Gương sáng nghìn năm

176

  Đệ nhất Đại Đầu Đà
Với hoa tiếu nghìn năm
Cúi lạy đức ân Ngài
Với gương sáng nghìn năm.

Mỗi một người con của Đức Thế Tôn dường như đều hiểu được sự quan trọng của việc lưu truyền đại Pháp trong Phật giáo. Vì thế, khi nhắc đến các vị Tổ sư, trong thâm tâm của chúng ta luôn ẩn chứa niềm tôn kính không ngừng đối với quý Ngài và hầu như ai cũng biết biết về câu chuyện “Thập đại đệ tử của Đức Phật” cả. Trong đó, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp – người đứng đầu hàng Tăng già và chủ trì thừa kế Chánh pháp nhãn tạng của Như Lai là một vị có đời sống phạm hạnh đáng tôn quý nhất. Nhân dịp ngày vía của bậc Đầu Đà Đệ Nhất, con xin xướng lên tên Người để bày tỏ niềm tôn kính và biết ơn sâu sắc đối với Ngài.

Mở sách vàng ngược dòng lịch sử, năm 616 TCN ở Ấn Độ, không xa thành Vương Xá. Tại đất nước Ma-kiệt-đà, thôn Sa-la-đà, có một gia đình thuộc dòng họ Bà-la-môn rất giàu, đó là Ni-câu-lự-đà-kiệt-ba, tài sản có thể so sánh với Vua Tần-bà-sa-la. Lúc bấy giờ, người phụ nữ của gia đình đó đã hạ sanh một bé trai (Ngài Đại Ca-diếp sau này) ở dưới gốc cây Tất-bát-la và đặt tên là Tất-bát-la-da-na.

Ngay từ khi ra đời, Ngài đã hội đủ những quý tướng của một bậc vĩ nhân, trong đó có bảy quý tướng giống với vẻ đẹp của Đức Phật. Gia đình chỉ có một người con là Ngài nên từ nhỏ Ngài đã được cha mẹ rất cưng chiều. Khi Tất-bát-la-da-na lên tám, Ngài được thân phụ cho mời danh sư về nhà theo luật lệ của Bà-la-môn mà dạy cho Ngài. Với thiên chất thông minh, ngoài các môn học như văn học, toán thuật, thi họa, âm nhạc, thiên văn, tướng số,… Ngài còn được dạy phép tế đàn 4 mùa, Thánh điển Vệ Đà, Nhân minh học,… Tất cả đều được Ngài hiểu và thông suốt một cách nhanh chóng.

Lúc khôn lớn, dường như sự giỏi giang của Ngài lúc bé đã thể hiện được Ngài là một người khác hẳn so với người thường. Cuộc sống của Ngài giản dị và trong sạch, không thích các trò hoan lạc, ghét những chỗ ồn ào và thường chỉ muốn ở một mình và đặc biệt với tình cảm nam nữ thế gian Ngài không vương một hạt bụi.

Năm Tất-bát-la-na-da đã đến tuổi lập gia đình, cha mẹ hối thúc Ngài cưới vợ sinh con để nối dõi tông đường. Mỗi lần nghe đến việc này, Ngài luôn vội vã xua tay nói: “Thưa cha mẹ, con muốn sống một mình để được phụng dưỡng cha mẹ. Và nếu được cha mẹ cho phép con chỉ muốn xuất gia đi tu mà thôi. Nếu như lấy vợ thì sự tu hành của con sẽ không thành.” Tuy vậy, cha mẹ Ngài bằng mọi cách ép Ngài phải cưới vợ. Mặc dù không thích việc này nhưng vì để vừa lòng cha mẹ, Ngài đã đưa ra các tiêu chuẩn khắt khe và tạc ra bức chân dung vàng một người phụ nữ thật đẹp để làm khó thân mẫu. Nhưng không ngờ rằng với bức tượng đó, cha mẹ ông đã tìm được cô gái ấy và ông buộc phải thành thân. Người vợ mới cưới tên là Diệu Hiền – một cô gái sắc nước hương trời không ai sánh kịp, nàng và Ngài kể từ khi thành hôn thì luôn “tương kính như tân”, mỗi người đều mang khát vọng cầu Đạo pháp. Sau này khi cha mẹ đều mất, Tất-bát-la-na-da từ giã gia đình mà cất bước tìm thầy học đạo và hứa với Diệu Hiền nếu tìm được Minh sư thì sẽ trở về hướng dẫn nàng. Ngày mà Ngài rời nhà cũng chính là ngày mà Đức Thế Tôn chứng thành đạo quả.

