Dòng Pháp thủy vô tận

43

  Cỏ cây chờ Thánh gọi hồn
Đợi Ngài Chánh Giác bổn tôn cứu đời
Hào quang chiếu sáng muôn nơi
Tỳ-ni viên ấy, một thời sử ghi.

Quả thật như thế, suốt chiều dài lịch sử gần ba ngàn năm, ấy vậy đến nay giáo pháp của Ngài được tiếp nối và lan tỏa khắp năm châu bốn biển. Dòng người đổ xô về đất Ấn, nơi đã sản sinh một bậc vĩ nhân kiệt xuất, trải qua bao thời đại, văn chương đều ca tụng về Ngài, lấy điểm son ấy làm kim chỉ nam để tiến thân trên lộ trình giải thoát.

Chuyến trở về cội nguồn này, tâm tư tôi bàng hoàng xúc động, pha lẫn sự vui mừng khôn xiết khi đứng trước trụ đá của Vua A Dục. Nhà Vua khắc lại để đánh dấu nơi Đản sanh một đấng cứu thế, nhân dân trong vùng được miễn thuế, được hưởng ân đức của Ngài. Bên cạnh ấy là hồ nước trong vắt, tương truyền rằng chính nơi này, chín rồng phun nước để tắm cho Ngài. Gần hồ nước có nhiều gốc cây cổ thụ, rễ cây chằng chịt đan nhau, cành lá xanh um, rồi những dây cờ ngũ sắc của các nước hành hương về chiêm bái Thánh tích, đã giăng ngang, giăng dọc, đánh dấu chuyến về cội nguồn tâm linh của họ. Chính nơi này Thánh Mẫu Maya vịn cây Vô ưu hạ sanh Thái tử Sĩ Đạt Ta. Vô ưu là loại cây quý hiếm, hay Vô ưu là không còn ưu sầu khổ não nữa? Thiết nghĩ rằng Ngài vì thương chúng sanh ở cõi Ta bà này mà thuyết pháp giáo hoá. Ngài thị hiện trở lại đời với tâm nguyện độ sanh, nên phải chịu bốn tướng: “Sanh, lão, bệnh, tử”. Chúng sanh luôn bị các ấm ngăn che (sắc, thọ, tưởng, hành, thức ấm). Vì vậy, khi sanh ra mình không biết từ đâu đến và khi chết sẽ đi về đâu? Còn chư Phật, chư Bồ tát thị hiện vào đời, vẫn mang thân Tứ đại ấy, nhưng các Ngài được thong dong tự tại, không bị thất tình, Lục dục kéo lôi. Thánh Maya mộng ứng điềm lành, thấy voi trắng sáu ngà chui vào hông phải và khi Đản sanh Ngài cũng từ hông phải mà ra. Voi trắng tượng trưng cho bạch nghiệp. Sáu ngà tượng trưng cho sáu căn là: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý. Khi tiếp xúc với sáu trần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không bị đắm nhiễm, nên gọi: “Cư trần bất nhiễm trần”. Quả đúng như vậy, Ngài sinh ra với Chánh báo trang nghiêm, thân hình ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Còn Y báo, sống trong cung vàng điện ngọc, vợ đẹp, con xinh, thế mà Ngài không bị sáu trần làm ô nhiễm. Ví như hoa sen mọc trong bùn, từ bùn vươn lên, toả ra hương thơm ngào ngạt, không bị mùi bùn vấy bợn tanh hôi.

Ngày Đản sanh của Thái tử Sĩ Đạt Ta, thành Ca Tỳ La Vệ, dân chúng vui nhộn hẳn lên, cây cối đều đơm hoa kết trái, sông ngòi nước tràn đầy trong mát, đây là điềm lành của vị Thánh nhơn xuất thế. Đạo sĩ A Tư Đà từ dãy Hy Mã Lạp sơn được mời đến để xem tướng Thái tử. Đạo sĩ đoán rằng: “Thái tử có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, sau này xuất gia sẽ chứng quả, còn nếu làm Vua sẽ làm chuyển luân Thánh Vương, thống lĩnh cả muôn dân.” Khi sanh Thái tử được bảy ngày thì Hoàng hậu Maya từ trần, Thái tử được Di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề nuôi dưỡng. Lớn lên Vua Tịnh Phạn mời Thầy dạy cả văn lẫn võ cho Thái tử. Thái tử Sĩ Đạt Ta học hành rất thông minh. Chỉ trong thời gian ngắn là Thái tử văn, võ song toàn. Vua Tịnh Phạn nhớ lời tiên đoán của Đạo sĩ A Tư Đà, nên bàn với quần thần lập gia thất cho Thái tử, để ngăn chí nguyện xuất gia của Ngài. Thế là Thái tử Sĩ Đạt Ta kết duyên với Công chúa Da Du Đà La, con gái của Vua Thiện Giác. Thời gian sau cậu bé La Hầu La chào đời, Vua Tịnh Phạn rất lấy làm mãn nguyện, ngôi Vua rồi đây sẽ có người kế vị. Một đêm khuya, sau buổi yến tiệc linh đình, cung phi mỹ nữ và quân lính ngủ say, Thái tử cùng người hầu là Xa Nặc, vượt thành thẳng về phía rừng núi, qua dòng sông A-nô-ma, Thái tử cắt tóc gởi về cho phụ vương làm tin.

