Thứ Năm, 26 Tháng Năm 2022
Truyện ngắn Hạnh phúc đơn sơ (phần 2)

Hạnh phúc đơn sơ (phần 2)

   Phượng gợi chuyện:
– Diệu Tín đi tu lâu chưa?
– Mới ba năm.
– Mà tại sao tu vậy?
Diệu Tín chớp chớp đôi mắt, cô nói:
– Hồi tôi xin xuất gia, Sư cô cũng hỏi lý do. Tôi thưa: “Con đi vượt biển, tàu bị mắc cạn ba ngày ba đêm, trên tàu hết nước uống, mọi người khổ quá tưởng phải chết hết. Trong lúc tuyệt vọng chú tài công kêu mọi người đồng niệm Quán Thế Âm Bồ tát. Ai còn sức thì niệm ra tiếng, ai hết hơi thì niệm thầm. Cả tàu đồng lòng niệm Phật. Bỗng nhiên mây đen kéo đến, sấm chớp liên hồi rồi trời mưa to. Sau khi hứng nước xong thì tự nhiên tàu cũng ra khỏi chỗ cạn. Từ đó con tin có Phật, có Bồ tát hay cứu khổ. Con muốn tu thành Phật thành Bồ tát để giúp đỡ chúng sanh”.
Phượng nhìn cô Diệu Tín với đôi mắt cảm phục:
– Rồi Sư cô nói sao?
Diệu Tín trang nghiêm đáp:
– Sư cô nói: “Con vì lòng từ bi mà phát nguyện đi tu như vậy rất tốt nhưng con nên hiểu rằng không đợi chi đến thành Phật, cũng không cần phải đi tu, con cũng có thể giúp chúng sanh. Giữ tâm tánh hiền lành, sống cuộc đời lành mạnh vui tươi và làm cho mọi người xung quanh cùng vui vậy cũng tốt rồi”.
Diệu Tín thành thật tâm sự:
– Nhưng hồi đó tôi không nghĩ đơn giản như thế, tôi muốn tu sao cho được phép thần thông thì mới có khả năng giúp người một cách hữu hiệu.
Phượng cảm thấy phấn khởi, cô tò mò hỏi thêm:
– Hễ tu thì có phép thần thông hả chị?
Diệu Tín lắc đầu:
– Đức Phật không bao giờ chú trọng đến thần thông, cũng không cho phép đệ tử dùng thần thông trước mọi người. Có lẽ vì Ngài không muốn người ta nghĩ lầm Phật là một thần quyền. Như trái chín thì sinh chất ngọt, người tu thiền đúng phép, khi đắc đạo, tự có thần thông, không cầu cũng đặng. Nhưng đó chẳng phải là mục đích của người tu. Người tu chỉ cần giải thoát khỏi phiền não, chấm dứt sinh tử luân hồi; độ mình độ người.

Phượng nghe nói, nửa hiểu, nửa không nhưng Phượng có cảm tưởng nơi này chính là dòng suối mát mẻ, ngọt ngào mà mình đang tìm và có lẽ cô Thủy cũng nhờ nơi này mà được hồn nhiên vui vẻ đến thế!

Hai người trở về chùa. Mùi gạo mới đang sôi tỏa hương thơm thật dễ chịu. Cô Thủy đang ra tài kho đậu. Phượng ngồi xuống lặt cải mới hái.

Diệu Tín nói:
– Phượng lặt chừng này thôi – cô đổ nửa bao cải ra – còn bao nhiêu đem về dưới ăn.
Phượng tự hỏi: “Chẳng biết cô này có thần thông chưa mà cổ biết mình đang muốn gì?”
Sau bữa cơm trưa Thủy xin kiếu từ. Thấy Phượng còn dùng dằng chưa muốn về, Sư cô ôn tồn nói:
– Nhà xa, lại mới đi lần đầu, con nên về kẻo mẹ con trông. Lần sau, con mời cả gia đình cùng đi thì có thể ở chơi lâu được.

Chuyến đi này gây một ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn Phượng. Cô về kể cho cha mẹ nghe đầy đủ mọi chi tiết với tất cả sự say sưa. Lan chưa bao giờ thấy con gái mình vui tươi như thế. Mặt cô rạng rỡ, mắt cô sáng ngời, miệng thì nói cười chẳng ngớt.

