Chủ Nhật, 23 Tháng Một 2022
Truyện ngắn Đổi đời

Đổi đời

  Trời mưa lâm râm. Những cơn mưa tháng Bảy dễ gợi buồn. Ra khỏi chiếc xe cà tàng, Quang uể oải bước lên cầu thang, chàng tra ổ khóa, mở vội cửa phòng. Giờ này vợ chàng đã đi làm, con gái đã đi học. Căn phòng vắng vẻ như sẵn sàng cho giấc ngủ sau ca đêm.
Quang trằn trọc mãi chưa ngủ được. Mùi ẩm mốc làm chàng có cảm giác ớn lạnh và khó thở. Cái phòng này cũ quá, cây ván hình như luôn ẩm ướt, trần nhà lấm tấm những vết đen, và vàng ố. Vậy mà cái “ấp” một phòng ngủ này, vợ chồng Quang phải trả một tháng 500 đô la, hơn phân nữa số lương của chàng, nghĩ cũng tức. Thật ra, cũng khó tìm nơi nào rẻ hơn nữa, đất Cali là đất vàng nên nhà phố mắc kinh!

Phòng khách được ngăn ra kê cái giường nhỏ làm chỗ ngủ cho đứa con gái mười chín tuổi. Quang tội nghiệp con quá! Ở Việt Nam nó nôn nao háo hức chờ ngày đi Mỹ, chừng sang đây thì vỡ mộng.

Thấy đói, Quang ngồi dậy lấy một gói mì ăn liền. Cái bếp “microwave” thật tiện dụng, chỉ cần ba phút thôi, chàng có một tô mì nóng. Quang hì hụp húp những muỗng nước lèo cay cay, ăn thật ngon miệng. Tự nhiên, chàng thấy cuộc đời quá ngộ nghĩnh, cứ luôn biến hóa đổi thay như tuồng hát và tâm lý con người cũng theo vào đó mà thay thay đổi đổi. Mấy mươi năm sống ở Việt Nam, có bao giờ Quang thèm đụng đến mấy gói mì ăn liền này đâu! Bây giờ ngày nào cũng hầu như ăn mà lại thấy ngon vô cùng.

Trước năm 1975, Quang sống phong lưu như một công tử, vì thời đó mẹ chàng làm ăn khá giả: Vừa là chủ hãng nước đá, vừa chủ nhà tắm hơi. Chàng mới đậu Tú Tài, ghi danh Đại học Luật khoa là bà già đã cho chiếc xe Renault. Ngày ra trường, chàng cưới vợ, được tặng chiếc Peugeut 505 đời mới nhất. Còn nói gì chuyện ăn uống: nào tiệc lớn tiệc nhỏ tại nhà, nào cao lầu Chợ Lớn, nào nhà hàng Tây, nhà hàng nổi… ôi thôi… đủ thứ; còn mì Hải Ký nổi tiếng ở Lacaze ít khi nào thèm ghé đến.

Sau năm 1975, mẹ chàng làm nghề buôn bán tiền đô. Quang thầm phục mẹ, thời nào bà cũng kiếm ra tiền, nhờ vậy vợ chồng chàng cũng được thoải mái do sự chu cấp của bà. Còn chị chàng theo chồng hải quân di tản sang Mỹ từ 30/4. Sau đó, mẹ và vợ chồng chàng đi theo diện ODP.

Gặp lại nhau sau mười năm cách biệt, Quang thấy chị mình nhiều thay đổi: chị ít nói hơn xưa, mà nói ra là có tính toán tiền nong, sòng phẳng như Mỹ.

Ngay ngày thứ nhì trên xứ lạ, lúc vợ chồng chàng còn lừ đừ vì những chuyến bay dài, vì giờ giấc thay đổi, vợ chồng chị Hai đã mời ra phòng khách nói chuyện:
– Bổn phận tôi đối với gia đình coi như đã xong, từ đây cậu hãy tự lo liệu, tìm việc làm và lo nơi ăn chốn ở. Buổi đầu đừng kén chọn, hễ có người mướn thì cứ làm, rồi sau đó từ từ đổi job thích hợp hơn.
Ông anh rể thấy vợ thẳng thừng quá, vội đỡ lời:
– Ở đây nhà nào cũng như cái hộp nên khó sống theo lối đại gia đình. Chị Hai nói vậy không có nghĩa là bắt cậu phải ra riêng liền. Ở Cali, phải có job người ta mới cho mướn nhà.
Rồi anh tiếp:
– Xứ này người nào cũng phải tự lực cánh sinh, chẳng ai có khả năng lo cho ai được!
Quang thừa thông minh để hiểu rằng bà chị và ông anh rể đã đánh giá mình quá thấp vì xưa nay ỷ mẹ giàu cứ mãi ăn bám.
Vợ chàng, Xuân, bây giờ mới lên tiếng hỏi:
– Anh chị thấy tụi em có thể xin làm nghề gì?
Chị Hai sốt sắng:
– Dân Việt Nam mình đa số làm ở hãng điện tử theo lối dây chuyền. Hai em qua nhằm lúc này kể như hên vì hãng nào cũng cần người liền liền. Họ thích mướn người Việt lắm vì dân mình khéo tay. Hai vợ chồng cùng đi làm thì có thể lo cho cháu Hằng đi học dễ dàng. Hơn nữa, con nhà nghèo vô đại học được trợ cấp đủ thứ, nếu không đua đòi quần áo thì cháu sẽ dư tiền.

