Thứ Hai, 20 Tháng Năm 2024
Phật họcGieo mầm mạ non

Gieo mầm mạ non

  Dọc ngang trên con đường làng, chợt nhìn thấy những bác nông phu đang gieo những thúng thóc, rất nhẹ nhàng và đều đặn, chợt nhìn sang bên phải, lại thấy bát ngát, bạt ngàn những ruộng mạ non mơn mởn, một màu xanh mát mẻ, mượt mà… một sức sống trẻ trung, đầy năng lượng từ những cọng mạ, tuy yếu ớt, mảnh mai mà lại dẻo dai, để có những ruộng mạ, ruộng lúa chín bạt ngàn trong mùa gặt, chúng ta không thể quên đi công đoạn “gieo giống” cũng vậy không khác, ruộng tâm của mỗi người, giờ cần gieo gì đây? Để có những ruộng mạ tốt tươi kia, đem lại bao lợi ích cho chính mình và cho đời sống nhân sinh, giờ đây chúng ta hãy cùng nhau học sang hội thứ chín của tác phẩm Cư Trần Lạc Đạo Phú, do Vua Trần Nhân Tông chế tác, đặc biệt hội thứ chín này có rất nhiều điển tích nói về hành trạng của những vị Thiền sư. Học hiểu bằng tri giải của phàm Tăng, của kẻ sơ cơ học đạo, được sự chỉ dạy của quý Thầy, dẫu biết rằng sự tu học của chúng ta hãy còn xa xa lắm… nhưng chỉ với tâm nguyện “kết duyên lành, gieo giống chủng tử đốn giáo vào A – lại – da thức”, nếu có một ngày hội đủ nhân duyên, tất cả thảy sẽ tương thông, sự mạo muội học hiểu về hành tung của các Ngài, để thấy và dần thấu được các pháp, mà những vị Thiền sư muốn chỉ dạy, ngỏ hầu sớm có những ruộng mạ và thành những ruộng lúa vàng ươm, rồi tự lợi, lợi tha, tất cả đều viên mãn, còn chờ đợi gì nữa, chúng ta những con người đang tập tu, tập học, hãy cùng nhau đi vào tìm hiểu hội thứ chín như sau:

第九會
丕朱処
機關祖教
雖恪饒塘
庄隔某剛
㐱舍吶自罒馬祖
乙乑涓課訳蕭皇
功德全無,性執癡強添磊
廓然不識,碒愚渕乙群肹
生天竺,折少林,畕肁真筃熊耳
身菩提,峼明鏡,牌剶炦壁行廊
王老斬貓,辣忛峼馭首坐
柴胡摳匵,擼娂智珥昆床
悪盧陵欕末過於,庄朱麻垰
所石頭廏瀾歇則,坤典撪當
破灶拮棋,踏笹酉煶神庙
俱胝移阮,用隊躡翁盎
攨劍臨济,鑲秘魔,訳衲僧奴油自在
獅子翁端,橮柴佑,譤檀越歛舍迎昂
媫扇子,拮竹篦,驗几學機關珥
芻丸毬,倿木杓,伴禪和所木誇光
船子耶掉,匇籑渚朱羨洗
道吾扄笏乾魔羕体怪光
纅偃老訥乾坤,些娂㐱戾
氜蓊存昂世界,勜体乙揚
夛柏羅峼,托歯訳沛方太白
丙丁屬火,吏呂罒磊向天罡
茶趙老餅韶陽,排禪子矣群肁渴
鋫曹溪園少室,眾衲僧仍底留荒
招勑檜乃厠嘫,因芒買涅
祿桃花宜曢竹,默峃高禥.