Tánh Phượng xưa nay vốn trầm lặng, nay bỗng nhiên cởi mở, nhộn nhàng làm Lan cũng vui lây. Trong hai đứa con, hình như Hưng lãnh hết phần tài hoa: thông minh, lịch sự học hành giỏi giang lại khôi ngô tuấn tú. Phượng thì trông có vẻ tối tăm, ít nói ít cười, lại phải tánh hay nổi cộc. Hồi đó, những người phụ việc trong nhà hàng ai cũng ngại cô Phượng mà mến Hưng. Bây giờ về đây, nhờ thay đổi hoàn cảnh sống, lại được giao thiệp với Thủy nên Phượng dần dần đổi tánh, điều đó khiến Lan mừng thầm. Rồi theo lời yêu cầu của Phượng, vợ chồng Thủy hướng dẫn cả nhà Phượng đi chùa Huệ Phước vào mấy tuần lễ sau đó.
Lan bị lôi cuốn ngay vì cảnh trí thiên nhiên ở đây quá đẹp: đồi, suối, thung lũng, hoa cỏ… những cái đẹp mà trước đây Lan không có thì giờ nhìn ngắm. Con Hà và đứa con trai lại thích miếng rẫy sau chùa. Sau thủ tục chào hỏi, giới thiệu, hai người ra sân quan sát từng luống rau, luống cải đã lên xanh tốt. Hà chợt nảy ra một ý định: “Tại sao mình không dùng thì giờ cuối tuần để trồng trọt giúp chùa, lại còn được hưởng thú điền viên?”

Sau khi trao đổi ý kiến với con Hà xin phép Sư cô làm thêm vài luống đất. Hà định đem ớt về trồng còn Hưng trồng sả và gừng, những thứ gia vị cần thiết cũng là những món thuốc nam quý giá.

Thế là họ gắn bó với chùa từ đấy.

Vợ chồng Hà cảm thấy hình như một chân trời thênh thang vừa mở ra trước mắt, chân trời tươi sáng với hạnh phúc mới mẻ. Lâu nay chỉ biết lo cho gia đình, lấy gia đình làm điểm tựa, làm niềm vui, họ đã thấy đủ. Giờ đây được bung ra khỏi bốn bức tường tù túng ấy, tâm hồn họ như được bay bổng nhẹ nhàng.

Sư cô Như Tường tiếp họ như đã quen biết từ lâu và khéo léo dạy cho họ những kiến thức căn bản của người Phật tử. Phượng đón nhận với niềm say sưa phấn khởi vì hầu như giáo lý Phật đã đáp ứng được mọi điều thắc mắc, mọi niềm suy tư của cô.

Cuối năm ấy, cả gia đình Hà quy y Tam Bảo, họ trở thành những Phật tử có kiến thức, có tín tâm và rất mực tinh tấn.

Mùa Xuân năm sau, Thủy sinh con đầu lòng. Hai cô bé gái sinh đôi, đẹp và giống nhau như hai giọt nước. Vợ chồng Thủy bận bịu với con cái ít có dịp lui tới chùa như xưa. Nhưng gia đình Hà vào mùa ấm, luôn đều đặn tới chùa hai tuần một lần để phụ lo vườn rẫy, làm tương, ủ chao; vui vẻ trong công việc đồng áng, sống gần gũi với thiên nhiên. Vào mùa lạnh thì mỗi tháng một lần, họ đi chùa thọ Bát, học giáo lý, tọa thiền, hưởng niềm vui đạo vị.

Thế rồi thời gian êm đềm trôi như nước chảy qua cầu. Hưng tốt nghiệp đại hoc và may mắn hơn nhiều người cùng lớp, Hưng được làm việc tại một hãng bào chế dược phẩm ở miền Bắc.

Lan nghĩ đến việc chia tay con mà cảm thấy buồn dù biết rằng đâu có sự sum họp nào mà chẳng có chia ly. Lan tự an ủi mình: “Dù sao Phượng cũng mới học năm thứ nhì, vả lại nó chọn ngành giáo, có thể xin dạy ở trường gần nhà.”

