Đóng góp của nữ giới qua Nguyệt san Viên Âm

27

  Thấy được những lợi ích lớn lao trong sự đóng góp của nữ giới về mặt báo chí, trong giới hạn bài viết, người viết xin trình bày: “Đóng góp của nữ giới về mặt báo chí qua Nguyệt san Viên Âm”.

Người viết đã dựa vào Tạp chí Viên Âm, tài liệu giảng dạy của giảng sư, các nhà nghiên cứu Phật học, thêm vào đó là sự góp nhặt kiến thức thiển cận của mình để trình bày nội dung bài viết.

Khái quát về phong trào chấn hưng Phật giáo nửa đầu thế kỉ XX

Đầu thế kỉ XX, phong trào chấn hưng Phật giáo diễn ra rầm rộ tại các nước châu Á, tạo thành một làn sóng mạnh mẽ thôi thúc các nước cùng lên đường khởi động chấn hưng. Phong trào được khởi xướng đầu tiên tại Ấn Độ bởi Phật tử David Hewavitarane. Ông là người gốc Tích Lan, sau xuất gia trở thành thiền sư Dharmapala. Ông đã có công trùng tu lại Thánh tích Phật giáo, lập hội Mahabodhi Society, xuất bản các ấn phẩm Phật giáo, thành lập những trung tâm Phật học. Sau đó, nhờ sự vận động của Tiến sĩ Ambedkar, những người trong giai cấp cùng đinh của Ấn Độ đã được quy y.

Phong trào tiếp tục lan sang Trung Quốc, Tích Lan, Miến Điện, Nhật Bản… Ở Việt Nam, phong trào được khởi xướng tại miền Nam bởi Hòa thượng Khánh Hòa và Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học được ra đời, xuất bản tạp chí Từ Bi Âm vào ngày 1/3/1932.

Phong trào tiếp tục lan ra miền Trung với sự ra đời của An Nam Phật Học hội và xuất bản tạp chí Viên Âm vào 1/12/1933. Có thể nói, Hội An Nam Phật Học là cơ sở Phật học có qui mô và chất lượng đào tạo, với những chương trình áp dụng theo phương pháp Tây học mới mẻ. Tại đây cũng đã đào tạo ra những nhân tài cốt cán cho Phật giáo khi ấy và cả sau này. Hội này tập trung nhiều thành phần trí thức từ Đông học cho đến Tây học, góp phần tạo ra những cây bút chuẩn mực phục vụ cho công tác hoằng pháp bằng báo chí, kể cả Tăng và Ni.

Năm 1934, tại miền Bắc, hội Phật giáo Bắc Kỳ ra đời để cùng hưởng ứng phong trào chấn hưng cả nước. Hội cũng xuất bản Tập Kỷ Yếu số 1 vào ngày 1/5/1935, sau đó đã đổi thành tạp chí Đuốc Tuệ, cơ quan ngôn luận của Hội Phật giáo Bắc Kỳ.

Như vậy, ta thấy, điểm chung của các hội cả ba miền là đều cho ấn hành các Tạp chí Phật học. Các tạp chí đã thể hiện được lý tưởng, tiếng nói và trình độ phát triển của hội.’

Giới thiệu Tạp chí Viên Âm

Như đã đề cập, sau khi An Nam Phật Học hội ra đời năm 1932 thì một năm sau, cơ quan ngôn luận của hội đã thành lập, được sự cho phép của toàn quyền Pháp, Nghị định số 2009/ P3. Toàn soạn đặt tại số 13, đường Champeau, Huế. Khi số 1 xuất bản, trong phần I. Như thị pháp. A. Luận đàn. Hội đã cho hay như sau:

