Gới thiệu đôi nét về bộ Truy Môn Cảnh Huấn

654

  Trong mùa An cư kiết hạ năm Kỷ Hợi – 2019, Thường trực Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hà Nội đã chỉ đạo cho 18 Trường hạ thủ đô cùng học tập bộ sách Truy Môn Cảnh Huấn. Bộ sách này là một tuyển tập tổng hợp về các bài văn “cảnh sách”, “cảnh huấn”, “Quy nghi”, “Châm minh”… nổi tiếng của các vị Tổ sư, cao nhân đời trước. Sách do vị Tăng tên là Như Cẩn thuộc tông Lâm Tế thời Minh biên soạn.

Truy Môn Cảnh Huấn được xem như loại sách “chỉ Nam tu hành”. Đề tài rộng lớn, nội dung phong phú, trong đó hàm chứa những lời sách tiến khuyên nhủ người tu hành lập chí tinh tiến. Sách cũng trích dẫn những bài nói về đại ý tham Thiền, thuyết pháp của các bậc Cao Tăng cổ đức, có thể làm khuôn mẫu dẫn dắt và tu hành đúng như pháp cho người sơ học nhập môn. Truy Môn Cảnh Huấn, tuy là loại cảnh sách dành cho Tăng nhân, nhưng trong đó có những nội dung liên quan tới rèn luyện ý chí, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao phẩm hạnh và uốn nắn những thói hư tật xấu của con người… Mà người thời hiện đại cũng có thể tìm học, giúp cho mình trong việc an thân lập mệnh. Nay xin giới thiệu tóm tắt khái lược về bộ sách này.

I. Tên gọi và xuất xứ
1. Tên gọi
Tên gọi của sách là Truy Môn Cảnh Huấn. “Cảnh huấn” là những lời giáo huấn, cảnh tỉnh sách tiến. “Truy” là chỉ y phục người xuất gia (Truy y: áo màu đen). “Truy môn” có nghĩa như Truy lâm, Thiền lâm, Thiền môn và chỉ chung cho chốn nhà Thiền. Vậy Truy Môn Cảnh Huấn nghĩa là tập sách cảnh huấn dành cho những người xuất gia chốn cửa Thiền. Sách gồm 10 cuốn với 195 phần, mục đích nhằm động viên khuyến khích, giáo huấn Tăng nhân xuất gia, nên có tựa đề Truy Môn Cảnh Huấn.

2. Xuất xứ
Bản Truy Môn Cảnh Huấn mới này vốn là sách Truy Lâm Bảo Huấn có một quyển, do vị Tăng tên Trạch Hiền thuộc tông Lâm Tế nhà Tống biên soạn.

Đến niên hiệu Hoàng Khánh thứ 2, thời nhà Nguyên (1313), vị Tăng tên Vĩnh Trung là pháp tự của Thiền sư Minh Bản ở núi Trung Phong bổ sung và lấy tên là Truy Môn Cảnh Huấn, gồm 2 quyển.

Đến niên hiệu Thành Hóa thứ 10, thời nhà Minh (1474), vị Tăng tên Như Cẩn ở chùa Chân Như đất Gia Hòa có được bộ sách này từ thầy mình là Thiền sư Cảnh Long, Không Cốc. Từ đó, tiếp tục bổ sung biên tập sách Truy Môn Cảnh Huấn 2 quyển của Thiền sư Vĩnh Trung biên tập và cho khắc in lưu hành. Nhưng bộ sách hiện lưu hành gồm 10 quyển, có lẽ do người sau tiếp tục bổ sung mà thành, nhưng vẫn mang tên người biên tập là Như Cẩn. Đến niên hiệu Quang Tự năm thứ 18, đời nhà Thanh năm 1892 cư sĩ Dương Tịch Siêu bỏ tiền khắc in 1250 bộ gửi cho các danh sơn đại tự. Từ đó bộ sách này được lưu truyền rộng rãi sau này Truy Môn Cảnh Huấn được biên tập vào cuốn thứ 48 “Đại chính tân tu đại tạng kinh” của Nhật Bản.

II. Đôi nét về tác giả

Như trên đã nói, Truy Môn Cảnh Huấn vốn có nhan đề là Truy Lâm Bảo Huấn, chỉ có 1 cuốn, do Thiền sư Trạch Hiền thời Tống biên tập.

