Thứ Hai, 15 Tháng Tư 2024
Cảm tácĐức Thích Ca Đản sanh

Đức Thích Ca Đản sanh

 Bất luận một Tôn giáo nào, vị Giáo chủ bao giờ cũng là tấm gương sáng cho tín đồ soi chung để tiến bước. Khi nói đến sự hiện diện của Đấng Giáo chủ, người ta thường dùng hai chữ ĐẢN SANH. Đản Sanh là sự ra đời của một vị Thánh nhân, đem lại sự hân hoan, xán lạn cho cõi đời. Chữ “Đản Sanh” là để ca tụng một bậc Tôn quý ra đời, để cứu vớt chúng sanh đang chìm đắm trong khổ đau.

Đức Phật Thích Ca Đản Sanh ở xứ Trung Ấn Độ, bây giờ là nước Nepal, một nước ở ven sườn núi Hy Mã Lạp. Phong cảnh ở đấy rất đẹp, vào mùa Xuân cả nước muôn hoa đua nở, cây trái đâm chồi nẩy lộc. Dân cư thái bình thịnh trị, dưới sự trị vì của Vua Tịnh Phạn, thuộc dòng họ Thích Ca, là dòng họ lớn đã mấy mươi đời nối nghiệp trị vì đất nước này. Hoàng hậu Ma-Da cũng là người thuộc dòng họ Vua Chúa lâu đời. Cả hai ông bà đã nhiều kiếp Tu hành, có đức hạnh lớn, xứng đáng là Cha Mẹ của muôn dân. Một hôm Hoàng hậu Ma-Da nằm mộng thấy voi trắng sáu ngà từ trên không trung chui vào bên hông phải của bà. Hoàng hậu đem điềm chiêm bao ấy thuật cho Vua Tịnh Phạn nghe, Vua cho mời các nhà tiên tri đến đoán mộng, họ đoán rằng: “Hoàng hậu sẽ sinh một vị quý tử tài đức song toàn. Vua Tịnh Phạn rất đỗi vui mừng, vì ngôi báu từ đây sẽ có người giao phó”.

“Cỏ cây chờ Thánh gọi hồn
Đợi Ngài Chánh giác Bổn tôn cứu đời
Hào quang chiếu sáng nơi nơi
Tỳ Ni Viên ấy, một thời sử ghi”.

Đến ngày 08/4 âm lịch (trước Tây lịch 624 năm) tại Vườn Lâm Tỳ Ni, Hoàng hậu Ma-Da đang ngoạn cảnh, trông thấy một cành hoa Vô Ưu chớm nở, thơm ngát, bà đưa tay phải với hái, thì Thái tử hạ sanh ngay lúc ấy. Ngày Đản Sanh Thái tử, thành Ca Tỳ La Vệ cảnh vật vui vẻ lạ thường, khí hậu mát mẻ, cây cối đều đơm hoa kết trái, báo hiệu một vị Thánh nhân xuất thế. Vua Tịnh Phạn mời Đạo sĩ A Tư Đà, tu ở Hy Mã Lạp Sơn đến xem tướng cho Thái tử. Vị Đạo sĩ tiên đoán rằng: “Thái tử có 32 tướng tốt, nếu ở đời làm vị chuyển luân Thánh Vương, còn đi Tu sẽ thành vị Thánh nhân kiệt xuất”. Nhưng Vua Tịnh Phạn chỉ muốn con mình nối ngôi trị vì thiên hạ, lớn lên lập gia thất để nối dõi tông đường, nên đã đặt tên cho Thái tử là Tất Đạt Đa, nghĩa là: “Kẻ sẽ giữ chức vị mà mình phải giữ”. Hoàng hậu Ma-Da sinh Thái tử được 7 ngày thì mệnh chung, liền sinh lên cõi trời Đao Lợi (vì bà vừa hạ sinh một vị Thánh, làm lợi ích cho Chư Thiên và vạn loại hàm linh). Vua Tịnh Phạn giao Thái tử cho em Hoàng hậu Ma-Da là Ma Ha Ba Xà Ba Đề nuôi dưỡng.

Thái tử Tất Đạt Đa càng lớn thì diện mạo càng khôi ngô, tuấn tú. Thái tử có sức khỏe hơn người, thông minh xuất chúng. Tuy vượt trội hơn người nhưng Thái tử có đức tính khiêm cung, ôn hòa và bình đẳng. Bởi thế, Thái tử được Vua Cha yêu quý, dưới được thần dân kính trọng.