Ngài đi nhiều nơi, học qua nhiều người nhưng vẫn chưa tìm được thầy ưng ý. Cho tới một hôm, nghe có người mách Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni mới thực sự là bậc Đại Giác Ngộ hiện thời, Ngài đến đạo tràng Trúc Lâm nơi Phật Thích Ca cùng các đệ tử đang mở đạo tràng giảng về Phật pháp. Trên đường, Ngài chính thức bái yết Phật, xin được xuất gia tiếp tục học đạo. Qua cuộc gặp gỡ, Tôn giả theo Phật trở lại Tinh Xá Trúc Lâm, ở đây Đức Phật đem pháp Tứ Đế, Thập nhị nhân duyên, khai thị cho Tôn giả.

Từ khi gia nhập Đạo Phật, ngày thứ tám Tôn giả Đại Ca-diếp đắc quả A-la-hán, giải thoát mọi phiền não, ra khỏi luân hồi sanh tử, đây là một phẩm Thánh rất cao.

Với tâm niệm trì phạm hạnh Đầu Đà, Ngài vẫn luôn giữ đúng mực chín trong mười điều của hạnh đó là: Chọn ở nơi hoang vắng; sinh hoạt bằng phép trì bình; thường ở tại một nơi; ngày ăn một bữa; tài sản gồm có 3 y và một bình bát; tư duy dưới gốc cây; thường ngồi giữa đồng trống; mặc áo phấn tảo; sống tại các bãi tha ma. Còn một điều duy nhất Ngài không thường tuân theo đó là “khất thực không phân biệt giàu nghèo”. Bởi vì theo Ngài, người giàu đã thừa phước đức, ta không cần phải mang phước đến cho họ, còn người nghèo vì thiếu phước đức ta cần đem phước điền cho họ gieo trồng. Song, khi Đức Phật nghe nói Tôn giả chỉ khất thực người nghèo, liền khiển trách và khuyên nên đem tâm bình đẳng khất thực, từ bỏ tâm phân biệt.

Đến tận cuối cuộc đời của Tôn giả Đại Ca-diếp luôn duy trì phạm hạnh Đầu Đà, vì thế Ngài được tôn xưng là Đại Đầu Đà. Ngoài ra, Ngài còn được gọi là Ẩm Quang do sự có mặt của Ngài như ánh sáng của mặt trời mà làm lu mờ các ánh sáng khác.

Sau ba năm theo học đạo nơi Đức Thế Tôn, Tôn giả đã gặp lại Diệu Hiền. Cô nay đã rời nhà mà theo nhóm ngoại đạo lõa thể và gặp nhiều trắc trở. Nhớ tình đạo lữ mười hai năm cùng lời hứa năm xưa, Tôn giả đã nhờ một vị Tỳ-kheo-ni đón Diệu Hiền về tinh xá và xin Phật xuất gia. Sau đó cô gia nhập Ni viện, bởi vì sắc đẹp nên cô bị lắm nhiều thị phi, cảm thấy tủi hổ. Biết được chuyện, Tôn giả giúp đỡ nàng bằng cách chia phần cơm của mình và như vậy Ngài cũng bị cuốn vào lời đồn. Tâm Ngài rỗng rang không vướng bận nhưng vì muốn khích lệ Diệu Hiền tiến tu nên dừng việc đưa cơm. Vì chuyện này cùng với sự cổ vũ của Tôn giả, cô dốc lòng tu hành ngày đêm nên đã chứng được Túc mạng thông. Đức Phật có lời khen ngợi đối với Diệu Hiền và Tôn giả Ca-diếp rất hoan hỷ, với hai mặt đạo và đời Ngài đều thực hiện viên mãn, hết mối bận tâm.

Quả là những vị một lòng vì Phật pháp, không bị những sự của thế gian làm chậm đi bước chân của quý Ngài trên đường Đạo. Tình bạn lữ của hai vị đã khiến con vô cùng kính trọng!
Còn nhớ lúc nhỏ, con đã từng xem qua câu chuyện về Ngài Đại Ca-diếp độ bà lão bệnh cùi và cực kì nghèo qua bát nước cơm ôi thiu. Ngài đã nói thế này: “Tôi là một Tỳ-kheo đang theo học đạo lý với Phật Thích Ca và đang tu khổ hạnh nên cũng đi xin như bà, nhưng lại đi bán giàu mua nghèo, bà hãy bán nghèo cho tôi để tạo nhiều phước báu giàu sang phú quý”. Thế là Ngài đã dùng hết bát nước đó. Hình ảnh đó làm con lúc nhỏ rất chấn động, bởi vì khi ấy, con rất kén ăn, mà khi nhìn thấy Tôn giả không ngại ngần mà uống cạn bát nước cơm thì con lúc ấy đồng tử của con chợt co rút, chấn động tâm trí, lòng không khỏi khâm phục trước tấm lòng muốn độ người của Ngài.