Đến thời nhà Nguyên được Thiền sư Vĩnh Trung bổ sung thêm và được đổi tên là Truy Môn Cảnh Huấn gồm 2 quyển. Đến năm Thành Hóa thời nhà Minh, Thiền sư Như Cẩn đã bổ sung và biên tập lại Truy Môn Cảnh Huấn của Thiền sư Vĩnh Trung và cho khắc in lưu hành. Về Thiền sư Trạch Hiền và Thiền sư Vĩnh Trung tư liệu không ghi đầy đủ về thân thế và sự nghiệp tu hành.

Thiền sư Như Cẩn, hiệu là Mật Am, họ Khương, người Chiết Giang, Ngài sinh năm 21 niên hiệu Vĩnh Lạc, thời Minh Thành Tổ (1423). Xuất gia từ nhỏ với Hòa thượng Duy Công tại chùa Chân Như, đất Nghi Trinh. Tham học đắc pháp nơi Thiền sư Cảnh Long Không Cốc ở núi Tu Cát, Tây Hồ – Hàng Châu và được chân truyền kế thừa Tông môn. Sau này, trong thời gian dài Ngài ở chùa Chân Như – Gia Hòa, cho nên, người đời gọi Ngài là Gia Hòa Như Cẩn.

Năm 46 tuổi, Sư phụ viên tịch, đồng thời Như Cẩn cũng trải qua cơn trọng bệnh. Sau đó, Thiền sư chuyên tâm tu Tịnh độ, đề xướng Pháp môn niệm Phật. Ngài từng dùng cách đếm từng hạt gạo để niệm, mỗi tiếng một hạt. Như thế, hạt gạo dùng niệm Phật cũng đong được 200 đấu. Vào năm Thành Hóa thứ 6 (1470), Như Cẩn biên tập xong sách Truy Môn Cảnh Huấn. Vào năm Hoằng Trị thứ hai (1489), Ngài biên tập xong bộ sách sử Thiền tông Thiền tông Chính Mạch 10 quyển.

Theo Trâu Hàn, một cư sĩ nổi tiếng khi ấy, nói trong bài tựa giới thiệu Thiền tông Chính Mạch rằng: Thiền sư Như Cẩn tham học nơi Thiền sư Không Cốc Cảnh Long, được tông chỉ ở Hổ Lâm, rồi sau đó ẩn danh ở chùa Chân Như tại Gia Hòa. Các bậc Long tượng trong bốn bể mến mộ tiếng tăm người tới tham lễ thường chật nhà. Như Cẩn thấy bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên cơ duyên cao vút, người thượng căn lập tức có thể lĩnh ngộ, nhưng hàng trung – hạ căn thì giống như chỉ thấy vàng ngọc châu báu lóa mắt mà chẳng biết lấy thế nào. Ngài cho rằng cơ duyên không thể lĩnh hội thì dễ rơi vào tình trạng sai một ly đi một dặm. Cho nên, Thiền sư đã tuyển chọn lấy những phần có thể lợi ích cho hàng sơ học ở trong Ngũ Đăng Hội Nguyên biên tập thành một quyển. Vì theo chỉ giáo của vị thần Tăng báo mộng, nên đặt tên đầu đề sách là Thiền tông Chính Mạch.

Có thể thấy Thiền tông Chính Mạch thực chất là sách tóm lược từ Ngũ Đăng Hội Nguyên, có độ dài tương đối phù hợp, nhưng Ngũ Đăng Hội Nguyên là bản chọn lọc từ 5 loại đăng lục, như Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Thiên Thánh Quảng Đăng Lục,… đồng thời được lưu truyền và ảnh hưởng rộng rãi. Còn trong Thiền tông Chính Mạch đã bị cắt bỏ phần lớn nội dung trong sách Ngũ Đăng Hội Nguyên. Do đó, làm cho lịch sử truyền thừa của các Tông không còn. Trong đó, có nhiều câu cơ duyên quan trọng, hành sự của Thiền Tăng cũng không đưa vào, khiến người đọc cảm thấy tiếc nuối vì không thể thấy được toàn thể diện mạo lịch sử truyền thừa của các Tông. Hơn nữa, sau khi xuất bản, sách lưu truyền không được rộng rãi, nên tác dụng của sách cũng không được như Ngũ Đăng Hội Nguyên.