Nghĩa: Hội Thứ Chín
Vậy cho hay:
Cơ quan tổ giáo,
Tuy khác nhiều đàng,
Chẳng cách mấy gang.
Chỉn xá nói từ sau Mã Tổ;
Ắt đã quên thuở trước Tiêu Hoàng.
Công đức toàn vô, tính chấp si càng thêm lỗi;
Khuếch nhiên bất thức, tai ngu mảng ắt còn vang.
Sanh Thiên Trúc, chết Thiếu Lâm, chôn dối chân non Hùng Nhĩ;
Thân Bồ đề, lòng minh kính, bài dơ mặt vách hành lang.
Vương lão chém mèo, lạt trẩy lòng ngừa thủ toạ;
Thầy Hồ khua chó, trỏ xem trí nhẹ con giàng.
Chợ Lư Lăng gạo mắc quá ư, chẳng cho mà cả;
Sở Thạch Đầu đá trơn hết tấc, khôn đến thưa đang.
Phá Táo cất cờ, đạp xuống dấu thiêng thần miếu;
Câu Chi day ngón, dùng đòi nếp cũ ông ang.
Lưỡi gươm Lâm Tế, nạng Bí Ma, trước nạp tăng no dầu tự tại;
Sư tử ông Đoan, trâu thầy Hựu, răn đàn việt hượm xá nghênh ngang.
Đưa phiến tử, cất trúc bề, nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẵn;
Xô hòn cầu, cầm mộc thược, bạn thiền hoà chước móc khoe khoang.
Thuyền Tử rà chèo, dòng sông xanh chửa cho tịn tẩy;
Đạo Ngô múa hốt, càn ma dường thấy quái quàng.
Rồng Yển lão nuốt càn khôn, ta xem chỉn lệ;
Rắn ông Tồn ngang thế giới, người thấy ắt giang.
Cây bách là lòng, thác ra trước phải phương Thái Bạch;
Bính đinh thuộc hoả, lại trở sau lỗi hướng Thiên Cang.
Trà Triệu lão, bánh Thiều Dương, bầy thiền tử hãy còn đói khát;
Ruộng Tào Khê, vườn Thiếu Thất, chúng nạp tăng những để lưu hoang.
Gieo bó củi, nẩy bông đèn, nhân mang mới nát;
Lộc đào hoa, nghe tiếng trúc, mặc vẻ mà sang.

Qua bốn câu thơ đầu Sơ tổ Trúc Lâm cho ta thấy: “vậy mới hay” phương tiện chỉ dạy của chư Tổ tuy có nhiều cách khác nhau, nhưng thật sự chẳng có gì xa nhau bao nhiêu gang tấc cả, như chúng ta thấy rõ, tùy căn cơ mà phương tiện giáo hóa của các Ngài có sự sai khác. Điển hình trong thực tế cuộc sống hiện nay, chúng ta thấy có rất nhiều pháp môn tu như: Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Pháp Hoa Tông, Mật Tông… tùy căn cơ, nhân duyên của mỗi người mà có sở thích và tâm nguyện, thì sẽ có cách tu và sự lựa chọn khác nhau. Ở đây không phải là bàn luận đúng hay sai mà tùy vào tâm nguyện của mỗi người. Thế nên tùy duyên vậy thôi.

Chỉn xá nói từ sau Mã tổ;
Ắt đã quên thuở trước Tiêu Hoàng.
Chỉ nói từ sau Ngài Mã Tổ cần quên đi thuở trước thời Tiêu Hoàng.

Ở đây có hai tích truyện chúng ta cần rõ:
1. Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất (709 – 788) vào đời Vua Đường Trung Tông, lúc bé, Sư dung mạo lạ thường đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dài dưới mũi, dưới chân có hai khu ốc. Sư học Thiền ở Hoành Nhạc do Thiền sư Hoài Nhượng làm thầy, đồng môn cùng học có sáu người nhưng chỉ có Mã Tổ Đạo Nhất được truyền tâm ấn.

2. Tiêu Hoàng: tức là chỉ cho Vua Lương Võ Đế, ông tên húy là Tiêu Diễn, vị Vua khai quốc vào Triều Lương, thời Nam Bắc Triều trong lịch sử Trung Quốc.
Công đức toàn vô, tính chấp si càng thêm lỗi;
Khuếch nhiên bất thức, tai ngu mảng ắt còn vang.

Sở dĩ không cần nhớ đến thời Vua Lương Võ Đế vì ông là người chỉ biết tu tạo phước hữu lậu, mà không hiểu được ý chỉ của Tổ Bồ Đề Đạt Ma, nên mê chấp càng thêm có lỗi. Giờ đây ta cùng tìm hiểu về Tổ Bồ Đề Đạt Ma và Ngài Lương Võ Đế sẽ rõ hơn về phần này:

* Bồ Đề Đạt Ma: Ngài là Thái tử thứ ba của Vua Hương Trí, Ngài là vị Tổ thứ 28 của Thiên Trúc (Ấn Độ), Ngài truyền bá đạo sang Trung Hoa. Khi ở Trung Hoa, Ngài gặp Vua Lương Võ Đế, ông là người mộ đạo, phụng sự Phật giáo hết lòng, nên đối trước Tổ Bồ Đề Đạt Ma mà hỏi rằng:
– Trẫm một đời cất chùa, độ Tăng, tạc tượng có công đức gì chăng?
Tổ bảo:
– Hoàn toàn không có công đức.
Nên trong Cư Trần Lạc Đạo có câu: “Công đức toàn vô” là vậy. Qua đoạn này, chúng ta cần phân biệt rõ giữa công đức và phước đức.
Phước đức là những việc làm tu tạo phước điền như: bố thí, cúng dường, cất chùa, tạc tượng…là phước hữu lậu, hưởng rồi sẽ hết, khi hết vẫn đọa lạc như thường. Quả báo của phước đức ta dễ thấy trong cuộc sống, bởi đời sống sung túc, giàu có, đầy đủ tiện nghi…
Công đức là do công phu tu tập mà sanh trưởng, là phước vô lậu, không hình tướng không sanh diệt, đó cũng được xem là sự trở về sống với bản thể thanh tịnh của chính mình. Vua Lương Võ Đế chẳng hiểu lý này, lầm nhận phước đức và công đức, nên hỏi Tổ: “Có công đức gì chăng?” Tổ bảo là: “Không công đức” vì ông chỉ biết tu tạo phước, chứ không biết tu tập trở về nguồn tâm. Chính vì lời này của Tổ nên Vua Lương Võ Đế trách cứ, dẫn đến tính chấp si càng thêm lỗi. Ngay nơi đây, chúng ta nên nhớ thêm điều này, khi mình làm bất kỳ việc gì mà trong tâm còn vướng kẹt, chấp trước thì phước ấy không trọn vẹn, còn hỏi có: “Có công đức gì chăng?” cũng đồng nghĩa chúng ta đã dính kẹt vào việc mình làm. Đức Phật đã từng dạy chúng ta nên làm trong tinh thần “Ba la mật” không thấy mình thí, vật thí và đối tượng thọ ơn, thì mới rốt ráo, đúng với tinh thần Lục Tổ Huệ Năng đã dạy:
Hữu ngã tội tức sanh.

Vong công phước vô tỷ.

Nghĩa:
Có ngã tội liền sanh
Quên công phước không thể so sánh.

Thân bồ đề, lòng minh kính, bài dơ mặt vách hành lang.”

Câu phú này nhắc đến một điển tích quan trọng, mà hầu như ai là con nhà Phật, đặc biệt là Thiền tông đều biết. Trong hội chúng của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn có một vị xuất sắc nhất, đứng đầu 500 chúng, được xem là trưởng chúng là Thượng tọa Thần Tú, văn hay chữ tốt, tu hành nghiêm túc. Bỗng dưng xuất hiện một anh tiều phu đen đúa xấu xí là người ngoại biên, không biết chữ. Nguyên nhân nghe đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” ở Kinh Kim Cang (lúc đi bán củi để nuôi mẹ) Ngài liền ngộ đạo, sắp xếp việc gửi nuôi mẹ già, khăn gói đến Huỳnh Mai nơi Pháp hội của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn xin được xuất gia tu đạo. Tổ hỏi:
– Ông đến đây làm gì?
Huệ Năng đáp:
– Chỉ cầu làm Phật, không cầu làm việc gì khác.
Tổ bảo:
– Ông là người ngoại biên, không biết chữ, mà cũng cầu làm Phật?
Huệ Năng thưa:
– Người tuy có Nam Bắc, Phật tánh không Nam Bắc.
Qua bấy nhiêu thôi, chúng ta thấy Ngài là một bậc xuất cách chẳng phải tầm thường. Tiếp theo, Tổ dạy ra sau bếp giã gạo (8 tháng). Một hôm, Tổ yêu cầu đại chúng trình kệ, do Tổ đã lớn tuổi và muốn xem ai trong chúng là người ngộ đạo. Khi ấy, cả chúng nhường nhau để Thần Tú là người đứng đầu chúng trình kệ. Thần Tú sợ chỗ thấy của mình chưa đạt nên không dám trực tiếp trình mà tâm thần bất an, trải qua đến bốn ngày mười ba lần mới trình được kệ, bèn viết bài kệ lên vách hành lang chùa như sau:
Thân thị Bồ đề thọ,
Tâm như minh cảnh đài,
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhạ trần ai.

Nghĩa:
Thân như cây Bồ đề,
Tâm như đài gương sáng,
Luôn luôn phải lau chùi,
Chớ để dính bụi nhơ.