Ba tiếng “con nhà nghèo” xoáy vào tim hai vợ chồng Quang. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời, họ bị xếp vào loại này. Ở Việt Nam, Xuân là giáo sư Anh văn, chồng là Luật sư tập sự, hai bên cha mẹ đều khá giả, bù đắp cho hai người đủ thứ nên dù không kiếm ra khá tiền, cuộc sống của họ cũng rất phong lưu. Mười năm sau này, Xuân vẫn còn làm ra tiền nhờ dạy tiếng Anh cho các nhóm tại tư gia và Quang thì chở bà già chạy áp phe chợ đen chợ đỏ, lãnh lương cũng bộn bàng. Nếu không vì tương lai của con, chắc vợ chồng Quang cũng không đi Mỹ làm chi.

Thấy hai người ngồi im lặng, chị Hai an ủi:
– Bước đầu ai cũng gặp khó khăn. Tụi này hồi đó còn khổ hơn hai em nhiều vì không có ai dẫn dắt nhưng từ từ thì đâu cũng vào đấy. Phần mẹ, tụi này có thể lo được, cậu cứ an tâm.
Quang tự hỏi không biết anh chỉ thương bà già hay biết bả còn của chìm của nổi nên lãnh phần nuôi bả, vừa được tiếng, vừa được miếng?

Trước khi đi mẹ chàng chuyển qua đây 7000 đô gọi là phụ tiền máy bay và định còn dư sẽ mua cho Quang chiếc xe để đi làm. Bà còn căn phố lầu 3 tầng có người trả 200 cây, bà không chịu bán vì không biết qua Mỹ sống có thoải mái chăng? Bà ủy quyền cho người cháu kêu bằng dì đứng tên, phòng khi trở về còn sẵn cơ ngơi. Ngoài ra, bà còn gởi khá nhiều vàng và tiền đô cho người cháu kêu bằng cô, dặn mỗi tháng chuyển sang Mỹ cho bà 500 để tiêu dùng.

Quang cũng mừng cho mẹ, vì còn nhờ tiền, bà sẽ được đối đãi tốt đẹp và trong bước đầu, chàng không phải bận tâm lo cho bà.

Quang ăn xong tô mì cảm thấy tỉnh người, chàng lục đục đi pha trà. Những ngày ẩm ướt như hôm nay, có được ly trà ướp lài nóng hổi thật không còn gì bằng.

Trong lúc chờ đợi Quang đưa mắt nhìn khắp phòng: tất cả đồ đạc từ bàn ăn tới máy nhạc, tivi và thậm chí mấy bộ giường nệm đều được rinh về với giá rẻ mạt từ những “garage sale”. Chỉ có kệ thờ Phật là do tự tay chàng đóng và sơn. Bình hoa huệ làm bằng lụa trắng và dĩa trái cây dưới bức ảnh Quán Thế Âm là hình ảnh tươi mát nhất trong nhà.

Con gái chàng ao ước có cái máy cassette và CD hiệu Sony, chàng hứa cả năm nay rồi mà cứ đổ thừa “tại nó chưa sale, còn mắc quá”, nên cứ phải xài hoài cái máy “cổ lỗ sĩ” này, âm thanh rè rè như ngỗng kêu.

Thật ra, nếu mọi sự đều êm đẹp như dự tính thì cũng không đến nỗi nào. Hai vợ chồng làm assembly, con đi học được làm work study, nếu không xài ngoài dự trù thì mỗi tháng cũng dư được mấy trăm và đến nay, trong quỹ tiết kiệm ít ra cũng dư được vài ngàn.