“Phật học nguyệt san ở Huế xuất bản, nêu hai chữ Viên Âm làm tôn chỉ, còn ba tạng kinh điển làm tài liệu cho ngôn luận nội dung; Nhất thiết bình luận, giảng giải thi văn trong Nguyệt san, đều thể theo ý nghĩa Chơn chánh hai chữ Viên Âm mà tuyn dương Phật pháp cho thích hợp với đời, bổ ích cho đời, thề không đem lời hung ác, nói việc hoang đàng, di hại về sau, mang lấy điều tội lỗi”.1

Trang bìa Viên Âm là hình một cái lư lớn, phần thân lư trang trí bằng nhiều họa tiết hoa sen và cánh sen. Phần giữa, phần to nhất của lư có bốn chữ Hán: Pháp giới mông huân. Trên lư là hình một con nghê đang ngẩng đầu lên, miệng thả ra những làn khói trầm kết lại thành hình cái khánh, ở giữa khánh có hai chữ Viên Âm bằng chữ Quốc ngữ không dấu. Hai bên lư (bằng với vị trí con nghê) là hai vòng tròn hoa văn, mỗi vòng tròn là chữ “Viên” và “Âm” bằng chữ Hán. Đế đỡ lư có 3 tầng, tầng trên cùng có hoa văn, tầng giữa là hàng chữ Phạn, tầng cuối là hàng chữ Hán: Phật học hội Nguyệt san. Phía dưới cùng cả là bốn chữ Quốc ngữ: Nguyệt san Phật học.

Về tổ chức và nội dung, theo Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Ban Biên tập gồm có hai chứng minh đạo sư là Hòa thượng Giác Tiên và Hòa thượng Giác Nhiên, Chánh Hội trưởng là cư sĩ Tâm Minh-Lê Đình Thám. Ngoài ra, còn có hai họa sĩ cộng tác vẽ hình Phật hoặc phong cảnh minh họa thêm cho các bài viết như họa sĩ Phi Hùng và Nguyễn Khoa Toàn2.

Về bố cục trình bày, hai số đầu tiên có 4 mục, từ số thứ ba bắt đầu có thêm mục Tin tức, như vậy tổng cộng là năm mục, như sau: 1) Quyển đầu ngữ, 2) Như thị pháp, 3) Biệt khai phương tiện, 4) Sự tích Đức Phật Thích Ca, 5) Tin tức.

Từ năm 1937, Viên Âm có đổi mới nội dung, đó là thêm vào mục Luận đàn (thuộc mục thứ hai: Như thị pháp): Ý kiến phụ nữ đối với Phật học (từ số 26) và Thanh niên học tăng (từ số 28). Mục Ý kiến phụ nữ đối với Phật học đã tạo điều kiện cho người nữ Phật giáo nói lên tiếng nói của mình, phát huy khả năng của mình trên diễn đàn Phật học mang tính qui mô cả nước, mà từ đây, chúng ta sẽ thấy những gương mặt tiêu biểu điển hình trong phong trào báo chí của nữ giới.

Tiếng nói của nữ giới trong Tạp chí Viên Âm

Ni trưởng Diệu Không

Ni trưởng sinh ra trong buổi giao thời giữa hai nền văn hóa Đông – Tây. Cha Người muốn con sẽ sang Pháp du học, nhưng chí nguyện của Người muốn khôi dựng lại nền văn hóa nước nhà đang có nguy cơ bị đổ xô trước sự xâm thực của nền văn hóa ngoại lai. Do vậy, Người đã nhiều phen xin gia đình cho phép được xuất gia để thực hành nguyện lớn. Song, cha mẹ không bao giờ đồng ý cho Người gửi thân nơi cửa Phật. Năm 27 tuổi, người mới được xuất gia và thọ giới cụ túc tại đại Giới đàn Thuyền Tôn do Hòa thượng Giác Nhiên làm Hòa thượng đàn đầu. Từ đó, người đóng góp tích cực vào công tác hoằng pháp độ sinh như xây dựng trường Phật học và thực hiện các công tác từ thiện xã hội. Trong lĩnh vực văn hóa, nhiều sáng tác có giá trị tu tập và giáo dục của Người dành cho phụ nữ.