Trong lời tựa của Thiền tông Chính Mạch, Thiền sư Như Cẩn nói về phương pháp đọc sách này, giới thiệu bằng 17 pháp, mỗi pháp đều được lấy ví dụ bằng lời của một Thiền sư. Với các danh mục như: Hữu sự thương lượng, Thâm cứu hồng quy, Đắc cá nhập thực, Tiệm hữu khai khuếch, Thường tập tọa Thiền, Tùy nghi tham dụng… Qua đó, có thể phần nào thấy rõ được phong cách Thiền của Như Cẩn.

Sinh thời, Thiền sư Như Cẩn để tâm sự nhiều nhất vào Ngũ Đăng Hội Nguyên, đồng thời cũng hiểu sâu sắc về Tăng sử, Tăng truyện trong Ngũ Đăng Hội Nguyên. Về già, ông chuyên tâm Tịnh độ niệm Phật, đó là do ảnh hưởng sâu sắc từ Sư phụ Cảnh Long.

Thiền sư Cảnh Long là một Tăng nhân nổi tiếng giữa thời nhà Minh, khi còn sống và sau khi mất đều có ảnh hưởng lớn, hơn cả Như Cẩn. Ngài họ Trần. Sinh năm Hồng Vũ thứ 26 (1393), tên tự là Tổ Đình, hiệu Không Cốc người Ngoan Sơn, Động Đình, Cô Tô. Năm 19 tuổi, Ngài đến học Hòa thượng Lại Vân chùa Bạch Liên ở Biện Sơn. Năm 28 tuổi, Ngài xuất gia tại chùa Hổ Khâu ở Tô Châu. Ngài ở chùa Linh Ẩn 7 năm, khắc khổ tham cứu. Với tư chất thông minh lanh lợi, đồng thời thông thạo Nho – Thích, Ngài đề xướng Thiền – Tịnh song tu. Trong Hoàng Minh Danh Tăng tập lược, Tục Vũ Lâm Tây Hồ Cao Tăng sử lược, Bổ Tục Cao Tăng truyện, Tục Đăng chính thống… đều ghi chép về Ngài.

III. Nội dung

Nội dung chủ yếu của Truy Môn Cảnh Huấn, bao gồm những vấn đề như sau:
Những vấn đề về quy phạm tu hành và kiến thức nội điển, ngoại điển mà người tu hành cần có.

Động viên khuyến khích người tu hành lập chí tinh tiến.

1. Giảng giải đại ý về Phật giáo
Phê phán những thói hư tật xấu.
Giảng các Pháp môn tu hành và phương pháp cụ thể.
Sau đây trình bày cụ thể từng vấn đề:
Những vấn đề về quy phạm tu hành và kiến thức mà người tu cần có
Phật giáo luôn có những quy định cụ thể về mọi mặt đối với người tu hành. Phần đầu cuốn sách là Quy Sơn Cảnh Sách, tiếp là Tôn Tăng Thiên, đã chỉ rõ vấn đề bản chất của Tăng nhân. Tại sao Tăng nhân được tôn trọng? Tôn trọng Tăng nhân có tầm quan trọng như thế nào trong việc bảo tồn và truyền bá Phật giáo?

Tôn Tăng Thiên cho rằng: “Tăng nhân lấy Thích làm họ, lấy Như Lai làm nhà, lấy Phật pháp làm thân mệnh. Coi trí tuệ Phật pháp là điều quý giá nhất, lấy thành quả tinh thần tu hành có được là lương thực”. Đây là một giải thuyết về bản chất của Tăng nhân, cũng là quy định về mục tiêu mà người tu hành phải đạt được. Để đạt được mục tiêu này, Tăng nhân phải rũ bỏ tiền tài, công danh, cuộc sống gia đình mà người đời theo đuổi. Đối với một Tăng nhân, Giới – Định – Tuệ là ba Pháp bảo của họ. Giới để cho thân thể, lời nói và suy nghĩ trong sạch, là cơ sở cho tu định; Định khiến cho tinh thần tập trung tu hành, để có được Phật tuệ; Tuệ là cảnh giới cao nhất của người tu hành. Chỉ khi nào có được Phật Tuệ thì đức hạnh của Tăng nhân mới vững vàng, mọi nghi ngờ mới được xóa bỏ. Tôn Tăng Thiên có viết: “Tăng nhân cần có bốn phẩm hạnh, đó là Từ, Bi, Thệ, Huệ. Từ bi là tâm tính mà người tu hành cần có, Thệ huệ là hành vi của người tu hành không thể thiếu”. Còn về các tiêu chuẩn cụ thể như: quả dục – ít muốn, năng nhẫn – nhẫn nại, bất tranh – không tranh, vô vọng – không dối, phổ kính – kính trọng… Tăng nhân càng phải vâng giữ. Như thế có thể thấy rằng Tăng nhân phải nhận thức rõ ràng sứ mệnh của bản thân, tự tôn tự trọng là điều huấn giới đầu tiên.

