Huệ Năng có dạy rằng: “Đạo phải lưu thông, do đâu trở lại ngưng trệ, tâm không trụ nơi pháp, đạo tức lưu thông…” Có nghĩa là ta không nên dính mắc, vướng kẹt vào các pháp. “Thị Pháp Trụ Pháp Vị” mỗi pháp đều có vị trí riêng của nó, không nên lấy đi, hoặc thêm vào, tự nó là nó. Trong cuộc sống hằng ngày, khi mắt thấy sắc, chỉ là cái biết thấy, tai nghe tiếng chỉ là cái biết nghe, tức được lưu thông, không ngăn ngại, tâm không cột nơi đạo tức ngay khi đó được tự tại giải thoát.

“Không kết nghiệp, không niệm, không tạo tác” Không tạo tác, tức không làm những việc trái với luân lý, đạo đức để tạo thành nghiệp. Hay nói cách khác là sự không dính mắc, chấp trước vào vạn vật. Tuy làm tất cả mọi việc nhưng không dính, không kẹt vào những việc làm của mình. Khi Thiền Sư Dược Sơn Duy Nghiễm, thấy thầy tri viên trồng rau Sư bảo rằng: “Trồng thì không ngăn ông trồng, nhưng chớ cho nó mọc rễ.” Tại sao trồng rau lại không cho mọc rễ?  Xét theo lý của thế gian thì đây là chuyện không tưởng. Nhưng đối với Thiền Sư Dược Sơn việc trồng rau mà không cho mọc rễ, nghĩa là khi làm việc chỉ làm với tâm vô tư không tính toán, lợi dưỡng, không dính mắc, vướng kẹt thì đó là không cho mọc rễ. Vô niệm, không phải là không có niệm, mà vô niệm ở đây có nghĩa là dứt sạch mọi vọng niệm đối đãi sanh diệt, là không có niệm phải, niệm quấy, không có niệm hơn, niệm thua, không có niệm yêu, niệm ghét mà chỉ luôn sống với niệm chân như, tức luôn sống với cái thấy biết hiện tiền. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, khi Lục Tổ Huệ Năng khai thị cho Thượng Tọa Minh: không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính ngay khi đó cái gì? là bản lai diện mục của Thượng Tọa Minh. Trong chân tâm vốn không có một vật  thì làm gì có thiện và ác tốt và xấu?

“Không phải tu”. Không phải tu ở đây, chẳng thể chỉ hiểu trên ngôn ngữ mà cần phải vượt qua văn tự để hiểu tột lý sâu sa, không phải tu ở đây không có nghĩa là, không tu. Nếu nói không tu, thì các thiền viện, tịnh xá, chùa chiền được xây dựng để làm gì? Đó có phải là những nơi để chúng ta xây dựng đạo tràng thanh tịnh cùng nhau tu tập không? Bởi vì tâm chúng ta còn lăng xăng, vọng động nên Phật mới phương tiện lập bày các pháp môn để độ sanh, hễ chúng sanh có bệnh gì thì Phật tùy bệnh cho thuốc. Nhưng nếu người không bệnh thì có cần phải uống thuốc không? Thức  ăn ngon trọn không cần với người no bụng. Cũng vậy nếu  chúng ta đã sống được với bản tâm thanh tịnh rồi, thì thể tánh tự như như đến đi tự tại, tùy duyên tiếp vật, lợi lạc quần sanh, không cần phải khởi dụng công phu, tạo tác. Còn nếu như tâm ta vẫn còn lăng xăng, phiền não đầy khắp thì cần phải luôn luôn lau chùi chớ để dính bụi bặm, không thể ngông cuồng nói rằng không phải tu rồi để ngày tháng trôi qua vô ích, tu hành lơ mơ uổng một kiếp tu, trọn không có lợi ích cho bản thân mình và mọi người mà tội lỗi mình phải chịu lấy. Vì vậy nếu chưa sáng đạo thì phải nổ lực tu tập công phu bái sám, tụng kinh, niệm Phật, tu tập thiền định… thì khả dĩ còn có chút ích phần tương ưng với đạo. Không phải tu có nghĩa là không chấp vào sự tu hành của mình. Như khi chúng ta nghiêm trì giới luật, tinh tấn tu hành mà thấy một huynh  đệ nào đó sống buông lung, không giữ gìn oai nghi tế hạnh thì liền khinh khi, chỉ trích…Thay vì ta có thái độ khinh chê, thì hãy nên khởi lòng từ bi thương xót cho họ, vì nghiệp chướng của họ  còn nặng nề, ta nên mở rộng vòng tay để tiếp độ những người còn thấp kém hơn mình, ngược lại nếu thấy mình tu hay, tu giỏi mà khinh thường lấn át người thì cũng chưa gọi là tu.