“Tính khiêm cung phát ra lòng cung kính

Đức hiền hòa thể hiện thuở ấu thơ”.
Nhớ những lời tiên đoán của A Tư Đà, Vua Tịnh Phạn bàn với quần thần tìm cách giữ Thái tử, không cho xuất gia, thế là Thái tử buộc phải lập gia thất. Nhà Vua cho xây ba tòa lâu đài nguy nga tráng lệ, cho hợp thời tiết quanh năm, để Thái tử vui lòng. Vua Tịnh Phạn mở cuộc thi cho các công nương, những người con gái xinh đẹp đến tham dự và chính Thái tử là người tuyển chọn cho mình người bạn trăm năm. Cuối cùng, Công chúa Da Du Đà La con Vua Thiện Giác, đã được thành thân cùng Thái tử Tất Đạt Đa. Sau đó, sinh được cậu quý tử tên là La Hầu La. Sau khi dạo chơi bốn cửa thành, Thái tử chứng kiến cảnh Sanh, Lão, Bệnh, Tử, khi trở về cung, trong tâm Thái tử lúc nào cũng buồn rầu, ánh mắt đăm chiêu, luôn nhìn về chân trời xa xăm vô định, muốn tìm một con đường giải thoát khổ đau. Suy nghĩ mãi Thái tử thưa cùng Phụ hoàng xin xuất gia học đạo, nhưng Vua Tịnh Phạn không nhận lời. Một đêm thanh vắng nơi thượng uyển Thái tử một mình ngồi thổi sáo, tiếng sáo du dương khi trầm khi bổng, Thái tử đang thả hồn lâng lâng theo làn gió. Bỗng trên không trung chư Thiên vọng xuống như nhắc nhở Thái tử: “Giờ đã đến Ngài đi thôi. Giờ đến rồi. Giờ đến rồi. Chúng sanh đang chờ đợi Ngài. Ngài hãy ra tay cứu vớt sanh linh”.

Thế là vào một đêm khuya, thừa dịp quân lính và cung phi mỹ nữ ngủ say. Thái tử đánh thức người hầu Xa Nặc, chuẩn bị ngựa Kiền Trắc, Thái tử giã từ vợ con, hai Thầy trò thắng yên cương, trốn ra khỏi thành, hoàng cung lùi dần sau lưng, trong màn sương tiếng vó ngựa xa dần. Thái tử bỏ lại cuộc đời vương giả, vào rừng sâu tìm đạo.

Năm năm tìm Thầy học đạo, nhưng cuối cùng Thái tử Tất Đạt Đa chưa tìm được con đường giải thoát khổ đau. Cuối cùng Thái tử giã từ Thầy dạy đạo và các bạn đồng tu, một mình vào tu ở khổ hạnh lâm sáu năm, đêm ngày nghiền ngẫm đến đạo Giải thoát, thân hình ngày một tiều tuỵ. Một hôm Ngài kiệt sức, nằm ngã lịm trên thảm cỏ ở bìa rừng, nhờ cô gái chăn cừu, đến đổ sữa cho Ngài tỉnh lại. Từ đó, Ngài nhận thấy muốn tìm được Đạo, phải có thân thể khỏe mạnh, lìa bỏ hai lối tu phóng túng hay ép xác khổ hạnh. Khi thấy mình sức lực đã được phục hồi. Ngài nghĩ trước tiên là phải chiến đấu với ma quân là si mê và dục vọng, tìm cho ra ánh sáng Giác ngộ. Ngài hạ thủ công phu, Ngài nhập định 49 ngày đêm dưới gốc Bồ đề, Ngài đã chiến thắng với giặc phiền não ở nội tâm như: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, v.v… và chiến đấu với giặc Thiên ma, do Ma ba tuần chỉ huy. Sau khi chiến thắng được giặc nội tâm và ngoại cảnh, tâm trí được khai thông, hốt nhiên Ngài đại ngộ. Khuya 08/12 âm lịch, canh hai Ngài chứng được “Túc mạng minh”, thấy rõ đời quá khứ của mình trong Tam giới, đến nửa đêm Ngài chứng được “Thiên nhãn minh”, thấy được bản thể của vũ trụ và nguyên nhân cấu tạo của nó. Đến canh tư Ngài chứng được “Lậu tận minh” rõ biết nguồn gốc của khổ đau và phương pháp dứt trừ đau khổ.

“Giây phút ấy không gian bừng ánh đạo
Muôn cung tơ nhã nhạc đón Thánh hiền”.

Từ ngày Ngài thành đạo Vô thượng Bồ đề thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiệu là Thích Ca Mâu Ni Phật. Tất cả chúng sanh học qua lịch sử của Ngài, từ sơ sanh đến xuất gia tầm đạo cho đến thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Ngài vẫn mang thân Tứ đại, vẫn nằm trong Tứ tướng: “Sanh, trụ, dị, diệt” như chúng ta. Có khác chăng là Ngài đã dùng gươm trí tuệ, chặt đứt những sợi dây oan khiên triền phược, mà có được Vô thượng Niết-bàn.

Còn chúng ta suốt ngày say mê trong Thất tình, Lục dục nên mãi mãi bị trầm luân trong sanh tử khổ đau.


“Một chuyến ra đi, quyết tìm chơn lý
Đức Thế Tôn từ chối cả ngôi Vua
Cả danh thơm, quyền quý, mãi tranh đua
Tìm trở lại, khêu ngọn đèn Chánh pháp
Bỏ sau lưng những buồn, vui phức tạp
Độ Vua Cha, độ gia tộc xuất gia
Ơn Đức Ngài, thật vô lượng hải hà
Thật xứng đáng, bậc Cha lành muôn loại”.

TKN. Như Tri Chùa Từ Ân – Q.10
Tham khảo tài liệu “Phật học phổ thông” của HT. thượng THIỆN hạ HOA.

 

Tin khác

Cùng chuyên mục