Trước khi nhận nhiệm sở, Hưng cùng cả gia đình đến chào từ giã Sư cô. Hôm nay, chùa có một người khách lạ? Hay một chú tiểu? Tóc cậu bé hớt ngắn đến nỗi khi mới nhìn, người ta tưởng chú cạo đầu. Thân hình ốm yếu mà nước da lại đen tai tái nên trông có vẻ co ro, bệnh hoạn. Cái cằm nhọn và dài làm cho người ta có cảm giác như khuôn mặt của cậu chảy xuống, nhất là vì cái môi dưới của cậu, cứ trề sẵn ra như sắp mếu. Chỉ có đôi mắt tròn, to và đen láy của cậu còn giữ nét linh động, ngây thơ của tuổi trẻ, tuy vẫn phảng phất nét buồn.

Cậu bé thấy có người tới, từ từ lảng đi nơi khác. Sư cô cũng vừa bước vào:
– Quý đạo hữu đến lâu chưa? Xin mời ngồi uống trà nghỉ mệt.
Sau đôi câu về thời tiết, mùa màng, Hà thưa với Sư cô về vấn đề tốt nghiệp của Hưng.
Sư cô nhìn Hưng cười vui vẻ:
– Cô chúc mừng con nay đã nên danh phận. Dù xa gia đình, xa chùa, con hãy gắng giữ Bồ đề tâm kiên cố, duy trì chánh niệm. Lên đó rồi, nhớ liên lạc với cô thường xuyên nhé!
Hưng nhỏ nhẹ lễ phép:
– Dạ, con xin nhớ lời cô dạy. Con đi rồi, Sư cô thiếu người giúp một tay trong mùa nhổ đậu, làm đất.
Sư cô gật đầu:
– Gia đình con mới đây mà đã quy y được bốn năm rồi, nhanh thật. Cô rất khen ngợi sự tu tập và hộ pháp của gia đình con.
Rồi cô nhìn sang Phượng:
– Nhất là Phượng, rất chịu khó nghiên cứu, học hỏi giáo lý. Phượng lúc mới tới chùa còn nhỏ xíu, nay trông lớn hẳn, khác xưa nhiều.
Phượng được dịp xen vào:
– Hồi con mới đến, chắc con bằng chú tiểu hồi nãy!
Sư cô ngạc nhiên:
– Chú tiểu nào?
– Dạ, cái chú nhỏ nhỏ, đen đen.
Cô Như Tường cười:
– Ạ, thằng Lạc đó, đâu phải chú tiểu.
Rồi Sư cô nhỏ giọng:
– Cô cũng muốn nó phát tâm đi tu cho đời nó được tươi sáng hơn nhưng xem chừng chưa đủ duyên.
Phượng tò mò:
– Chắc nó mồ côi?
Sư cô trầm ngâm nhớ chuyện cũ:
– Cũng tương tự như vậy! Má nó sinh nó trên đảo Bi Đông lúc mới mười tám tuổi. Cô ta đi cùng một chuyến bay và cùng đến Philadelphia với tôi. Một tháng sau, cô năn nỉ tôi nhận nuôi thằng bé giùm vì cô không thể giữ nó. Hỏi cha đứa nhỏ là ai, cô chỉ ôm mặt khóc. Cô ta giao con cho tôi rồi tránh mặt luôn, chẳng biết bây giờ ở đâu nữa.
Sau này, nhiều người thấy da thằng bé ngăm đen, người ta đồn nó là con của hải tặc Thái Lan. Tội nghiệp, nó lớn lên trong mặc cảm đó nên ít khi thấy nó vui cười như bao đứa trẻ khác.
Lan hỏi:
– Sao hồi nào đến giờ chúng con không gặp cậu bé lần nào?
– Tôi nuôi Lạc được 5 năm, đến khi lập chùa này thì tôi gửi nó lại cho bà chị để nó đi học vì ở đây quá xa trường.
Rồi Sư cô lắc đầu:
– Nhưng ở đời trong cái hay lại có cái dở. Nó ở đấy đi học thì tiện lắm nhưng khi bắt đầu lên trung học thì có vấn đề. Philadelphia người Việt mình đông lắm mà chẳng ai thèm chơi với nó, mấy đứa bạn học cùng lớp cứ theo chế giễu, khiêu khích, gọi nó là hải tặc. Đôi khi chúng hè nhau đánh nó u đầu, sặc máu mũi. Ban đầu nó còn nhịn nhưng lúc sau này nó liều mạng đánh trả lại. Mới đây, nó lận dao vô mình đi học, có người phát giác được đi thưa giám thị, nó bị đuổi học một tuần để cảnh cáo. Chị tôi sợ nó ở bển lâu sẽ có ngày xảy ra án mạng nên lật đật gửi trả nó về đây. Tôi cũng chưa biết tính sao. Đây là chùa Ni, đâu thể giữ nó lâu được!