Theo thống kê của người viết, trong nguyệt san Viên Âm, bài viết mang bút danh Diệu Không có 9 bài. Bài đầu tiên bắt đầu từ số báo 14, phát hành năm 1935, lúc ấy Ni trưởng được 30 tuổi, cái tuổi không còn nhỏ nhưng thật sự cũng chưa phải là lớn trên con đường đời và đạo. Nhưng qua tác phẩm thơ Khuyên người học đạo, với những vần thơ mạnh mẽ, Ni trưởng đã thể hiện sự dõng mãnh tinh tấn của một vị Ni hiếm có. Tâm thế vững vàng ấy chẳng khác gì một vị Tăng3.

Điều đó còn được thể hiện qua cách Người hướng dẫn nữ giới hãy đến với Phật pháp để làm mới chính mình, xây dựng cuộc sống tại tự và hiện đại trong một xã hội với nhiều giá trị lẫn lộn qua bài Ý kiến phái nữ đối với Phật học, được đăng trên số 15. Đây là một bài văn xuôi nhưng nó như một lời kêu gọi các chị em hãy hiểu đạo Phật nhiều hơn, hãy rời xa những hủ tục không còn phù hợp với buổi giao thời. Đạo Phật sẽ giúp chị em vươn ra xã hội, khẳng định mình, lấy lại tự chủ của mình mà từ lâu, do ảnh hưởng của đạo Khổng Mạnh mà bị vùi lấp. Đạo Phật là đạo sáng suốt, giác tỉnh chị em ngay trong đời sống hàng ngày để chị em làm chủ chính mình, làm chủ hạnh phúc của mình, từ đó, từ bỏ những mê tín và cầu nguyện viển vông: “Cần phải tham học cho biết đạo lý chơn chánh, bàn đi luận lại, suy cùng nghĩ tột, bỏ những điều mê tín, bỏ những lối dị đoan, tự nhận con đường tấn hóa thiết thiệt của tâm tánh, rồi mới có thể cải cách những mê lầm, trau dồi tánh thanh tịnh và về sau mới có thể dứt sạch những vọng chấp và hoàn toàn giác ngộ, hoàn toàn giác ngộ tức là thành Phật4”.

Đến số báo 18, Ni trưởng lại có bài giải thích Tu để làm gì, giảng giải rõ cái cần của người tu, về hình thức và nội dung. Về hình thức, con người thường sa vào nghiện ngập vấn đề chăm sóc thân thể, không biết nó là vô thường, không có lợi ích gì cho mục đích giải thoát. Về tinh thần, có những người làm việc phục vụ nhu cầu tinh thần cho quần chúng như viết sách, thơ, phát minh lí thuyết… nhưng mọi thứ đều chịu sự biến động và tàn phá của thời gian, nên chúng cũng không trường tồn. Cho nên, người tu có trí tuệ phải tu theo cái thường còn. Ni trưởng khẳng định đó là hạnh nguyện cứu chúng sanh ra khỏi bể khổ, mà cục diện hiện tại là con người đang đắm chìm vào lòng tham của chiến tranh, hận thù.
Số 21, chúng ta thấy sự đóng góp của Ni trưởng trong lĩnh vực thi phú. Ni trưởng cùng tác giả X.X.X họa lại bài thơ Đọc báo Viên Âm của cụ Thúc Giạ. Cũng trong số này, ba bài thơ Giấc mộng đời, Tức cảnh, Xem hoa đều là của Ni trưởng sáng tác, thể hiện qua những câu thơ đầy chất trữ tình nhưng đằng sau nó là chân lí Phật giáo để người đọc chiêm nghiệm.
Đến số 25, ở trang 58-59, ta bắt gặp bốn bài thơ với bút kí là “K.” là: Họa, Bóng trăng, Vịnh trăng, Hỏi trăng. Người viết cho rằng “K.” cũng chính là Diệu Không. Lí do, cũng vì lời lẽ văn chương tiêu sái, giọng thơ hùng hồn mạnh mẽ, thể hiện được cái “chất” của bậc xuất gia có tâm đạo rất lớn, mà đương thời, Ni trưởng là bậc Ni lưu tiêu biểu trong hàng Ni chúng. Chúng ta có thể đơn cử bài Bóng trăng như5.