Người đời sau này nghĩ nhớ đến Tôn giả Ma-ha Ca-diếp thì không khỏi cảm thán về sự kiện “Niêm hoa vi tiếu”. Chuyện kể rằng hôm nọ, trên núi Linh Thứu trước mặt đông đảo đại chúng, Đức Thế Tôn không tuyên thuyết pháp thoại như mọi ngày, mà lặng lẽ đưa lên một cành hoa. Đại chúng ngơ ngác chẳng ai hiểu gì, duy chỉ có Đại Trưởng lão Ma-ha Ca-diếp mỉm cười. Đức Phật liền tuyên bố với các thầy Tỳ-kheo: “Ta có Chính pháp vô thượng trao cho Ma-ha Ca-diếp. Ca-diếp là chỗ nương tựa lớn cho các thầy Tỳ-kheo, cũng như Như Lai là chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh.” Từ câu nói này, chư vị Thiền sư tiền bối đã diễn đạt thành: “Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, nay Ta phó chúc cho Ma-ha Ca-diếp.” Đây chính là giai thoại Thiền được lưu truyền nổi bật nhất về Sơ tổ Thiền tông, Ngài Đại Ca-diếp.

Ngài Đại Ca-diếp đã được Như Lai truyền trao tâm ấn khi Ngài mong muốn duy trì phạm hạnh Đại Đầu Đà mà không muốn về Tinh xá ngưng trì hạnh. Thấy thế, Đức Phật hướng về Đại chúng mà dạy rằng: “Này các Tỳ-kheo! Đại Ca-diếp luôn luôn lo ngại cho tiền đồ Chính pháp. Thiên ma ngoại đạo hay thế lực cường quyền không thể phá hoại chính pháp, nội tình lộn xộn, Tăng đoàn hủ hóa thiếu phạm hạnh là điều kiện chính làm cho chính pháp tiêu diệt, “Trùng trong sư tử ăn thịt sư tử.” Vì thế, nếu Tăng đoàn được củng cố, giới đức trang nghiêm, nội tình ổn định hòa hợp tất yếu chính pháp được trường tồn. Để củng cố Tăng đoàn, sinh hoạt phải nghiêm túc, giới luật phải được tôn trọng giữ gìn, giới luật còn thì đạo ta còn. Người có thể chủ trì thừa kế Chính pháp của ta phải là Ma-ha Ca-diếp.”

Theo kinh điển, khi Đức Phật nhập Niết-bàn, đoàn Tăng sĩ mà Tôn giả Đại Ca-diếp trực tiếp hướng dẫn còn chưa về. Lúc ấy nhục thân của Đức Phật đã an định trên giàn hỏa. Nhưng không ai có thể châm lửa được, vì mọi mồi lửa dù cháy mạnh đến đâu, khi đến gần kim quan của Đức Phật cũng đều tắt ngấm. Trong khi toàn thể Tăng và tín đồ Phật tử đang có mặt ngạc nhiên cho là chuyện lạ, thì giáo đoàn của Ðại Ca-diếp cũng vừa tới…

Khi Trưởng lão Ðại Ca-diếp đến gần giàn hỏa nhìn mặt Đức Bổn Sư lần cuối cùng, rồi “nhiễu Phật” ba vòng xong, thì toàn thể Sa-môn trong Tăng đoàn của Ngài cũng lễ bái tương tự! Sau đó Trưởng lão quỳ mọp tại chân kim quan của Đức Phật thì lửa đột nhiên bén lên và thế là Ngài cùng toàn thể đảnh lễ cầu phép hỏa táng!

Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn bảy ngày, Ngài Ma-ha Ca-diếp liền triệu tập hội nghị kết tập kinh điển trong suốt ba tháng. Đại chúng nhất trí đề cử Trưởng lão làm Chủ tọa.
Sau cuộc kết tập kinh điển, khoảng hai hoặc ba mươi năm sau, cảm thấy cơ thể đã già yếu, mệt mỏi vì đã trên trăm tuổi, Tôn giả Đại Ca-diếp quyết định nhập Niết-bàn. Ngài tìm đến nơi Tôn giả A-nan đang du hóa để phú chúc pháp tạng mà yêu cầu Ngài ấy tiếp nối sứ mạng thừa kế truyền bá chính pháp. Sau đó, Ngài đến 8 tháp thờ xá lợi Phật để lễ lạy cúng dường.

