Giá trị chữ Nôm trong “Yên Tử Nhật Trình” (phần 2)

1044

 Bộ bản khắc Yên Tử Nhật Trình gồm có 21 tấm ván khắc với 41 bản khắc chữ Nôm. Bộ bản khắc này chuyển tải nội dung các tác phẩm văn học chữ Nôm tiêu biểu thời Trần và thời Lê. Cần chú ý là bộ bản khắc không chỉ chuyển tải nội hàm Thiền học Trúc Lâm và văn hóa Việt Nam mà còn nêu mục đích khắc in của hàng nghìn ván khắc Việt Nam Phật điển.
Trong quá khứ, dân tộc Việt đã trải qua các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm để dành lại quyền độc lập – tự do – dân chủ của mình. Nhà chùa và nhân dân, đặc biệt là Tăng Ni Phật tử chùa cổ Vĩnh Nghiêm và nhân dân làng Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã vượt qua mọi gian nan thử thách để giữ gìn tài sản mộc bản vô giá này. Mộc bản là cứ liệu lưu giữ những chứng tích có giá trị về chữ Nôm, Hán Nôm, địa lý, lịch sử và văn hoá. Bản khắc là cơ sở y cứ cho việc nghiên cứu lĩnh vực ghi chép khắc in của Việt Nam thời phong kiến độc lập. Bản khắc chứa đựng nội dung các tác phẩm kinh điển của văn bản Nôm và Hán Nôm. Các bản khắc là tư liệu sống về nghệ thuật khắc in truyền thống của những nghệ nhân Việt Nam và các nghề truyền thống liên quan của người dân vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ, nơi đã hội tụ, sản sinh ra các di sản văn hóa phi vật thể của thế giới như Ca trù, Dân ca Quan họ.

Thực tế cho thấy, các thế lực ngoại xâm đã không tiêu hủy được Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm – Linh hồn của dân tộc Việt Nam. Mộc bản mang các giá trị ngôn ngữ và văn hóa Việt vượt qua mọi nguy nan để tồn tại cùng dân tộc. Không ít những người tham gia giữ gìn mộc bản đã qua đời nhưng con cháu họ, những người Việt Nam hôm nay cũng sẽ học theo ông cha mình để tiếp tục gìn giữ và phát huy các di sản văn hóa dân tộc mang hơi thở của thời đại toàn cầu hóa. Nghệ thuật khắc in mộc bản truyền thống không chỉ lưu truyền một ngành nghề của đất nước Việt Nam mà còn góp phần bảo tồn và phát huy những ký ức sống động về lịch sử phát triển của nhân loại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Được tận mắt nhìn thấy những bản gỗ Thị khắc mặt chữ Nôm là một diễm phúc lớn cho người Việt Nam hôm nay. Bộ bản khắc Yên Tử Nhật Trình là hiện vật có giá trị đặc biệt về văn hóa, lịch sử. Chỉ khi nào chúng ta tìm hiểu tường tận bối cảnh và hoàn cảnh những bản khắc chữ Nôm được trùng khắc trong chính thời điểm mà chính quyền xâm lược Pháp ra sức đốt phá và tiêu hủy những di sản văn hóa vật chất và tinh thần của người Việt, mới có thể cảm nhận được sâu sắc về bộ bản khắc Yên Tử Nhật Trình. Việc tổ chức trùng khắc Yên Tử Nhật Trình chứng minh cho ý chí và lòng quyết tâm gìn giữ ngôn ngữ và văn hoá dân tộc của các nhà Sư và Phật tử dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung. Mộc bản Vĩnh Nghiêm Bắc Giang cho chúng ta nhận định: “Các thế hệ người Việt Nam luôn kế thừa và nối tiếp nhau giữ gìn tiếng Việt, chữ Nôm truyền thống của mình và lịch sử phát triển tiếng Việt chưa bao giờ bị đứt đoạn.”

Người Việt Nam hôm nay cần hiểu và ứng xử đúng mực đối với di sản tiếng Việt, chữ Nôm của Tổ tiên đã để lại, để tự giáo dục chính mình và các thế hệ con em. Trong lịch sử nghề in ấn bằng phương thức khắc in truyền thống của Việt Nam, bộ bản khắc Yên Tử Nhật Trình là tổng tập tác phẩm văn học chữ Nôm duy nhất trong vòng 500 năm được khắc và trùng khắc đến ba lần. Chỉ riêng điều này cũng đủ để nhận định các giá trị của bộ ván khắc Yên Tử Nhật Trình quan trọng như thế nào.