Thứ hai, sách này cho rằng Tăng nhân cần có đầy đủ các loại học vấn tu dưỡng. Đây chính là con đường chân chính để Phật giáo đồ đi từ chỗ nhận thức kém cỏi đến kiến thức cao minh, đi từ chỗ lệch lạc chật hẹp đến đầy đủ phong phú. Trong sách có lấy Vụ Học Thập Môn 10 bài khuyên chăm lo việc học của Vân Pháp sư để thể hiện rõ tôn chỉ này. Vụ Học Thập Môn đó là:
Bất tu học vô dĩ thành: Không tu học lấy gì thành tựu.
Bất chiết ngã vô dĩ học: Không nhún mình thì không thể học.
Bất trạch sư vô dĩ pháp: Không chọn thầy sao nên phép tắc.
Bất tu học vô dĩ thành: Không tu học lấy gì thành tựu.
Bất chiết ngã vô dĩ học: Không nhún mình thì không thể học.
Bất trạch sư vô dĩ pháp: Không chọn thầy sao nên phép tắc.
Bất tập tụng vô dĩ kí: không đọc tụng làm sao nhớ.
Bất công thư vô dĩ truyền: Không viết chép lấy gì để truyền lại.
Bất học Thi vô dĩ ngôn: Không học Kinh Thi lấy gì để diễn thuyết.
Phi bác tâm vô dĩ cứ: Không học rộng xem nhiều thì lấy gì làm sở cứ.
Bất lịch sự vô dĩ thức: Không trải công việc làm sao biết.
Bất cầu hữu vô dĩ thành: Không kết bạn làm sao thành công.
Bất quán tâm vô dĩ thông: Chẳng quán tưởng tâm do đâu thông đạt.

Mười môn này đã khái quát các phương diện mà mọi Tăng nhân phải tu dưỡng. Tác giả của Truy Môn Cảnh Huấn bắt đầu từ Trạch Hiền đời Tống đã lấy “Vụ học thập môn” làm chương quan trọng về huấn giới. Trong đó tu học, dẹp trừ bản ngã, chọn thầy, kết bạn, hầu như các trường phái trong Phật giáo đều thực hành. Tuy nhiên, về vấn đề đọc tụng, viết chữ, học rộng… lại có cách nhìn khác.

Nói về việc đọc tụng, Vân Pháp sư đưa ra đều là người Ấn Độ Tây Vực: Ca Diếp, A Nan,… giữ gìn đầy đủ ba vạn pháp tạng; Thiên Trúc Phật Đồ Trừng có thể tụng ba vạn câu Kinh Phật; Phật Đà Bạt Đà, người khác tụng đọc một tháng mới thuộc, Ngài chỉ một ngày là nhớ hết. Nhưng một số Thiền sư Thiền tông, đặc biệt là Tông môn Thiền phản đối, họ cho rằng Giới – Định – Tuệ là “nhàn gia cụ” (thứ gia cụ vô dụng bỏ đi), hoặc cho rằng Tam tạng 12 bộ Kinh “đều là ma nói”, hoặc cho rằng việc đọc tụng ghi chép, luận thuyết rườm rà “thực đủ làm chướng đạo”. Tông môn Thiền chủ trương hoặc là từ nghiên cứu công án, hoặc là từ Sư phụ chỉ bảo, lập tức lĩnh hội giác ngộ, thấu triệt nguồn tâm. Sách chọn bài này là muốn biểu đạt ý Thiền – Giáo được coi trọng như nhau: không phải vì “bất lập văn tự” của Thiền tông môn mà bỏ đi tập tụng của giáo môn hay gạt bỏ Tông môn Thiền.