Khi Ngũ Tổ đi ngang qua, đọc biết được bài chưa sáng đạo nhưng không để Thần Tú khó xử. Ngũ Tổ khen bài kệ hay và hỏi ra biết Thần Tú làm. Tổ bảo với đại chúng, phải kính lạy, đốt hương lễ bái và học thuộc lòng bài kệ mà tu hành theo.

Bấy giờ Huệ Năng đi ngang, do không biết chữ, thấy mọi người ai cũng khen ngợi xôn xao và đọc tụng. Một hôm, có quan biệt giá họ Trương tên Nhật Dụng tới chơi. Huệ Năng nói, tôi cũng có kệ mà không biết viết chữ, dám mong quan biệt giá viết giúp. Quan biệt giá nói:
– Nếu ông được pháp, trước tiên độ tôi, chớ quên lời nói này. Huệ Năng đọc kệ cho Trương Nhật Dụng viết:
Bồ đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài,
Bổn lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai?
Nghĩa:
Bồ đề vốn không cây,
Gương sáng cũng chẳng đài,
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi nhơ.
Mọi người khi đọc bài kệ của Huệ Năng liền giật mình. Ngũ Tổ khi đọc qua bài kệ, liền lấy dép chùi đi và bảo:
– Bài này chưa thấy tánh.
Nhằm đánh lạc hướng đại chúng vì sợ Huệ Năng bị hại. Thế ấy mà thầy trò tương ưng thầm nhận và hiểu nhau. Tám tháng giã gạo dưới nhà trù, một hôm, Ngũ Tổ xuống thăm, hỏi:
– Gạo đã trắng chưa?
Huệ Năng thưa:
– Đã trắng. Chỉ còn chờ giần sàng.
Ngũ Tổ dùng gậy gõ vào cối ba tiếng và chắp tay sau lưng bỏ đi. Huệ Năng liền hiểu, canh ba đi vào thất bằng cửa sau. Thầy trò hiểu nhau là thế ấy. Ngũ Tổ lấy y ca sa che Huệ Năng lại, không cho người thấy, vì Huệ Năng mà nói Kinh Kim Cang, đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Ngài liền đại ngộ và thốt lên: “Nhất thiết vạn pháp bất ly tự tánh” (Tất cả muôn pháp không lìa tự tánh) bèn trình Tổ rằng:
Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp.

Y bát được Ngũ Tổ truyền cho Huệ Năng, Ngài trở thành Tổ thứ sáu và dặn dò y bát về sau không truyền nữa. Vì đây là đầu mối của sự tranh giành. Lúc trước, do lòng người chưa đủ tin, nên mới truyền y. Và dặn dò Huệ Năng kỹ lưỡng. Vào giữa đêm, thầy tiễn trò sang sông. Thầy chèo đò đưa Huệ Năng. Huệ Năng liền lấy tay chèo và liền thưa:
– Khi mê thì thầy độ. Khi ngộ thì tự độ lấy mình.
Nên Huệ Năng đã xin cây chèo và tự chèo đò. Huệ Năng ẩn nấp trong đám thợ săn 15 năm, tu hành hết sức khổ cực, phải ăn rau luộc trong nồi nước thịt, để mọi người không phát hiện. Về sau, đầy đủ nhân duyên, Ngài đăng đàn thọ Cụ túc giới và truyền bá Chánh pháp… Tóm gọn tại đây, nếu mọi người muốn tìm hiểu kỹ hơn, đọc lại Kinh Pháp Bảo Đàn do Sư ông Trúc Lâm thượng Thanh hạ Từ giảng giải.
Trở lại câu phú, tại sao nói: “Bài dơ mặt vách hành lang?”

