Gương xưa còn mãi

    983

    《HĐ》- Con đường xuất gia học Phật

    Sư bà Diệu Ninh

    Sư bà pháp danh thượng Diệu hạ Ninh húy Hồng Huệ, pháp hiệu Như Huệ, thế danh Vương Thị Kiến, sinh năm 1914 tại xã Huyền Hội, quận Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Ngài sinh trong gia đình trung lưu, phúc hậu, thân phụ là cụ Vương Tấn Hưng, Pháp danh Thiện Thạnh. Thân mẫu là cụ Mai Thị Tẩm, Pháp danh Diệu Phước. Gia đình cả thảy 9 anh em, Sư bà là người thứ tư, nhưng vì những người trước hữu sinh vô dưỡng nên Sư bà được xem như trưởng nữ. Do ảnh hưởng song thân thấm nhuần Phật pháp, nên tâm tánh Sư bà đã sớm nẩy mầm thoát tục.

    Lúc còn bé, mỗi khi thân phụ cưỡi ngựa đi chùa làng, Sư bà đều đòi theo để đến chùa lễ Phật. Ngoài ra, cụ Tổ Long Hòa là Bổn sư của thân phụ và cụ Tổ chùa Thành Xuân húy Như Nhiêu là Bổn sư của thân mẫu thường lui tới chỉ dạy trong thân quyến, sự hiện diện của hai Hòa thượng trưởng lão đã gợi lên hình ảnh ly trần giải thoát đối với tuổi thơ thuần khiết của Sư bà. Năm 11 tuổi, Sư bà thọ quy giới với cụ Tổ chùa Long Hòa. Hạt giống Bồ đề xưa chỉ còn đợi nhân duyên phát triển. Sư bà nuôi chí xuất gia mãnh liệt, mặc dù đã nhiều lần xin phép song thân, nhưng đều bị từ chối. Năm 16 tuổi, Sư bà bỏ nhà trốn sang chùa Thành Xuân ở Châu Ðốc xin phép cụ Tổ húy Như Nhiêu được xuất gia. Ngày mùng 8 tháng 4 năm 1930, Sư bà được chính thức làm lễ thế phát, thọ lãnh Pháp danh Hồng Huệ.

    Bước đầu tu tập nơi ngôi chùa miền núi gặp lúc chùa đang trùng tu, theo gương hạnh ngày xưa, bồi công lập đức, giã gạo gánh nước để được phước duyên tu học đạo mầu, Sư bà đảm đang nhiều việc công quả nặng nề, vừa nấu cơm cho thầy thợ đông đảo, vừa lên non hái củi xuống suối gánh nước, vận chuyển gạch đá cho nhân công. Thân tuy lao nhọc nhưng niềm vui được dự hội con Phật khiến Sư bà quên đi tất cả. Một năm trôi qua, công việc kiến thiết hoàn thành, thân phụ Sư bà đến viếng chùa thăm con. Thấy con mình chỉ lo công quả mà không được học tập kinh điển, cụ về thưa chuyện với cụ Tổ Long Hòa hiệu Huệ Quang. Cụ Tổ bèn dạy, nên cho Sư bà lên Chợ Lớn tham học với cụ Tổ Từ Phong.

    Năm 1931, lúc 17 tuổi, Sư bà lên Chợ Lớn vào chùa Giác Hải đảnh lễ Hòa thượng Từ Phong xin nhập chúng tu học. Tại đây Sư bà chuyên tâm trau dồi kinh luật luận của người sơ cơ. Hai năm trôi qua, đến 1933, phong trào chấn hưng Phật giáo được Sư cụ Tuyên Linh chủ xướng đã vang dội khắp cả miền Nam. Tại tỉnh Trà Vinh, quý cụ Tổ và Phật tử của hai dòng Tiền Giang và Hậu Giang đã vận động mở ra Lưỡng Xuyên Sư phạm Phật Học viện do Ngài Huệ Quang làm Chánh Tổng lý, ngài Từ Phong làm Ðại Ðạo sư, Ngài Khánh Hòa làm Ðốc học, nhằm mục đích đào tạo Tăng tài, thắp lên ngọn đèn Chánh pháp. Với tinh thần cầu tiến học hỏi để lợi mình lợi người, Sư bà lại xin nhập học tại Phật học Ðường Lưỡng Xuyên. Sư bà cũng được thọ Sa di Ni giới, tại ngôi trường Phật học lịch sử của miền Nam, rồi hai năm sau, năm 1935, Sư bà được thọ cụ túc giới tại giới đàn Lưỡng Xuyên do cụ Tổ Tuyên Linh hiệu Khánh Hòa làm Hòa thượng. Sư bà cũng xin y chỉ với cụ Tổ làm thân giáo sư để được dìu dắt thêm phần tấn tu đạo nghiệp.