Số 27, bút danh D.K cũng sáng tác bài Một đạo cớ sao chia nhiều hội và Mừng ngài Tự Giác cư sĩ, cũng đã thể hiện việc trăn trở của một người có tâm với đạo pháp, muốn các hội Phật giáo phải được thống nhất để xây dựng một thể thức hoạt động chung. Chỗ này, phong cách của Ni trưởng Diệu Không thật sự khó có thể lẫn lộn với người nào khác.

Bút danh D.K lại xuất hiện trong một bài ở số 28 với tiêu đề Phật pháp đối với thương nghiệp. Bài này thật sự đã giải quyết vấn đề mà người thời đó cho Phật giáo là yếm thế, là không hoạt động, là ăn không ngồi rồi. Trong khi đó, tác giả D.K khẳng định Phật pháp dạy người rất kĩ trong việc buôn bán để trở thành người Phật tử chân chính, không gian dối hòng sinh lợi về mình, để người khác bị thiệt hại. Chẳng những vậy, người chủ thương nghiệp còn cần phải dành lợi nhuận có được vào các việc làm phước thiện để tích trữ phước đức về sau, như trong bài này đã viết: “Các người đó thấu hiểu sự buôn may bán đắt là do phước báu để dành, nay đặng thời may, họ không quên người cực khổ mà bán rẻ cho kẻ nghèo, hoặc cung cấp giúp giùm cơ quan duy trì đạo đức phước thiện6”.

Bài viết cuối của Ni trưởng Diệu Không trong Báo Viên Âm là bài Phép tịnh tâm của người mới tu được đăng trong số 33. Bài này, Ni trưởng chỉ ra các loại định, loại định nào là cần thiết cho người mới bước vào đạo, làm thềm thang vững chắc để hành giả định tâm trước những tác động của ngoại cảnh.

Như vậy, Ni trưởng Diệu Không đã đóng góp 17 bài viết bao gồm văn xuôi, thơ và bài dịch, là tác giả nữ giới đóng góp nhiều nhất trong Báo Viên Âm. Với kiến thức thế học cao và sự uyên thâm Phật pháp, quan trọng hơn cả là tấm lòng ưu tư và nhiệt tâm xây dựng đạo pháp, những bài viết của Ni trưởng đều có giá trị học thuật cao, góp phần vào việc định hình tư tưởng Phật học cho quần chúng đương thời, đặc biệt là nữ giới. Cho nên, những bài viết của Ni trưởng Diệu Không thật sự là hồi chuông hiệu triệu hàng nữ giới cùng ngồi lại động viên nhau và tự tin cùng nhau đến gần với đạo pháp, đến gần với cuộc đời.

Ni trưởng Diệu Viên

Bài đầu tiên của Ni trưởng đăng trên Báo Viên Âm số 12, đây là Bài giảng của Sư bà Thích Diệu Viên ngày mùng 8 tháng 4 tại chùa Diệu Đế. Ni trưởng cũng là vị Ni đầu tiên thực hành thuyết giảng nên bà cảm thấy rất lo sợ, nhưng vì được các bậc tiền bối động viên và khuyên nhủ nên Ni trưởng đã hoàn thành bổn phận của mình qua bài giảng về sự cần thiết của phái nữ đối với sự tu học. Ni trưởng đã đưa ra những vấn đề vô cùng thực tế để người nữ lưu tâm như: Phụ nữ đa sầu đa cảm; Phụ nữ giàu lòng từ mẫn đối với đạo; Phụ nữ có trách nhiệm trọng yếu về gia đình giáo dục. Người nữ cần lui về phương pháp niệm Phật đầy đủ sự và lý để thăng hoa trong đời sống gia đình.