Ý chỉ bài kệ của Thần Tú chưa thấy tánh còn đứng ngoài cửa, nên làm dơ mặt của vách hành lang. Bài kệ của Thần Tú là trên tướng mà thấy chứ không sai. Tu hành theo đây cũng là cái nhân rất tuyệt vời. Thấy thân là cây bồ đề, tâm là đài gương sáng cần phải siêng năng lau chùi, không để dính bụi dơ. Đây là tiệm tu (nghĩa là tu từ từ, dần dần). Còn bài kệ của Huệ Năng là bài trên tánh mà nhận. “Bồ đề vốn không”: Bồ đề là sự giác ngộ tỉnh sáng thì làm gì có tướng mà có cây? Chỉ cho bản tánh sáng suốt tịnh minh mà ai cũng sẵn có). “Gương sáng cũng chẳng đài”: Gương này chỉ cho gương tâm của mỗi người, bao nhiêu vọng tưởng hình bóng dấy khởi, gương luôn sáng suốt chiếu soi, dài hiện dài, ngắn hiện ngắn, vuông hiện vuông, tròn hiện tròn… Bản thể của nó vốn là sáng suốt chiếu soi. Đối với bản tâm thanh tịnh, không có gì in dấu hay lưu bóng? Có vật nào hiện vật đó, qua rồi thì hình bóng cũng mất, nên nói: “Xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi dơ”. Đã không hình tướng, không vật thì dính gì mà lau chùi? Thể tánh chân không ấy, rỗng rang như hư không bao la trùm khắp, sao ta có thể làm gì được trong ấy đây? Hai bài kệ, tuy đều lấy hình tượng là cây bồ đề, đài gương sáng, nhưng hai ý nghĩa của Ngài Thần Tú và Huệ Năng cách xa nhau vạn dặm. Một bên là đốn ngộ (Huệ Năng), một bên là tiệm tu (Thần Tú). Sự đạt ngộ của hai Ngài có sự sai khác, tùy vào căn cơ, nhân duyên của mỗi người. Chúng ta không nên khởi niệm khen hay chê ở đây, có như thế mới không xa với Đạo. Ta thầm hiểu và ngầm nhận vậy thôi.

Vương lão chém mèo, lạt trẩy lòng ngừa thủ toạ.

“Vương lão chém mèo”: đây là điển tích nói về Thiền sư Nam Tuyền, Ngài muốn dò xét tâm ý còn đầy nghi vấn của hai Ngài thủ tọa. Lại một điển tích khá nổi tiếng trong nhà thiền nữa. Chúng ta biết gì về Vương lão sư? Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện, thấy đại chúng phía bên nhà Đông và nhà Tây tranh nhau con mèo. Nhân cơ hội này Vương lão sư muốn tìm người ngộ đạo nên bảo:
– Nói, nói. Nói được thì tha con mèo, nói không được thì chém nó.
Ai nấy hoang mang không biết nói gì bây giờ. Buộc lòng Ngài cầm dao chặt con mèo. Sau đó, Tùng Thẩm, tức Triệu Châu đi đâu về, Nam Tuyền thuật lại câu chuyện và hỏi:
– Nếu có ngươi lúc đó, phải nói làm sao? Triệu Châu Tùng Thẩm bèn cởi đôi giày đang đi dưới chân để lên đầu rồi đi ra. Nam Tuyền bảo:
– Giá mà lúc nãy có ông thì cứu được con mèo.

Qua câu chuyện này, chúng ta hiểu như thế nào? Thiền sư tại sao lại sát sanh, giết mèo? Nam Tuyền làm như thế vì muốn tìm người ngộ đạo, nhưng lại không có ai, mà lệnh đã nói ra phải thi hành. Có người hỏi, Thiền sư có bị nhân quả không?

“Không lầm nhân quả”. Các Ngài chấp nhận chuyện nhân quả để vì lợi ích chung. Như chúng ta thấy đối với những bậc tu hành thì các Ngài trả nhưng không thấy mình trả, vẫn an nhiên tự tại trước thuận và nghịch cảnh. Như Đức Địa Tạng Bồ tát đã phát thệ nguyện: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật”. Nghĩa là: “Địa ngục chưa hết tội nhân, thề chưa thành Phật”. Ngay chính tâm niệm này, Ngài đã thành Phật rồi. Vì sao? Chỉ có tâm Phật mới rộng lớn thế kia.

Qua câu nói: “Giá mà lúc nãy có ông thì cứu được con mèo” chứng tỏ Nam Tuyền không cố ý giết mèo. Còn đối với cách trả lời của Triệu Châu, chúng ta thấy thế nào? Tại sao lại cởi dép đang đi để lên trên đầu, bỏ đi ra? Làm gì mà lạ lùng thế kia? Sao mà dơ vậy? Chúng ta chắc ai cũng đặt nhiều nghi vấn. Thế mà tại sao lại được Sư phụ chấp nhận?

Cách hành xử của Triệu Châu đã hiểu được tâm ý của thầy muốn tìm người ngộ đạo, mà Triệu Châu lại là người đã sống được với đạo, chỗ ấy làm gì có nói năng động dụng gì, hiểu được ý của thầy nên Ngài cởi dép để lên đầu, dép dưới chân là dơ, cái đầu ở trên là sạch, nhưng Ngài muốn biểu hiện được cái chỗ không dơ cũng không sạch, không đối đãi hai bên, nên đã làm hành động ấy. Chân tâm hiện tại không ngôn ngữ làm sao có thể diễn bày được nên Ngài đã bỏ đi ra. Thầy trò thầm nhận với nhau. Quả là quá tuyệt vời: “Tâm tâm tương ứng”.