    Năm 1938, Sư bà học hết chương trình gia giáo Phật pháp tại Phật học Lưỡng Xuyên, sau 5 năm rèn tập, trên được quý cụ Tổ chỉ dạy bảo ban, dưới cùng bạn đạo kết làm pháp lữ, với đức tính khiêm cung và hòa nhã, Sư bà vẫn thường đại lao mọi công tác hàng ngày và rất được các vị đồng học quý mến.

    Trải thân hành đạo, hoằng dương Chánh pháp

    Tổ Khánh Hòa và Pháp y được lưu giữ tại chùa Vĩnh Bửu

    Tại quận Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre có hai vị Phật tử là Hội đồng Tỉnh và Hội đồng Hoài dâng cúng cho cụ Tổ Tuyên Linh một ngôi chùa, cụ Tổ bèn đặt tên là “Vĩnh Bửu Ni viện” và mở trường đào tạo Ni lưu. Rời Lưỡng Xuyên, Sư bà theo cụ Tổ về Vĩnh Bửu thọ học, đồng thời có quý Sư bà như Sư bà Từ Nguyên, Sư bà Hải Huệ, Sư bà Như Trí đương kiêm giám viện Từ Nghiêm, Sư bà Phổ Ðức, Sư bà Giác Nhẫn, quý Ni sư Tịnh Ðắc,… quý Sư cô Diệu Minh, Diệu Bổn, Diệu Phúc, Diệu Hạnh,… cùng câu hội về đó. Ở đây ngoài những giờ tham học Phật pháp, Sư bà còn chấp lao phục dịch rất siêng năng và hoan hỷ, bởi đức tánh ôn hòa sẵn có và tinh thần hành đường công quả để cúng dường thời gian cho chư Ni ôn tập kinh thư.

    Năm 1940, cụ Tổ nhận thấy Sư bà có đầy đủ đức độ và khả năng để đảm nhiệm chức vụ trụ trì, bèn giao phó ngôi Vĩnh Bửu lại để trở về Tuyên Linh an dưỡng. Năm ấy Sư bà vừa 26 tuổi, sau khi thọ lãnh tâm pháp của cụ Tổ Tuyên Linh với pháp phái: “Từ Lâm Tế Chánh Tông, Vĩnh Bửu đường thượng đệ tứ thập thế, húy Như Huệ, thượng Diệu hạ Ninh Tỳ kheo ni Thượng tọa”, Sư bà đã kế nghiệp cụ Tổ làm trụ trì chùa Vĩnh Bửu để chăm lo mở mang, tiếp tục hoằng truyền Chánh pháp.

    Bước chân vào đường hóa đạo, Sư bà đã tỏ ra xứng đáng với trọng trách của Tổ giao phó và đại nguyện của Bồ tát đã bắt đầu. Sư bà một mặt lo phần giáo dục cho Ni chúng, một mặt lo công tác xã hội, giúp đỡ đồng bào nghèo bởi hóa đạo độ sanh vốn là việc xưa cũ. Năm 1942, Sư bà mở lớp học sơ cấp miễn phí cho trẻ em quanh vùng và lập nhà bảo sanh giúp đỡ các sản phụ thiếu phương tiện, đó là những việc làm hữu ích cho dân làng của một vùng quê hẻo lánh, việc làm giao thông khó khăn.

    Vào những năm chiến tranh, sự an ninh và hoạt động Phật sự của các tỉnh miền Nam đều bị ngưng trệ, Vĩnh Bửu cũng trải qua những dấu tích khói lửa mặc dù đã một lần tái thiết vào năm 1948, tình thế vẫn không sáng sủa hơn. Năm 1954, Sư bà nhận thấy không thể làm được gì nên đành rời chùa Tổ lên Sài Gòn nhập hạ tại Tổ đình Huê Lâm. Nhằm lúc đang có cuộc vận động thành lập Ni bộ, vì Ni giới bổ xứ mỗi người một nơi, cần phải họp thành đoàn thể để chung lo Phật sự. Tinh thần phục vụ đoàn thể, chí nguyện lợi tha của Sư bà đã gặp môi trường thích hợp, Sư bà cùng với Sư trưởng Huê Lâm và các Sư bà khác đã cùng nhau chung bàn việc thành lập Ni bộ, hướng tới việc tổ chức cơ sở Ni lưu, có quy luật, có kỷ cương, để tiếp nối và hoằng truyền sự nghiệp của Ngài Kiều Ðàm, bậc lãnh đạo đầu tiên của Ni giới. Năm 1957, Ni bộ Phật giáo Việt Nam được thành lập sau cuộc Đại hội tại Tổ đình Huê Lâm. Sư bà được cử làm Phó Ni trưởng kiêm thủ Bổn Ban Quản trị Trung ương. Thời gian này, Sư bà giao phó quyền trụ trì Vĩnh Bửu cho hai Ni sư: Tịnh Ðắc và Như Tâm để có thời gian lo việc chung. Cũng vào năm 1957, Giáo hội Tăng già Nam Việt mở khóa huấn luyện trụ trì cho Ni giới tại chùa Dược Sư, Sư bà cũng tham dự và được giao phó nhiệm vụ Quản lý Ni trường Dược Sư.

