Thứ Năm, 11 Tháng Tám 2022
Phật học Đức Bồ tát Quan Thế Âm Diệu Thiện

Đức Bồ tát Quan Thế Âm Diệu Thiện

HĐ  Quan Thế Âm hay Quán Thế Âm theo tiếng Phạn nghĩa là “Đấng quán chiếu âm thanh của thế gian” là một vị Bồ tát hiện thân cho lòng từ bi của tất cả chư Phật.

Theo kinh A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ tát cùng với Đại Thế Chí Bồ tát là trợ tuyên của Đức Phật A Di Đà, được đặt danh hiệu Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát: Đại bi tức là lòng thương người bao la, rộng lớn. Quán nghĩa là xem xét, quán xét. Thế là cõi thế gian. Âm là lời cầu nguyện. Bồ tát là đặc trưng cho tinh thần của Phật giáo Đại thừa – giác tha. Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm 25 Phổ Môn đã tán than các công hạnh của Bồ tát một cách rõ ràng.

Danh xưng Quán Thế Âm Bồ tát có nghĩa là: Vị Bồ tát luôn “nhìn thấy” tiếng ai oán, đau khổ trong bến mê của chúng sinh và sẵn sàng cứu giúp hay nói pháp khi cần. Bồ tát Quán Âm hiện thân trong mọi hình dạng để cứu độ chúng sinh, theo phẩm Phổ Môn khi muốn cứu vớt hoặc giác ngộ, Quán Âm có thể hóa thành 32 sắc tướng như Phật, Bồ tát, Càn Thát Bà, thiện nam, tín nữ, tùy theo đối tượng để cứu giúp chúng sinh, nhất là trong các nạn lửa, nước, quỷ dữ và đao kiếm. Vì vậy tại Trung Hoa và Việt Nam, Quán Âm thường được diễn tả dưới dạng nữ nhân ví như một người mẹ thương con, luôn xem chúng sanh như con của mình và vì đứa con gặp khổ nạn mà cứu độ.

Theo quan niệm Trung Hoa, Quán Âm ngự tại Phổ Đà sơn ở miền Đông Trung Hoa. Phổ Đà sơn là một trong Tứ đại danh sơn, bốn trú xứ của bốn Đại Bồ tát của Phật giáo Trung Hoa. Đến thế kỷ thứ X ở Trung Quốc Quán Âm còn được giữ dưới dạng nam giới, thậm chí trong hang động ở Đôn Hoàng, người ta thấy tượng Quán Âm để râu. Cũng vào khoảng thế kỷ này , Quán Âm được vẽ mặc áo trắng, có dạng nữ nhân. Có lẽ điều này xuất phát từ sự trộn lẫn giữa đạo Phật và đạo Lão trong thời kỳ này.

Một cách giải thích khác theo ảnh hưởng của Mật Tông trong thời kỳ này: Hai yếu tố Từ bi và Trí huệ được thể hiện thành hai dạng nam nữ, mỗi vị Phật hay Bồ tát trong Mật tông đều có một “quyến thuộc” nữ nhân. Vị quyến thuộc của Quán Thế Âm được xem là vị nữ thần áo trắng Ta-ra, và Bạch Y Quán Âm là tên dịch nghĩa của danh từ đó. Kể từ đó Phật tử Trung Hoa khoác cho Quan Âm áo trắng và xem như là vị Bồ tát giúp phụ nữ hiếm muộn. Ngoài ra, các ngư dân thường cầu nguyện Quán Âm để được bình an trong các chuyến đi đánh cá. Vì thế, Quán Âm cũng có biệt hiệu Quán Âm Đông Hải hay Quán Âm Nam Hải.
Đối với Phật giáo, Phật không phân biệt nam hay nữ. Do đó, việc quan niệm Quán Âm là nam hay nữ không phải là vấn đề quan trọng trong Phật giáo.

Có rất nhiều câu truyện về Bồ tát Quán Âm. Ở Việt Nam truyền thuyết Quán Âm Diệu Thiện được truyền miệng trong dân gian qua lối truyện thơ. Bài thơ viết theo thể lục bát nói về một vị công chúa đã xuất gia ở Việt Nam để độ hóa cho Vua cha có nhiều tội ác. Sự tích này cũng có một dị bản lưu hành ở Trung Hoa. Truyền thuyết kể rằng vị công chúa này, nguyên ở nước Hùng Lâm thuộc Ấn Độ, là người con gái thứ ba của một vị Vua. Trước khi sinh công chúa Diệu Thiện thì nhà Vua rất mong có hoàng tử nên đã cầu xin rất nhiều nhưng đứa con chào đời lại là một công chúa. Điều này đã làm cho nhà Vua sinh lòng oán hận.