Nhiều kinh điển Phật giáo đã ghi chép vào năm 496 TCN, khi tròn 120 tuổi, Tôn giả Đại Ca-diếp đã đến núi Kê Túc. Lúc Ngài đặt chân bước đến chân núi, ba đỉnh núi tách ra, lộ ra không gian thích hợp cho việc tọa thiền. Thấy vậy Tôn giả lấy cỏ trải tòa mà ngồi và tự nhủ rằng: “Hôm nay, Ta sẽ dùng sức thần giữ gìn nhục thân này, dùng y phấn tảo che phủ, để đến 67 ức năm sau, Bồ-tát Di Lặc đản sanh thành Phật, Ta sẽ đến bái kiến Ngài, giúp Ngài giáo hóa chúng sanh!” Nói xong, ba ngọn núi khép lại như cũ. Tương truyền rằng, người hữu duyên với Tôn giả Đại Ca-diếp, khi đi đến chân núi Kê Túc sẽ được Ngài ấn chứng cho!
Suy đi ngẫm lại cuộc đời của những bậc vĩ nhân luôn oai phong mà hào hùng đến thế. Trưởng lão Ma-ha Ca-diếp đã dành cả cuộc đời cho Đạo pháp, Ngài luôn nghĩ đến thế hệ sau này mà giữ đúng mực hạnh Đầu Đà. Đã bao lần, con nghe Thầy con nhắc đến Ngài, Thầy luôn kính thán mà nêu lên tấm gương của Trưởng lão về câu chuyện khi Đức Phật nhìn thấy tuổi của Ngài đã cao mà còn sinh hoạt khổ cực mà khuyên Ngài nên bỏ hạnh này. Khi ấy, Trưởng lão bạch Đức Thế Tôn rằng Người vì nghĩ đến các vị Tỳ-kheo ở tương lai, điều kiện tốt hơn sẽ có thể chạy theo mà quên mất mình, Ngài muốn làm gương để thế hệ sau này nhìn thấy sẽ nghĩ lại và trở về. Quả là một bậc chân tu đầy sự thương yêu, Ngài hy sinh thân này để giữ gìn cho chúng ta không bị tham đắm.

Đối với một vị tôn quý như Ngài, con luôn vạn lần nể phục, vạn lần noi gương Ngài, để quay về khi bị chểnh mảng trong công phu. Hình ảnh Tôn giả Đại Ca-diếp đi khất thực đã đánh động vào sâu trong tâm thức của con khi còn rất là nhỏ: râu tóc bù xù, quần áo cũ mòn, chân trần đi trên đường đất đá mà bị thương, tay cầm cái bát mẻ cũ, Ngài nâng bát mà uống hết nước cơm ôi thiu đã có nước mủ từ vết thương của bà lão kia. Con đã nhiều lần khóc vì cảnh tượng ấy, lúc đó con nghĩ người tu chân chính thật khổ, vất vả tu hành, nắng mưa dãi dầu đi gieo duyên và giáo hóa chúng sanh để người đời bớt khổ. Từ đó, con sanh ra một cảm giác kính nể và sợ đi tu. Lúc ấy, hễ con nghe được có chú hay cô nào đó xuất gia, con đều cảm thán rằng: “Thật vinh quang, thật đau khổ!”

Nào ngờ thời gian dần trôi, hoàn cảnh đưa đẩy, con càng được tiếp xúc nhiều hơn về kinh điển Phật pháp, đạo lý và lời dạy của Phật và những vị Tổ sư thì càng thấy được sự nhiệm mầu và ánh sáng diệu kỳ của đạo Phật. Sau này nhờ tìm được Minh sư dẫn lối con thoát khỏi những chướng ngại thì lòng tin trong con càng vững chắc hơn, tâm nguyện xuất gia càng lớn mạnh. Con nghĩ nếu mẹ con mà còn sống thì chắc bà đã thốt lên rằng: “Con tôi trưởng thành rồi!”Ánh sáng và đức phẩm của Ngài Đại Ca-diếp đã soi chiếu khắp muôn loài và bao thế hệ. Ngài luôn là tấm gương sáng ngời để người người noi theo, sự hy sinh của Ngài đã làm rúng động biết bao trái tim, trong đó có cả con. Nguyện Đạo pháp mãi trường tồn, những chân lý và lời dạy của Ngài sẽ mãi không phai tàn!

Thích Nữ Chân Mỹ