    Năm 1959, trụ sở Ni bộ đặt tại chùa Từ Nghiêm, Sư bà được Ni trưởng Ni bộ mời về giữ chức Quản lý. Buổi đầu, chùa Từ Nghiêm là một ngôi chùa thô sơ trên vùng đất ẩm thấp, mái ngói hư dột, tường vách đổ xiêu. Về đây, Sư bà đã đem tất cả tâm lực và chí nguyện của mình, hợp tác với Ni trưởng Trưởng Ban Kiến thiết và quý Sư bà, vận động để kiến tạo thành đạo tràng nghiêm tịnh, vừa là trụ sở Trung ương cho Ni bộ, là Tổ đình của toàn thể Ni chúng miền Nam, vừa là cơ sở khang trang rộng rãi để cho Phật tử thập phương hướng về chiêm bái. Trọn ba năm ròng lao nhọc, sớm đi tối về, quên ăn bỏ ngủ, tất cả ngày tháng và ý niệm đều ngưng đọng ở Từ Nghiêm, Sư bà đã cáng đáng phần lớn công tác mà chư Tôn đức Ni giao phó, vừa đắp được cái nền thì lo tiền dựng cột, cất xong chánh điện thì lo vật liệu để làm tăng cường việc kiến thiết tiến dần như tằm ăn lá dâu.

    Năm 1962, trụ sở Ni bộ chùa Từ Nghiêm đã hoàn thành một cách nghiêm trang tráng lệ và được mọi người hoan hỷ. Nơi đây cũng là Phật học Ni trường để chư Ni tấn tu đạo nghiệp. Vốn là người có óc thực tế, Sư bà mở thêm xưởng dệt ở Phú Lâm để làm cơ sở tự túc cho Ni chúng, nhưng ít lâu sau xưởng dệt đóng cửa, vì không có người đầy đủ kinh nghiệm trông coi. Từ nhân duyên thành lập xưởng dệt, Sư bà có dịp tiếp xúc với nước ngoài và ước mong có cơ hội để học hỏi cách tổ chức của Phật giáo nước bạn. Năm 1964, Sư bà tháp tùng với phái đoàn của Giáo hội Tăng già Việt Nam sang Ấn Ðộ chiêm bái Phật tích và cung nghinh linh cốt cụ Tổ Huệ Quang về nước. Cũng năm này, Sư bà tiếp tay với chư Tôn Hòa thượng, Thượng tọa vận động thành lập Ban Bảo trợ Ðại học Vạn Hạnh, trụ sở đặt tại chùa Pháp Hội.

    Năm 1966, Sư bà làm trưởng ban cứu trợ nạn nhân bão lụt tại Châu Ðốc.

    Năm 1967, Sư bà hướng dẫn phái đoàn chư Ni sang hành hương các nước Phật giáo Á Ðông như Nhật Bản, Ðài Loan. Qua một vòng hành hương, Sư bà nhận thấy rằng về công tác Phật sự nơi quê nhà như thế cũng tạm hoàn thành, đây là lúc cần tham học thêm về môn “Giáo ngoại biệt truyền” để tăng tấn phương tiện giáo hóa. Năm 1969, Sư bà sang Nhật vừa chiêm lễ các ngôi già lam danh tiếng vừa tham học thiền tại chùa Tổng Trì thuộc tông Tào Ðộng. Trong hai năm. Sư bà tham dự cả thảy 3 kỳ thiền hội, mỗi khóa thiền tọa một tuần lễ để chứng minh sự tu tập của hành giả. So với những người cùng tu học, Sư bà cao niên hơn hết nhưng rất tinh tấn trang nghiêm nên được vị Pháp chủ tông Tào Ðộng chùa Tổng Trì khen ngợi và ấn khả. Trước khi xuất dương, Sư bà được ông bà Tân Vinh cúng dường một ngôi phố lầu tại Phú Ðịnh. Sau khi chỉnh đốn hoàn bị thành ngôi Ni tự, Sư bà đặt tên là Thiền Ðức Ni tự và giao cho Sư bà Thanh Lương trông nom. Hiện nay, Thiền Ðức Ni tự tuy đặt trong phạm vi nhỏ hẹp nhưng không kém phần trang nghiêm mỹ lệ, do niềm đức hóa, nên dân cư trong vùng đã tụ họp đông đúc vui tươi. Năm 1971, Sư bà về nước, tiếp tục chủ trì ngôi chùa Thiền Ðức, và trùng tu Tổ đình Vĩnh Bửu. Năm 1972, Sư bà thành lập ký nhi viện Huệ Quang tại đường Hậu Giang (Chợ Lớn) để giúp đỡ trẻ em nghèo.