Bài giảng tiếp theo của Ni trưởng cũng được đăng trên số 23 với nhan đề Phật học của phái nữ. Ni trưởng đã nhìn ra những yếu kém trong các phương pháp đến với đạo Phật của người nữ, phần nhiều họ chỉ thiên về cầu cúng và mê tín, người Phật học chân chánh cần quay về đường lành, mà đối với người nữ thì phương pháp niệm Phật là phù hợp nhất, khi mà Phật học trong họ còn quá mỏng và yếu. Từ đó, Ni trưởng đưa ra những phương cách niệm Phật cụ thể để người tu dễ nắm bắt.

Như vậy, Ni trưởng Diệu Viên có hai bài được đăng trên Báo Viên Âm nhưng tất cả đều là bài giảng tại hai đạo tràng khác nhau. Vậy, ta có thể cho rằng Ni trưởng chính là giảng sư Ni của Hội An Nam Phật học lúc bấy giờ. Hai bài được đăng trên đây có thể là do Ban Thư kí đã ghi lại những lời giảng của Ni trưởng từ văn nói sang văn viết và được Ni trưởng hiệu đính lại trước khi đăng báo.

Ni sư Huệ Tâm

Theo Nguyễn Đại Đồng, Ni sư Huệ Tâm, tên thật là Nguyễn Thị Khuê (1911-1936), quê ở Hưng Yên, từng theo học chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Năm mười sáu tuổi, buồn vì những biến động trong gia đình, bà xuất gia theo Phật vì tin tưởng nơi giáo pháp Phật Đà là phương thuốc cứu đời. Bà thọ đại giới năm mười chín tuổi với Hòa thượng Thích Doãn Hài ở chùa Tế Cát, Hà Nam.

Bài viết đầu tiên của Ni sư Huệ Tâm xuất hiện trong mục Diễn đàn số 13, được Tòa soạn vô cùng khen ngợi và giới thiệu bà là một vị Ni “biện tài vô ngại”. Bài đăng này có tựa đề: Chúng ta phải tín ngưỡng Phật giáo, tín ngưỡng Phật giáo không phải là mê tín. Ni sư đã đưa ra những cái sai lầm của người theo Phật, đó là một vấn đề đang nhức nhối đối với Phật giáo thời bấy giờ, Ni sư khẳng định:

“(…) Còn một phần thì lại quá ư mê tín, cứ lầm tưởng rằng Phật pháp cũng là một tôn giáo ỷ lại thần quyền nên chỉ thiên về cúng tế, thờ phượng, để hễ có việc gì quan hệ đến tính mạng, tài sản thì cầu nguyện, cho tai qua nạn khỏi. Không những số tín đồ lầm tưởng như vậy mà thôi, đến ngay trong Tăng chúng cũng có người mê tín như thế nữa7”.

Có thể nói, Ni sư Huệ Tâm là người Ni đầu tiên đề xướng Thống nhất Phật giáo Việt Nam, và để làm được điều đó, theo Ni sư, các hội Phật học cần giải quyết cấp thiết bốn lĩnh vực quan trọng: Thứ nhất là giảng biệt Phật pháp và ngoại đạo; Thứ hai là định rõ giới tướng và phẩm cách của các bậc xuất gia; Thứ ba là định rõ giới tướng và bổn phận của các bậc tại gia; Cuối cùng, kiểm soát những cơ quan tuyên truyền Phật giáo8. Các hội cần chọn một trú xứ là một Đại Tùng Lâm để họp hội ba năm hoặc mỗi năm một lần để thảo luận về các công tác và chương trình hoằng pháp cho phù hợp với thời đại đang luôn thay đổi và chuyển biến. Có thể cho rằng, đây là một tư tưởng rất mới mẻ thời bấy giờ được trình bày một cách cặn kẽ trên phương tiện truyền thông đại chúng, đó là một bài tham khảo để ứng dụng rất tốt cho vấn đề hiệp nhất các hội sau này.