Văn bản

Năm 2010, sau khi cùng với các chuyên viên văn hóa của Sở Văn hóa tỉnh Bắc Giang tiếp cận, nghiên cứu và kỹ thuật số hóa kho tư liệu mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang. Người viết y cứ theo lời dẫn bản khắc này để xác định tựa đề Yên Tử Nhật Trình là tiêu đề của tổng tập văn bản chữ Nôm, vì tiêu đề khắc ở bản tâm là Yên Tử Nhật Trình. Văn bản này được khắc tại chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang năm 1932, là bản trùng khắc lần thứ ba đang được bảo tồn hoàn chỉnh. Thứ tự các tác phẩm trong tổng tập của bộ bản khắc gồm: Lời dẫn, Trần Triều Thiền Tông Chỉ Nam Truyền Tâm Quốc Ngữ Hạnh, Yên Tử Nhật Trình, Thiếu Thất Phú, Thiền Tịch Phú và lời văn Yên Tử sơn Hoa Yên tự – tự Thanh Minh – cung tiến Tôn sư.

Yên Tử Nhật Trình là tổng tập các tác phẩm văn Nôm, trong đó tác phẩm Trần Triều Thiền Tông Chỉ Nam Truyền Tâm Quốc Ngữ Hạnh là tác phẩm chính. Y cứ vào nội dung văn bản, chúng ta có thể nhận định việc Tỳ kheo Thanh Hanh chọn Yên Tử Nhật Trình làm tựa đề là có sự suy xét và cân nhắc. Lời dẫn tổng tập văn bản giải thích tại sao tổng tập văn bản được chọn tên như trên. Nội dung của Trần Triều Thiền Tông Chỉ Nam Truyền Tâm Quốc Ngữ Hạnh là lịch sử phát triển và nội dung Thiền học của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử được viết bằng chữ Nôm, chữ Quốc ngữ của người Việt thời nhà Trần. Văn bản thơ Nôm này là văn bản Thiền học do Thiền sư người Việt sáng tác. Ngôn ngữ và nội dung văn bản phát huy tinh hoa của tập kinh Phật bản hạnh và nêu bày nội hàm “Yếu chỉ Thiền tông, mang hơi thở văn hóa Việt Nam. Ngoài văn bản chính ra, tổng tập còn có các văn bản phụ khác do các Thiền sư và Phật tử dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử sáng tác.

Chữ Nôm là một trong số những công cụ ngôn ngữ giao lưu văn minh và văn hóa của người Việt. Công cụ ngôn ngữ này đã góp phần hình thành hình thái văn hóa văn minh lúa nước của người Việt Nam qua các thời đại. Yên Tử Nhật Trình không chỉ ảnh hưởng tích cực đến tiến trình phát triển tư duy của người Việt, mà còn tác động đến sự phát triển tư duy của nhân dân các nước trên thế giới theo chiều hướng tích cực. Yên Tử Nhật Trình đang được lưu giữ nguyên vẹn cùng với nguồn sống phát triển toàn diện của Việt Nam hôm nay. Văn bản này giúp các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hoá xã hội có thêm nguồn sử liệu quý giá để tìm hiểu sự phát triển của tiếng Việt. Cụ thể là sự phát triển của chữ Nôm trong tiến trình phát triển tiếng Việt.

Các bản khắc Yên Tử Nhật Trình bằng chữ Nôm là tư liệu gốc để nghiên cứu chức năng cầu nối của chữ Nôm giữa tiếng Việt cổ và Tiếng Việt hiện đại. Trong 41 trang chữ, chỉ có trang chữ đầu tiên và một nửa trang chữ cuối cùng (Lời tựa và Lời kết) là văn của người chịu trách nhiệm thực hiện bản khắc được khắc bằng chữ Hán. Hai trang chữ này cần phải dịch âm đọc Hán Việt và chuyển dịch từ tiếng Hán sang nghĩa tiếng Việt. Ngoài ra, 39 trang chữ còn lại là chữ Nôm không cần chuyển dịch âm đọc tiếng Việt và cũng không cần dịch nghĩa tiếng Việt. Nếu đọc đúng theo mạch văn chữ Nôm, người đọc sẽ tiếp cận được ngữ nghĩa văn bản. Khi phổ biến văn bản này cho nhiều người đọc, chỉ cần giải thích ngữ nghĩa của một số từ nhưng không cần phải phiên dịch vì chữ Nôm tự thân chính là chữ Quốc ngữ của người Việt trong thời kiỳ đầu. Người đời nay không biết chữ Nôm nhưng khi nghe lời văn Nôm vẫn dễ dàng hiểu được nội dung.

NS.TS. Hạnh Tâm (HVPGVN tại TP.HCM)