Thầy Hồ xua chó, trỏ xem trí nhẹ con giàng.
Đây là câu chuyện về Thiền sư Lợi Tung (còn gọi là Tử Hồ, hay Thầy Hồ). Ngài là đệ tử của Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện. Trước cửa Thiền viện nơi Ngài ở, có dựng một tấm bảng ghi rằng: “Tử Hồ có nuôi một con chó, trên cắn đầu, giữa cắn lưng, dưới cắn chân người, ai do dự thì tan thân mất mạng.” Có vị Tăng đến, Ngài nói:
– Đây có con chó, hãy coi chừng.
Nếu vị Tăng không biết nói gì, Ngài đuổi đi ra.
“Thầy Hồ xua chó”: nghĩa là xua con chó cho người ta giật mình, xem trí của “con giàng” con cháu nặng hay nhẹ, cao hay thấp. Cách hành xử đặc biệt của Ngài Lợi Tung để biết được căn cơ của người đến hỏi đạo.
Chợ Lư Lăng gạo mắc quá ư, chẳng cho mà cả;
Nghĩa là: “Gạo ở chợ Lư Lăng mắc quá ư, nhưng chẳng cho mặc cả, trả giá gì hết”.
Đây là một đoạn trong Thiền sư Trung Hoa (quyển 1) do Sư ông thượng Thanh hạ Từ soạn dịch. Đoạn này nói về Thiền sư Hành Tư ở núi Thanh Nguyên. Có vị Tăng đến hỏi:
– Thế nào là đại ý Phật pháp?
Ngài liền đáp:
– Gạo ở chợ Lư Lăng giá bao nhiêu?
Đó là đã trả lời vị Tăng rồi. Vậy chúng ta hiểu gì nào? Tuy hỏi giá bao nhiêu, nhưng không cho ta mặc cả, trả giá mắc hay rẻ mà để mỗi người bặt tâm, dừng suy nghĩ trở về với thực tại, chứ không phải hỏi để đáp. Vì đại ý Phật pháp vượt ngoài ngôn ngữ, càng suy nghĩ thì càng chẳng trúng.
Sở Thạch Đầu đá trơn hết tấc, khôn đến thưa đang.
Nghĩa là: “Chỗ Thạch Đầu đá rất trơn, khó đến mà thưa hỏi được”.
Chúng ta biết gì về Thiền sư Hy Thiên ở núi Thạch Đầu? Sở dĩ nói chỗ Thạch Đầu đá trơn là do có ai đến hỏi đạo Ngài trả lời mà rất ít người nhận hiểu được. Có lần Đặng Ẩn Phong (là đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất) xin Sư phụ đến Thạch Đầu tham vấn. Mã Tổ bảo:
– Đường Thạch Đầu trơn lắm.
Đặng Ẩn Phong thưa:
– Con có cây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.
Ẩn Phong đến chỗ Thạch Đầu đi nhiễu vườn thiền một vòng, chống tích trượng hỏi:
– Là tông chỉ gì?
Thạch Đầu nói:
– Trời xanh. Trời xanh.
Ẩn Phong không đáp được, trở về trình với Mã Tổ. Mã Tổ bảo:
– Ngươi đi lại bên ấy, nếu Thạch Đầu nói trời xanh, trời xanh, thì ngươi: “Hư hư!”
Ẩn Phong lại đi đến Thạch Đầu làm như trước, Thạch Đầu bèn: “Hư hư!” Ẩn Phong không đáp được lại trở về trình với Mã Tổ. Mã Tổ bảo:

– Ta đã nói với ngươi: “Đường Thạch Đầu trơn”.
Qua đây, chúng ta thấy sự tương ưng của kẻ hỏi và người đáp đâu phải dễ dàng. Dẫu Ẩn Phong được Mã Tổ nhắc tuồng trước lúc đi, nhưng khi Thạch Đầu đổi câu nói, Ngài cũng ngơ ngẩn, vì cái nhắc của Mã Tổ chứ đâu phải sự tự thấu đạo của chính bản thân. Nên chúng ta hạn chế vay mượn bên ngoài là vậy. Của mình, mình xài vẫn hơn.

Thich Nữ Hải Thuần

Tin khác

Cùng chuyên mục