Ban đầu Ngài tu với các vị khổ hạnh, hành hạ xác thân, rốt cuộc Ngài thấy không có kết quả, bèn bỏ đi nơi khác. Ở đâu nghe có vị tu hành đắc đạo, Ngài tìm đến tham vấn học hỏi, nhưng đến đâu Ngài cũng nhận thấy cách tu hành của họ vẫn còn hẹp hòi, chưa thể giải thoát được. Ngài bèn vào rừng tu tập một mình, nghiền ngẫm đạo mầu, quên ăn, bỏ ngủ, mỗi ngày một yếu lần. Ngày kia Ngài kiệt sức, ngã quỵ trên đám cỏ nơi bìa rừng, được cô gái chăn cừu đem sữa đến đổ vào miệng, lát sau Ngài tỉnh lại. Từ đó, Ngài suy nghĩ: “Muốn tìm được Đạo phải có thân thể mạnh khoẻ tráng kiện”. Nên khi đầy đủ sức lực, Ngài đến ngồi dưới gốc cây Tất Bát La (còn gọi là cây Bồ-đề ) và phát thệ rằng: “Nếu ta không thành đạo, dù cho thịt nát xương tan, ta quyết không rời chỗ này.” Nhờ ý chí cương quyết, chuyên tâm thiền định, Ngài đã chiến thắng Ma Ba Tuần. Đến đêm bốn mươi chín, canh hai, Ngài chứng được Túc mạng minh, thấy rõ đời mình trong Tam giới. Nửa đêm, Ngài chứng được Thiên nhãn minh, thấy rõ bản thể của Vũ trụ. Đến canh tư, Ngài chứng được Lậu tận minh, rõ biết nguồn gốc của đau khổ và phương pháp dứt trừ khổ đau, để thoát ly sanh tử luân hồi.

Rồi tới Lộc giả uyển (Vườn Nai), nơi Đức Phật thuyết pháp Tứ đế, để độ năm anh em Kiều Trần Như. Pháp Tứ đế được nhắc đi nhắc lại ba lần gọi là Tam chuyển pháp luân. Lần đầu gọi là Thị chuyển, lần thứ hai gọi là Chứng chuyển, lần thứ ba gọi là Khuyến chuyển. Nghĩa là đầu tiên Ngài dạy rằng: “Đây là khổ, đây là tập, đây là diệt và đây là đạo.” Ngài chỉ ra những nỗi khổ niềm đau ở thế gian, không một ai tránh khỏi, từ Vua, Quan cho đến thần dân, đều nằm trong Tam khổ và Bát khổ, đó chính là nguyên nhân đưa con người đến khổ luỵ. Khổ đế và Tập đế là Nhơn và Quả của thế gian. Ngài dạy tiếp: “Đây là Đạo đế, là con đường Tu tập để đoạn trừ khổ đau, lầm than của kiếp người. Con đường ấy không ngoài ba mươi bảy phẩm trợ đạo, trong đó có Bát chánh đạo.” Nếu hành giả tinh tấn tu tập theo Bát chánh đạo một cách miên mật, sẽ đạt đến chỗ an vui giải thoát một cách chắc thật, nên gọi là Diệt đế. Diệt đế và Đạo đế là Nhơn và Quả xuất thế gian. Nêu tên và trình bày tức là Thị chuyển.

Rồi Ngài đem sự chứng ngộ của bản thân mình nói ra cho năm người bạn cũ cùng nghe gọi là Chứng chuyển và cuối cùng Ngài khuyên năm người bạn cùng thực hành như thế, để phát sanh trí tuệ bằng cách Tư duy, Thiền định như mình, thì sẽ đạt được niềm an vui ngay trong phút giây hiện tại. Kể từ khi nghe Đức Phật thuyết giảng pháp Tứ đế, năm anh em Kiều Trần Như thấy được lẽ thật của các pháp, nên liền tôn Ngài là bậc Đạo Sư, là Tôn Sư của mình và cũng từ đó ngôi Tam bảo được hình thành tại Vườn Nai.

Giây phút ấy, không gian bừng ánh đạo
Sự nhiệm mầu đạo lý quá thậm thâm
Trải tâm tư hòa quyện nghe pháp âm
Thời gian ngộ, sát na trong vũ trụ.

Nước trăm sông đều chảy về biển cả. Khi còn ở đồng bằng, mỗi con sông đều có tên gọi khác nhau, ví như sông Tiền, sông Hậu v.v… mùi vị của nước sông ấy đều khác nhau, nhưng khi chảy về biển, đồng một vị mặn. Cũng vậy, khi chưa tu mỗi người mỗi xứ, mỗi họ khác nhau. Khi xuất gia rồi đều cùng chung một họ, đó là họ Thích và cùng chung một tâm chí nguyện vọng là thoát ly sanh tử luân hồi, hưởng cùng một mùi vị, đó là hương vị giải thoát.

Tăng đoàn là sự tiếp nối của ba đời chư Phật, chư Tăng, chư Ni, là viên gạch nối giữa Phật và chúng sanh, là những người sứ giả Như Lai có trách nhiệm đem ánh đạo vàng chan rải khắp muôn phương.

Ôi! Tuyệt đẹp một bóng bình thanh thoát
Mảnh hoàng y, đi gieo hạt phước điền
Mỗi gia đình sống trong cảnh đoàn viên
Ôi! Cao quý, một cuộc đời thoát tục.

Đức Thế Tôn thị hiện cõi Ta bà cứu vớt chúng sanh thoát khỏi vòng trầm luân sanh tử. Ngài đã bỏ lầu son gác tía, vợ đẹp, con yêu, để tìm ra con đường sáng suốt. Nhưng Ngài không bắt buộc đệ tử Ngài phải tuân theo mệnh lệnh. Ngài đã từng tuyên bố rằng: “Tin Ta mà không hiểu Ta, tức là phỉ báng Ta” hay Ngài lại dạy: “Các con hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, hãy thắp lên ngọn đuốc Chánh pháp.” Vĩ đại thay! lòng Từ bi, Bình đẳng của Ngài có một không hai trên thế gian này.

TKN. Phước Giác