Đường về Chùa quê

1493

Một ngày giữa mùa hoa phượng cuối cùng của đời sinh viên, tôi ngồi bên hiên nhà đắm mình trong quyển tiểu thuyết Siddhartha của nhà văn người Đức Hermann Hesse. Chuyện kể về hành trình tìm đến con đường “giác ngộ” của Thái tử Ấn Độ Siddhartha. Sau khi từ bỏ gia đình, nếm trải hết thảy si mê và nỗi khổ của cõi tục, Siddhartha đã giác ngộ được chân lý bên cạnh một dòng sông. Chàng đã lắng nghe lòng sông và nhìn thấy “pháp giới”, nhận ra quy luật của đời sống. Đang thả tâm trí theo chân Siddhartha, tôi chợt giật mình khi điện thoại vang lên tiếng tin nhắn của thầy giáo của tôi: “Thứ hai tuần sau đi chùa Bến Tre với thầy không?”. Còn đang để hồn nơi miền đất Ấn xa xôi, tôi ngạc nhiên vì cơ hội được “hành hương” lại đến bất ngờ như thế.

Cuộc hành hương ấy làm tôi trăn trở đến mức không ngủ được! Đúng 5h30 sáng, tôi và thầy lên đường về xứ dừa thân thương. Xe cứ chạy thẳng một đường nhưng đầu tôi lại tiếp tục những suy nghĩ của đêm hôm trước. Tôi nghĩ về nỗi ân hận của nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến Quê của Nguyễn Minh Châu. Cả cuộc đời chu du khắp mọi miền nhưng nơi thân quen và gần gũi nhất, ngay trên quê hương mình thì chưa một lần đặt chân tới. Khi đứng ở bên kia cái dốc của cuộc đời, anh mới day dứt: “Con người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi những vòng vèo hay chùng chình”. Và lòng tôi cũng trào dâng một nỗi day dứt như Nhĩ. Khắp đất nước Việt Nam này, chưa nơi nào nổi tiếng mà tôi không đến, không biết. Ấy vậy, Bến Tre là quê hương tôi mà tôi chẳng hiểu gì về nó cả. Người ta vẫn xem những gì thuộc về mình là điều bình thường đến mức tầm thường. Hai mươi hai năm lớn lên ở Sài thành phồn hoa, tôi chỉ về thăm ông bà nội ngoại theo ý của ba mẹ vào mỗi kỳ nghỉ hè. Bởi thế, xen lẫn với niềm háo hức, tâm trạng man mác buồn. Tôi là con người chưa được biết đến nỗi nhớ quê hương.

8h đúng, xe dừng lại ở chùa Bạch Vân, chúng tôi vào dùng bữa sáng. Cơn đói đã khiến tôi ăn ngon lành tô hủ tíu chay nhưng vẫn bị cuốn theo lời giới thiệu của thầy :

– Bạch Vân Ni tự là trung tâm sinh hoạt của Ni giới của tỉnh Bến Tre. Hôm nay là ngày cuối cùng chư Ni bố tát, tụng giới trong mùa An cư kiết hạ. Ba tháng mùa mưa ở Ấn Độ, côn trùng bò ra đường nhiều, chư Tăng, chư Ni đi khất thực sẽ giẫm đạp lên chúng nên Đức Phật đã định ra ngày an cư để côn trùng không bị sát hại. Nhân đó, Tăng Ni cũng tụ hội lại một nơi nhắc nhở, kiểm điểm và dạy bảo nhau tu hành. Ở trên chánh điện, ni chúng đang tập trung tụng lại giới luật.

Sau buổi lễ trang nghiêm, thầy trò tôi cùng chư tôn đức Ni Bến Tre ngồi đợi Ni sư Như Nguyệt từ Sài Gòn xuống. Đối với tôi, mọi thứ chẳng có gì đặc biệt cho đến khi Sư Nguyệt đến. Sư  tặng dầu xoa bóp, tặng vòng chuỗi nhỏ xinh xắn cho mọi người rồi cả đoàn cùng ngồi vào bàn thọ trai. Không khí yên ắng bỗng trở nên rôm rả hẳn lên, ai ai cũng cười cười nói nói. Tôi quả thật ấn tượng vì tình cảm mà Sư bà Như Ngọc-vị tôn đức Ni cao niên, đức hạnh của Bến Tre dành cho Ni sư Như Nguyệt. Sư bà nay đã 87 tuổi mà còn xới cơm, bóc trái cây mời khách thì đã đủ biết khách quý đến nhường nào. Khi nói đến lý tưởng phát hành tập san Hoa Đàm – tiếng nói của Nữ giới Phật giáo Việt Nam, tôi lại thêm phần ngưỡng mộ. Quan niệm sống và quan niệm tu hành của Ni sư Như Nguyệt là phải “dấn thân” chứ không chỉ đọc kinh, tu tập. Đối với Sư, tập san Hoa Đàm chính là hành động nhỏ bé mà sư Như Nguyệt đóng góp vào công trình xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Thời gian ngắn ngủi thọ trai cùng chư Ni ở chùa Bạch Vân nhanh chóng qua đi, Sư Như Nguyệt tiếp tục lên đường về các tỉnh miền Tây giảng pháp còn chúng tôi tiếp tục lên đường thăm chùa quê. Điểm đến tiếp theo là Chùa Đức Vân ở huyện Mỏ Cày Bắc, cách trung tâm tỉnh Bến Tre 20 cây số.