Chuyện kể rằng: có bà lão thường xuyên đến chùa tụng kinh,bái sám. Nhưng tính tình vẫn hung hăng và còn nhiều sân giận. Một hôm bà ngồi ở trong nhà tụng kinh thì có mộg bác hàng xóm đứng ngoài cửa kêu to:

– Bà tư ơi! bà tư… bác hàng xóm cứ ở ngoài kêu to, còn trong nhà bà tư hết sức khó chịu, nhưng để lấn át tiếng kêu, bà cố gắng tụng kinh đánh mõ thật lớn. Bác hàng  xóm vẫn tiếp tục kêu bà tư ơi….Bà tư ở trong nhà chịu hết nổi bèn mở cửa ra ngoài và la lên rằng:

-Tôi đang tu mà không để cho tôi yên à! Phật ơi! cho con nghỉ tu năm phút để xử cái lão này… thế là lão già bị một trận quát mắng dữ dội… rồi lão già nói tôi kêu bà có như thế bà chịu còn không nổi, vậy mà ngày nào bà cũng lên kêu phật, phật nào chịu cho thấu hỡi bà tư…rồi ông lão bỏ đi…

Câu chuyện đầy ý nghĩa, cho chúng ta nhiều bài học, như vậy có phải tụng kinh gõ mõ gọi là tu chăng? Nếu không biết dẹp sạch những tập khí thâm  căn, cố đế, không biết buông xả, thì dù cho có dụng công nhiều cũng vô ích. Cốt ở gốc lo chi ngọn, chỉ đừng để tâm bị ô nhiễm, dính mắc là được.

Gương xưa còn đó:

Một hôm Ngư Quân Dung hỏi Quốc Sư Huệ Trung rằng:

Hòa Thượng ở núi Bạch Nhai trong mười hai giờ tu hành thế nào?

Quốc Sư gọi một đứa trẻ đến vò đầu nó bảo:

– Tỉnh tỉnh hẳn vậy tỉnh tỉnh, rõ ràng hẳn vậy rõ ràng. Về sau chớ bị người gạt. Chúng ta thấy việc tu hành của ngài thật nhẹ nhàng, nhưng cũng rất thâm sâu và vi dịệu, không cần phải nhọc công, chỉ cần đối với các cảnh duyên tâm không bị chướng ngại, luôn làm chủ được mình và luôn sống với cái biết tỉnh, sáng rõ ràng và không bị vọng tưởng kéo lôi dẫn dắt.

“Không phải chứng” Thiền Sư Nam Nhạc Hoài Nhượng đã dạy rằng: đến chỗ rốt ráo, tột cùng đó, tu chứng tức chẳng không mà nhiễm ô thì không thể được. Bởi bản thể vốn thanh tịnh, sáng suốt, nhiệm mầu thì cần gì phải có chứng, có đắc. Bồ đề vốn tự tánh, khởi tâm tức là vọng. Nếu khởi thêm niệm chứng đắc là đã vướng mắc rồi.

“Không  trải  qua các thứ lớp mà tự nó cao tột gọi đó là đạo.” Thứ lớp ở đây chỉ cho cấp bậc so sánh, phân biệt. Thông thường ở thế gian phải từ thấp lên đến cao, nhưng đối với người không bị tham dục và luyến ái ràng buộc, người mà biết tận nguồn tâm của mình, thì thẳng đó “một nhảy vào liền đất Như Lai”.

Giữa cuộc đời còn nhiều uế trược như thế này, mà chúng ta vẫn còn được nghiên cứu Kinh Điển, được gần gũi các bậc Minh Sư để được học hỏi và tu tập, đây quả thật là một phúc duyên lớn lao. Những lời dạy của Đức Thế Tôn trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương không phải chỉ để đọc suông một cách vô nghĩa, mà đây còn là những chân lý muôn thuở mà mỗi người con Phật phải gắng sức nỗ lực và tu tập, phải có sự thể nghiệm trực tiếp trong từng câu Kinh, để trước tự lợi sau lợi tha và hãy luôn thắp sáng ngọn đèn chánh pháp, mãi lưu truyền đến muôn đời.

Hải Trung Bảo Hải