Hà nãy giờ vẫn im lặng. Nhưng trong lòng có nhiều suy nghĩ: Thằng bé này cho dù là con hải tặc đi nữa, nó cũng là một đứa bé vô tội. Nếu cộng đồng người Việt khinh khi xua đuổi hay thù hận nó thì thật là tội nghiệp!
Hưng thấy mọi người đều im lặng, cậu xin phép đi ra sau vườn. Sư cô cũng đứng lên, nói một cách tự nhiên:
– Sẵn có con, cô muốn nhờ con giúp một tay!
Thật ra, Sư cô giữ luật chùa rất nghiêm. Sư cô không cho phép các Ni cô trẻ trò chuyện một mình với người nam cùng trang lứa. Cô nói với Ni chúng: “Người còn trẻ mà phát tâm xuất gia là một điều quý báu vô cùng, không phải ai cũng làm được, cho nên cô có bổn phận phải giữ cho các con không bị bụi trần làm hoen ố”.
Bữa nay, Huệ Tín (người nữ giới mới xuất gia, thọ giới Sa di thì đặt pháp danh bằng chữ Diệu, sau đó khi được thọ giới Thức xoa thì chữ Diệu đó đổi thành Huệ, khi thọ đại giới Tỳ kheo ni thì Huệ đổi thành Như) còn đang nhập thất, Huệ Tâm thì xuống chợ mua vài món cần dùng, chỉ có Huệ Hảo đang hái ớt, lặt đậu ở ngoài sau nên Sư cô cũng theo Hưng ra sau để tránh sự khó xử cho Huệ Hảo.
Còn lại ba người, bây giờ Hà mới lên tiếng:
– Hoàn cảnh của thằng bé thật đáng thương, em và các con nghĩ sao? Gia đình mình có khả năng nuôi nó, gây dựng cho nó một tương lai sáng sủa hơn.
Lan nói như phụ họa thêm:
– Vài hôm nữa thằng Hưng đi rồi, nhà mình dư một phòng.
Phượng thành thật bày tỏ:
– Con nghe Sư cô kể mà cảm thấy đau lòng. Ý kiến của ba mẹ cũng là ý muốn của con. Nhưng con thấy vấn đề này không giản dị đâu. Theo tâm lý học, Lạc không phải là một đứa trẻ bình thường, nó đã bị quá nhiều mặc cảm, uẩn ức lại thiếu tình thương gia đình, con sợ nó bệnh hoạn về thần kinh!
Hà vẫn sốt sắng:
Nó bệnh thì con có cơ hội nghiên cứu cách chữa trị, nếu thiếu tình thương thì mình bù đắp cho nó! Với sự yêu thương, vết thương nào cũng lành được.
Lan thực tế hơn:
– Thì mình cứ lãnh về, nuôi được chừng nào hay chừng ấy, nếu không xong thì giao lại cho Sư cô.
Sau khi hội ý với nhau, họ quyết định đem Lạc về nhà ngay hôm đó. Sư cô cảm động, dặn dò:
– Cứu vớt tương lai của một người còn hơn xây một kiểng chùa. Các đạo hữu hãy cố gắng và kiên nhẫn. Không phải việc nghĩa nào cũng dễ làm. Có gì khó khăn cứ điện thoại cho cô.
Không biết Lạc nghĩ gì khi nó xách gói về đây? Vui? Buồn? Chẳng ai biết được, vì vẻ mặt nó lúc nào cũng như lúc nấy! Nó lại lầm lì ít nói và chẳng ai thấy nó cười.
Hưng vốn tốt bụng và lịch sự, ngay đêm đó đã nhường giường cho Lạc rồi hôm sau lo thu góp những vật dụng cá nhân, dọn phòng sạch sẽ. Hưng để lại cái ti vi vì nghĩ nhờ đó thằng bé sẽ đỡ buồn khi chưa có bạn bè.

Bích Thu

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!