Con đường làng dẫn vào chùa nhỏ hẹp, chỉ vừa một chiếc xe ô tô chạy, một bên là nhà vườn, một bên là dòng sông trĩu nặng phù sa. Con đường quê này đã khoác chiếc áo mới như bao con đường ở miền kênh rạch. Tôi nhớ các đây mười năm, dẫn vào nhà nội tôi là những bờ mương bùn lầy, nối bờ này với kia là những cây cầu xi măng chỉ vừa một chiếc xe honda chạy qua. Để vào được nhà, ba tôi phải chạy về quê trước khi trời sập tối, nếu không rừng dừa tối đến mức làm người ta toát mồ hôi. Ngày nay, quê tôi đã khang trang hơn rất nhiều, những con đường xi măng thẳng tắp đã được mở, bà con thông thương, đi lại dễ dàng bằng xe máy thay vì bằng những chiếc vỏ lãi chèo tay. Đường vào chùa Đức Vân êm ru, tôi mải mê nhìn ngắm hàng bông điệp, những buồng chuối và cành bưởi da xanh nặng trĩu.

Đường êm ru, tôi mải mê nhìn ngắm hàng bông điệp, những buồng chuối và cành bưởi da xanh nặng trĩu cho đến khi trông thấy bóng người mặc áo chàm đang đứng đợi ở phía xa. Đó là Sư cô Diệu Hòa đang đón chúng tôi đến với vẻ mặt vui tươi, hồ hởi. Cổng chùa đơn sơ, chỉ là một tấm biển dựng xiêu vẹo. Chùa gồm ba gian nhà lá, song cửa gỗ và gian thờ rất giản dị.  Tuy nhiên, phía sau chùa là cả một vườn cây ăn trái đủ loại: chôm chôm, dừa xiêm, chuối sáp, bưởi da xanh… Quê tôi thật trù phú!

Khi chúng tôi vào gian khách, sư cô Diệu Hoà đã bày sẵn hai dĩa chuối sáp vàng óng và những trái dừa xiêm ngọt lịm để chúng tôi giải khát sau một đoạn đường nắng nóng. Suốt buổi nói chuyện, sư cô đã chia sẻ với thầy trò chúng tôi về đời sống sinh hoạt tâm linh nơi và những khó khăn tài chính bằng một giọng thân thiết, chân tình. Tấm lòng chân tình ấy còn theo chân chúng tôi ra xe. Dù chúng tôi tay xách nách mang đủ thứ trái cây, sư cô Diệu Hoà còn đẩy cả một xe kéo dừa khô chất lên xe để: “thầy giáo về nấu chè ăn ngon lắm!”.

Từ giã ngôi chùa nghèo nhưng ấm áp, chúng tôi tiếp tục lên đường đến ngôi chùa Vĩnh Bửu – chùa cuối cùng trong chuyến hành hương khi cái nắng chiều đang lên cực điểm. Xe chạy chầm chậm về hướng xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam còn tôi thì thiếp đi vì say nắng. Khi thầy quay xuống bảo: “Này! Các thị giả dậy đi, ta đến nơi rồi!” thì tôi mới vươn vai, bước xuống xe, chạy thẳng ra sau nhà rửa mặt cho hả cái nắng hè rát da cháy thịt. Khi lên phòng khách, đã thấy thầy ngồi trò chuyện cùng Sư bà Như Chơn nên tôi đi dạo vòng quanh chùa để thoả trí tò mò.

Chùa đã được xây cất lại rất khang trang, bao quanh là những hàng cau kiểng, đặc biệt, chùa còn có hai cây Sala, một cây bồ đề vừa toả bóng mát, vừa gợi người thưởng cảnh hồi tưởng lại câu chuyện Đức Phật nhập định 49 ngày và nhập niết bàn. Đứng dưới gốc cây bồ đề, đang nhớ lại những chi tiết Thái tử Siddhartha ngồi thiền và giác ngộ chân lý trong tiểu thuyết thì bỗng một cơn gió mát mẻ thổi đến làm tan đi cái nắng oi ả. Đi theo hướng gió, tôi nhìn thấy phía trước chùa là cả một dòng sông yên bình, lấp lánh. Đó là dòng sông Thom hiền hoà, trứ danh ở quê hương Xứ Dừa.

Đập vào mắt tôi, san sát hai bên vàm sông Thom là những cơ sở lột dừa. Tôi đoán chắc đời sống trên con sông rất nhộp nhịp, nào là tiếng thuyền bè ra vào, đầy ấp tiếng cười nói của những thợ lột dừa chuyên nghiệp, nào là tiếng dừa trái đập vào nhau khô khốc. Tất cả tạo thành nhịp sống đặc trưng và dòng sông Thom thơ mộng mang nặng tình đất cùng ngôi chùa Vĩnh Bửu trên dưới 100 năm tuổi mang nặng tình người đã trở thành nhân chứng chứng kiến bao biến thiên thăng trầm lịch sử, gắn bó với những con người cần mẫn của miền quê “chỉ vàng” (tên gọi xơ dừa màu vàng, làng nghề truyền thống).

Gió cứ mơn man thổi, tôi đứng lặng bên bờ sông với những trầm tư của riêng mình. Hai mươi hai năm sống và học ở Sài thành đô hội, những kỳ nghỉ hè và nghỉ Tết, tôi chỉ về thăm ông bà, họ hàng theo ý của ba mẹ chứ chưa một lần mong muốn hiểu về quê hương. Nhưng hôm nay đã khác, tình quê trong tôi đã được quyện cùng tình chùa, tình người, hoà cùng nắng rát, sông yên ả và những hàng dừa nghiêng bóng. Trễ nhưng không muộn màng, cuộc hành hương hôm nay đã đưa tôi trở về đất mẹ, một lần thật sự làm người con vùng đất Bến Tre nghĩa tình.

Võ Bảo Trâm

chùa Bạch Vân