Khác hẳn hai người chị, nàng công chúa này lớn lên chỉ say mê kinh kệ và có lòng Quy y Phật. Vì cự tuyệt việc lấy chồng nên cô bị giam hãm phía sau hoàng cung. Không thuyết phục được con mình hoàn tục, Vua giả vờ cho phép con tu ở chùa Bạch Tước rồi ngầm ra lệnh cho các Sư phải tìm cách thuyết phục cho công chúa hoàn tục. Nếu không sẽ giết hết các Sư trong chùa. Nhưng mọi cách đều không lung lạc được ý quyết của công chúa.
Giận con, Vua ra lệnh đốt chùa để giết cô công chúa nhưng trời bỗng có mưa dập tắt lửa. Chưa hết giận, Vua bèn hạ lệnh xử chém, thì trời bỗng giông tố, tạo ra sét đánh văng búa của đao phủ thủ. Vua tức giận ra lệnh xử trảm công chúa nhưng ngay lúc đó xuất hiện một con hổ trắng xông ra cõng công chúa mang đến chùa Hương. Diệu Thiện tu hành và cảm hóa được muông thú nơi đây. Sau đó Ngài đã cứu độ và chữa bệnh cho người dân trong vùng.

Lúc bấy giờ, Vua trong triều đột nhiên bị chứng bệnh hủi không chữa được, dần dần hai bàn tay bị rơi rụng và mắt trở nên mù. Các triều thần nghe đến danh y nổi tiếng có thể chữa bách bệnh nên đã đến nơi của Diệu Thiện. Biết Vua cha mắc bệnh, Ngài biết rằng chỉ có thể đem đôi mắt của Ngài để làm thuốc thì mới có thể chữa khỏi. Trước mặt các triều thần nàng tự tay móc đi đôi mắt của mình và tự tay bào chế thuốc đem về cho Vua cha. Sau dần Vua khỏi bệnh, nhớ đến ân của nàng, Vua cha sám hối cho lập tượng nàng và từ đó Quy y theo Phật.

Qua truyền thuyết trên ta thấy được sự đề cao hai đặc tính của Bồ tát, đó là nhân và hiếu. Với trí huệ và giới hạnh thì hiếu có thể độ giúp cứu thoát được cha mình, cũng như nhân có thể độ giúp nhiều người thoát vòng mê lầm trở về với trí huệ.
Ngày nay, tranh tượng thường trình bày Quán Âm dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng phổ biến nhất là dạng một vị Bồ tát nghìn tay nghìn mắt. Có khi Quán Âm ẵm trên tay một đứa bé, có khi một đồng tử theo hầu. Người ta cũng hay vẽ Quán Âm hiện trong mây, hoặc cưỡi rồng trên thác nước. Hình ảnh Quán Âm đứng trên một hải đảo hay trên con cá voi để cứu người bị nạn cũng phổ biến trong nghệ thuật, biển cả tượng trưng cho luân hồi. Tay Quán Âm thường cầm hoa sen hay bình nước Cam Lồ.

Hàng năm, nhiều ngôi chùa thường tổ chức lễ vía Quán Thế Âm Bồ tát vào lễ đản sanh ngày 19 tháng 2, ngày 19 tháng 6 là lễ thành đạo và ngày xuất xa 19 tháng 9. Qua mỗi dịp lễ, người dân thành kính dâng hương lễ chùa, gửi gắm tất cả nỗi niềm với Đức Quán Âm từ bi. Đặc biệt trong đời sống hiện nay, dịch bệnh tràn lan, mưa dông đói khổ thì Ngài chính là nơi nương tựa đặc biệt vững chắc của đa số người dân Việt Nam. Nguyện cầu Đức Quán Thế Âm mở rộng lòng từ cứu giúp chúng con qua cơn khổ nạn, mọi thứ sớm trở về bình an.

Chân Mỹ

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!