Các vị Ni khác

Trong cuốn Kỷ yếu hội thảo Nữ giới với lĩnh vực báo chí, bài tham luận của tác giả Nguyễn Đại Đồng cho rằng: “Nữ giới xuất hiện đầu tiên trên Báo Viên Âm là Ni sư Thích Diệu Viên9… ”. Thật ra, tác giả nữ đầu tiên xuất hiện là một vị Ni có bút danh là Thích Nữ, hiện người viết chưa rõ danh tánh của vị Ni này nhưng qua văn phong, đây là một cây bút có tài đã mang đến cho Báo Viên Âm một sắc thái mới, với sự đóng góp của hai bài viết. Bài viết đầu tiên xuất hiện trong số báo 10 với bài thơ Mừng Viên Âm nguyệt san, như một lời ca ngợi một nền Phật giáo cứu khổ và sự ra đời của Viên Âm là một kênh hoằng pháp chính thống với thông điệp “Viên lý – Âm thinh”. Qua đây, tác giả khuyên mọi người có thể thông qua Viên Âm mà hiểu đạo Phật nhiều hơn. Bài thứ hai là bài được đăng trên báo số 17 với nhan đề: Một bức thư dài, xin hỏi ý kiến chị em Ni lưu. Tác giả đã nêu lên một cách thực tế thực trạng của Ni chúng, họ chịu quá nhiều thua thiệt so với đời sống của chư Tăng về mọi mặt, từ phương diện cuộc sống đến sinh hoạt học hành. Mọi chỉ tiêu hội đưa ra đều là để ưu tiên cho chư Tăng, còn phần chư Ni thì để “tính sau”. Lời lẽ trong đây đã thể hiện sự can đảm của một người Ni, dám nói ra một điều mà rất nhiều vị Ni khác không dám nói hoặc chỉ biết an phận, cam chịu trở thành những bà vãi nơi nhà trù. Ni chúng cần đoàn kết thể hiện khả năng của mình, cũng như chư Tăng, có thể ghé vai gánh vác phận sự Phật pháp.

Vị Ni tiếp theo nối tiếp tư tưởng của tác giả Thích Nữ, có pháp danh là Diệu Phước. Ở số 17, bài Phụ nữ với Phật pháp của tác giả Diệu Phước Bắc Liêu, ở số 18, bài Phật giáo không mâu thuẫn với cuộc diện ngày nay của tác giả Diệu Phước, người viết cho rằng đây đều là của cùng một tác giả. Vẫn là tiếp nối tâm nguyện muốn hướng dẫn Nữ giới Phật giáo bằng phương cách nào để dấn thân vào xã hội, Diệu Phước cho rằng chị em thời nay có trí dục mà không có đức dục: “Cái đức dục của chị em trước kia bị ghép vào cái chế độ gia đình, do nơi luân lí của Khổng Mạnh. Ngày nay cái luân lí ấy nó bất hạp với chị em nữa, chị em quyết đánh đổ nó, tránh xa xó bếp xó buồng, ra giao tiếp với xã hội, chia vai gánh vác với bọn nam tử10”.

Ngoài ra, trong giới Ni chúng, vẫn còn có sự xuất hiện của hai vị Ni trẻ, đó là Sa di Ni Diệu Tu và Ni cô Tân Nguyệt với hai bài viết lần lượt là Đôi lời thỏ thẻ và Ảnh hưởng của Phật giáo trong gia đình. Trong bài thứ nhất, Diệu Tu cũng đã dám nói lên một hiện trạng của tình hình báo chí lúc bấy giờ bằng những lời rất thẳng thắn: Các ngài cho rằng đang vận động cải tổ Phật pháp nhưng lại mượn báo chí để tranh luận, mắng nhiếc nhau, đó không phải là việc nên làm của chúng ta. Thay vì như vậy, tại sao chúng ta không phê phán những tà sư, những người phỉ báng đạo?