Còn về hai loại học kinh thi và xem rộng là nhằm giúp ứng đối nhanh nhạy, có văn thái, biện luận có điển cứ, có sức thuyết phục mạnh mẽ. Trong đây, Vân Pháp sư cho rằng “Á Dương” dê câm, không được coi trọng. Tăng nhân không phải chỉ ngồi chết trên đệm cói bồ đoàn, mà nên qua lại với tầng lớp sĩ đại phu, thậm chí “cảm động quân vương”. Trong giao kết với sĩ phu, văn thái văn chất không thể thiếu. Điều đó nói lên Tăng nhân tài hoa rực rỡ, nói năng phi phàm. Trong Tăng tục có lưu truyền giai thoại “Tứ hải Tập Tạc Xỉ – Di thiên Thích Đạo An” (Bốn biển nổi tiếng Tập Tạc Xỉ – Thiên hạ lừng danh Thích Đạo An) là một ví dụ minh chứng. Trong đây, Vân Pháp sư cho rằng: Sự tín ngưỡng và bảo vệ Phật giáo của thế tục Vương công đại thần chính là thể hiện một phương diện Phật pháp không bị suy vi, mà văn chương bút nghiên là công cụ giao tiếp với họ. Điều này Truy Môn Cảnh Huấn hoàn toàn tán đồng. Chương này cũng nói nên một điều Tăng nhân nên “Du Tam tạng chi giáo hải, ngoại Lục Kinh chi từ lâm” (dạo khắp biển giáo Tam tạng; thưởng ngoạn rừng văn chương Lục Kinh) nên giao tiếp với sĩ đại phu bằng văn chương. Tuy nhiên, tuyệt đối không được chạy theo quyền lực và tham hố giàu sang. Điều này cũng được thể hiện ở những lời khuyên răn trong sách.

Trên cơ sở đó, sách này cũng nhiều lần khuyến cáo, xuất gia làm Tăng không phải là chuyện đơn giản, không phải chỉ vì cơm ăn áo mặc, vì cuộc sống an nhàn, cầu danh lợi, mà vì việc lớn sinh tử, phổ độ chúng sinh, vì tiếp nối tuệ mệnh của Phật. Nhiều Tăng nhân không có được hoài bão này, xuất gia là để tránh lao động vất vả, trốn tránh lao dịch, thuế khóa, thậm chí có người cho rằng để được phú quý vinh hoa, xuất gia là con đường ngắn nhất.

Trong Quy Sơn Cảnh Sách, Tổ Quy Sơn đưa ra tiêu chí điều kiện làm Tăng rất cao: Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu” (Phàm người xuất gia là phải cất bước tới chân trời giải thoát, tâm tướng, thân hình khác biệt thế tục, khiến cho Phật pháp hưng thịnh, hàng phục quân ma, báo đáp bốn ân, cứu giúp ba cõi). Nếu không được như thế chỉ là những kẻ giả dạng trà trộn làm Tăng mà thôi.

Truy Môn Cảnh Huấn lên tiếng chỉ trích một số Tăng nhân vin cớ phá chấp tuyên truyền “uống rượu, ăn thịt chẳng vướng con đường Bồ đề, ăn trộm, hành dâm không nề trí tuệ Bát nhã”, mà làm ra những việc vi phạm giới hạnh. Bài Thủy giới của Thiền sư Diên Thọ ở Vĩnh Minh được đưa vào nội dung của sách đã nói lên điều này. Trong văn chỉ rõ, thời kỳ Mạt pháp, đạo đức Tăng nhân suy đồi, những người tu Thiền chân chính ngày càng ít, nhiều người chỉ học một cách giả tạo, tất cả trống rỗng chứ không tu hành và hiểu biết chân thật… Trên đây là những quy tắc và kiến thức cần có đối với mỗi Tăng nhân. Trong đó, có cách nói thẳng thắn, khuyên răn, với mục đích xây dựng Tăng đức, Tăng hạnh tốt đẹp, tinh tiến tu học.

(Còn tiếp)

TKN. Diệu Tâm