    Năm 1973, Thượng tọa Thanh Từ, Viện chủ Tu viện Chơn Không (Vũng Tàu), đại khai pháp tịch để chuyên giảng về thiền tông, theo khóa trình mỗi tháng một tuần lễ, Sư bà xin vào pháp tịch này để tiếp tục học hỏi về môn Giáo Ngoại mà những năm ở Nhật Bản đã được hành trì. Với chí nguyện đến nơi nào trang nghiêm nơi đó, Sư bà thành lập “Thiền Viện Bát Nhã” tại Vũng Tàu để chư Ni có chỗ tu học.

    Năm 1974, Sư bà giữ chức Giám viện, Phật học Ni viện Dược Sư. Năm 1978, Sư bà giữ chức Quản viện Ni viện Phật học Từ Nghiêm cho đến ngày viên tịch. Ngoài ra, Sư bà còn ủng hộ về phần vật chất cũng như tinh thần cho các Thiền viện Ni như Viên Chiếu, Huệ Chiếu, Linh Chiếu, Phổ Chiếu,…

    Hương đức bay xa

    Sư bà là một trong các vị tôn đức của đoàn thể Ni giới miền Nam, người góp phần xây dựng và lãnh đạo Ni chúng từ thuở ban sơ cho đến ngày nay. Khi còn ở gia đình, Sư bà là một người con hiếu hạnh. Khi xuất gia, Sư bà rất xứng đáng đảm đang trọng trách trang nghiêm Phật sự do chư Tôn đức giao phó.

    Cuộc đời của Sư bà hòa nhịp song song với những biến chuyển của Phật giáo miền Nam, từ thuở niên thiếu nhập học tại Lưỡng Xuyên, ôn tập kinh văn, cho đến khi ra làm Phật sự, cộng tác thành lập Ni bộ, cống hiến cả chí nguyện và đạo hạnh của mình cho đoàn thể Ni lưu, làm nhân duyên cho Phật tử quy ngưỡng, gắn liền công đức và tâm tư với mái chùa Từ Nghiêm, vỗ về an ủi không biết bao nhiêu người đau khổ.

    Sư bà tâm tánh thuần hậu và ôn hòa. Đối với các bậc Tôn túc, Sư bà luôn luôn lễ kính, với các đạo bạn, luôn luôn giữ niềm hòa khí, đặc biệt đối với chư Tăng trẻ tuổi hữu tài hữu đức, Sư bà rất lưu tâm ủng hộ mọi phương tiện, từ vật chất đến tinh thần. Về tinh thần tu học, Sư bà là một tấm gương tinh tấn bất thối chuyển, không bao giờ tự mãn nguyện và an nghỉ. Cho dù niên cao lạp trưởng hay lúc đau bệnh thông thường, Sư bà luôn luôn cần cầu học hỏi với các bậc thiện tri thức và tham dự các khóa thiền một cách siêng năng để thỉnh vấn những điểm cần yếu. Hàng ngày, Sư bà chuyên lễ sám và trì tụng kinh Pháp Hoa, hướng dẫn đạo tràng Pháp Hoa mỗi tuần một ngày tại chùa Từ Nghiêm, kinh không rời tay, y không lìa thân để cùng với Phật tử thấm nhuần trọn vẹn lời kinh, trở về với tri kiến Phật sẵn có của mình. Hình ảnh Sư bà với đức tướng và bi dung đĩnh đạc là những nét sáng và đẹp trong Ni giới. Sư bà đi qua nơi nào đều mang đến niềm hoan hỷ, như luồng gió mát thổi trên bầu trời.

    Năm 1983, sau khi trùng tu tổ đình Tuyên Linh, Sư bà thọ bệnh. Đến ngày mùng 9 tháng Giêng năm 1984, Sư bà yếu sức dần rồi yên lặng thâu thần tịch diệt vào lúc 21 giờ tại chùa Từ Nghiêm, hưởng thọ 72 tuổi, đúng như bổn nguyện của Sư bà trong di chúc: “Từ khi mới xuất gia tôi đã có chí nguyện sống chung với đoàn thể, mở mang phát triển cho đoàn thể và khi về Phật cũng nằm trong đoàn thể.”

    “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Sư bà đã đến và đi như thế, nhưng công hạnh của một bậc thầy lãnh đạo mẫu mực vẫn sống mãi trong sự mến tiếc của toàn thể Ni lưu.

    TKN. Như Đức