Các nữ cư sĩ

Theo thống kê của người viết, tổng cộng có mười ba nữ cư sĩ tham gia góp bài, đó là:
Cư sĩ Diệu Hồng với bài Phật giáo với chủ nghĩa nhân sanh, Diệu Hòa với bài Kính bạch Ni cô Nguyệt Ảnh, Đạm Phương với Quán tâm tịnh thất ngẫu tác (với Ni trưởng Diệu Không), Trương Thị Bích Thuy (Tâm Diệu) với bài Xuất gia, Mộng Liên với bài Một thời tiếp chuyện, Nguyễn Thúy Lung với bài Trì trai niệm Phật, Hà Thị Hoài với Đêm đông ly biệt, Tôn Nữ Thị Nhung với Người mẹ hiền (dịch phẩm), Trúc Diệp với Mùa cứu khổ, Huyền Dung với Sáng tạo nhân gian Tịnh độ, Tâm Liên với Thưởng phạt, Hoàng Thị Kim Cúc với Người chị trưởng, Thanh Tuyền với Xá Lợi Phật Tổ quang lâm đến Sài Gòn.

Nhìn chung, các bài viết đều xuất phát từ những thành phần nữ Phật tử trí thức có nhiệt thành phụng sự đạo, nghiên cứu và hành trì lời Phật dạy một cách nghiêm túc rất đáng được trân trọng. Trong bài Phật giáo với nhân sanh, tác giả Diệu Hồng cho rằng cống hiến của Phật giáo với cuộc đời chính là lòng từ bi và bác ái, trí tuệ và yêu thương mà đạo Phật dạy con người; Hay theo cách giải thích của tác giả Mộng Liên, Phật pháp là bất định pháp, luôn cải cách cho phù hợp với căn cơ của chúng sanh, cho nên, mỗi người có tâm nguyện hoằng pháp thì nên học cho thực tế, cho sâu sắc, không nên học như con vẹt mà tác giả Diệu Hòa đã viết trong thư Kính bạch Ni cô Nguyệt Ảnh; Và những Pháp môn mà người hành giả tu trì qua cách Trì trai niệm Phật đều là những trợ duyên đắc lực để họ có thể tiến xa trên con đường đạo. Từ đó, con người có thể sống bình an, chết nhẹ nhàng như một đạo hữu trong câu chuyện Đêm đông ly biệt của tác giả Hà Thị Hoài. Nhưng thực chất, mỗi người đều có thể sáng tạo Nhân gian Tịnh độ trong đời sao cho khế hợp với thời đại để sống ung dung tự tại giữa những biến động thế thường.

Đánh giá vai trò của nữ giới trong tạp chí Viên Âm

Về số lượng, tổng cộng có 20 tác giả chiếm 38 bài viết. Về hình thức nghệ thuật, có nhiều thể loại được trình bày, thể hiện tài năng đa dạng của các tác giả, bao gồm văn xuôi, thơ, bài giảng, lời bình, lời kêu gọi, đối thoại, vấn đáp, dịch thuật, thư, truyện ngắn, bài tường thuật… Về nội dung, nổi bật và phổ biến nhất trong các bài viết vẫn là tiếng nói của người nữ đối với đạo trước bối cảnh xã hội nhiều cam go, và người nữ cần rũ bỏ lớp áo cũ kĩ của những thể chế độc quyền xa xưa mà thay da đổi thịt, đến với Phật pháp bằng trái tim mới mẻ, đầy nhiệt thành và tin tưởng. Qua đó, các nhà lãnh đạo Phật giáo cũng cần có cái nhìn bình đẳng giữa Tăng và Ni, tạo điều kiện cho hai bên Nhị bộ cùng đóng góp cho sự nghiệp chung, không nên “bên trọng bên khinh”.


Đó là vấn đề ngoại tại, còn từ trong nội sinh của người nữ, họ cần phải tự tạo cho mình một chất xúc tác mạnh mẽ, một đòn bẩy có khả năng nhấc được khối đá nghìn cân đã muôn đời làm ì ạch tiến trình vươn lên của nữ giới. Những cây bút nặng ký tiêu biểu cho phong trào nữ giới như Ni trưởng Diệu Không, Huệ Tâm, Diệu Viên và các vị Ni trẻ đã thật sự là những ngọn cờ tiên phong cho phong trào kêu gọi nữ giới đã đến lúc “tháo cũi sổ lồng”, thay đổi chính mình. Người viết cho rằng điều này rất quan trọng, nó phải là một lời hiệu triệu cho những “cuộc cách mạng nội tâm”, phải thay đổi chính mình trước mới mong thay đổi cách nhìn của người khác về mình. Những người nữ hãy đứng lên đi, hãy chứng tỏ khả năng của mình đi, hãy học hỏi Phật pháp đi, hãy làm chủ chính mình đi rồi quí vị sẽ thay đổi được cuộc đời mình! Các bài viết rất nhiều lần nhắc nhở về sự nhu nhược của người nữ, điều này chúng ta cần phải lưu tâm nhiều, bởi người nữ thực chất tâm hồn dễ vướng bận. Cho nên, vấn đề ôn cố tri tân là để một lần nữa khẳng định vai trò của Nữ giới Phật giáo quả thật là không nhỏ, cần được nhìn nhận và phát huy. Ngày nay, giữa một thời đại nghĩ và sống, khi nhiều giá trị khác đang cùng lên ngôi để tranh giành ảnh hưởng thì những giá trị của tiền nhân cần phải được nhìn nhận lại, đánh giá lại, đó không phải là bài học của ngày hôm qua, mà nó luôn mới, để Ni giới ngày nay giữ gìn và phát huy.

An Qui


  1. Viên Âm (1933), “Luận đàn”, Nguyệt san Viên Âm, số 1, tr.3.
  2. Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm (2006), Lịch sử Phật giáo xứ Huế, TP.HCM, NXB: Văn hóa Sài Gòn, tr. 400.
  3. Diệu Không nữ sĩ (1935), Thi Lâm, Nguyệt san Viên Âm, số 14, tr.55.
  4. Diệu Không nữ sĩ (1935), Chị em thanh niên có nên học Phật không, Nguyệt san Viên Âm, số 15, tr. 41.
  5. K. (1937), Bóng trăng, Nguyệt san Viên Âm, số 25, tr. 58.
  6. D.K (1937), Phật pháp đối với thương nghiệp, Nguyệt san Viên Âm, số 28, tr.17.
  7. Tì Kheo Ni Huệ Tâm (1935), Chúng ta phải nên tín ngưỡng Phật pháp, tín ngưỡng Phật pháp không phải là mê tín, Nguyệt san Viên Âm, số 13, tr. 21.
  8. Tì Kheo Ni Huệ Tâm (1935), Các Hội Phật học nên hiệp nhất, Nguyệt san Viên Âm, số 17, tr.4-11.
  9. Nguyễn Đại Đồng, Nữ giới báo chí Phật giáo giai đoạn 1930-1945, Kỷ yếu hội thảo Nữ giới Phật giáo với lĩnh vực báo chí, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, Trung tâm NC Nữ giới Phật giáo, tr. 103.
  10. Diệu Phước Bắc Liêu (1935), Phụ nữ với Phật pháp, Nguyệt san Viên Âm, số 17, tr. 23.