Nhưng oái oăm thay! Vợ chồng người em cô cậu của chàng ở Việt Nam, người giữ tiền cho chàng, sau 6 tháng gửi tiền đều đặn cho bà với những báo cáo sổ sách rõ ràng, đã đánh fax qua báo tin là nhà bị cướp sạch sành sanh, có báo chí loan tin và công an điều tra đàng hoàng. Dù tin hay không, sự thật có nghĩa là từ đây, mẹ chàng cạn nguồn tiếp tế. Thật là cái tin sét đánh cho mọi người trong gia đình.

Mẹ chàng, người đã quen sống thoải mái trên bạc tiền, bà tiêu pha không cần tính toán, một tháng 500 chỉ vừa đủ cho bà xài vặt. Nhà ở gần chợ của người Việt, bà có thể đi bộ sang đấy ăn quà vào mỗi buổi trưa rồi mua đủ thứ đem về nhà: khi thịt quay, xá xíu, lúc chả lụa, nem tươi, bánh trái… ôi thôi đủ thứ làm cô cháu ngoại ở chung nhà khoái chí, tha hồ vòi vĩnh ô mai, cóc, ổi, xoài… Cuối tuần, nếu bà không bày ra nấu nướng các món ăn Việt Nam (mà mới nghe tên đã bắt thèm) thì cô cháu ngoại xung phong chở bà đi shopping. Bà lớn tuổi rồi mà vẫn quen trang điểm, xài nước hoa và sắm sửa quần áo. Vóc dáng bà cao lớn, mập mạp nên áo quần bên Mỹ này rất vừa vặn với bà. Thích món nào là bà mua món nấy, không cần chú ý đến giá tiền. Vợ chàng vốn tiện tặn, thấy bà xài như vậy phát ngán; mặc dù đó là tiền của bà:
– Mẹ mới mua bộ đồ 120 đô đó anh, đẹp thì đẹp thiệt nhưng mắc quá! Nếu không gấp, đợi vài tháng nữa họ hạ xuống còn nửa giá cũng đỡ.
Quang nghe vợ nói hữu lý, có lần về thăm mẹ anh lựa lời nói xa gần:
– Ở Mỹ này nếu mình biết chờ thì mua món gì cũng rẻ hơn giá lúc hàng mới ra.
Mẹ Quang nhạy bén lắm, bà hiểu ý Quang ngay. Bà cười, nói nửa đùa nửa thật:
– Tụi bây còn có thì giờ chờ, già như tao muốn cái gì cứ sắm cái đó, chờ tới lúc đại hạ giá thì đã xuống lỗ rồi!

Có lẽ vì quan niệm ấy mà từ ngày sang Mỹ bà sống hưởng thụ, xa hoa. Nhất là khi gặp lại đám bạn buôn bán hột xoàn, đô la ngày trước, bà nào cũng tỏ ra mình còn phong độ giàu sang.

Sang Mỹ, có lẽ ai cũng thay đổi không nhiều thì ít, một là để phù hợp với nếp sống bên này, hai là vì những tiện nghi vật chất của nó quá quyến rũ, dễ dàng quá. Chỉ cần “cày” thêm một ngày thứ bảy lấy tiền đó mua trả góp thì món chi cũng sắm được, nên cứ thế mà thi nhau đua đòi, mua sắm. Người mắc nợ được xem là công dân tốt. Chị Hai của Quang là một điển hình. Nhà chị cái gì cũng có. Nhiều món sắm để làm kiểng, chẳng bao giờ đụng tới: piano ở phòng khách, máy tập thể dục ở phòng ngủ, máy xoa bóp, máy hát, máy truyền hình, quay phim… Nhà nhỏ, đồ đạc lại quá nhiều nên trông chật cứng, chẳng những không mỹ thuật mà Quang còn có cảm tưởng mọi người không có đủ không khí để thở. Nghe nói mấy năm sau này, chỉ quay qua sắm hột xoàn trả góp. Hễ trả xong món này thì tha về món khác, ôi thôi đủ bộ, kiểu… Bởi vậy thứ bảy nào không được làm thêm giờ thì than trời như bộng. Bà già vốn sành tâm lý và thích sòng phẳng nên tặng chị trước một năm tiền phòng, chị cười híp cả mắt, rung rinh hai gò má nung núc mỡ.

Ở Cali mà mua được nhà là một điều hãnh diện. Anh rể của Quang làm thợ hàn lâu năm lên cán sự, cảm thấy thỏa mãn lắm. Anh là người chăm chỉ, cuối tuần ở nhà lo sân vườn, săn sóc nhà cửa nên ngôi nhà của anh chị sạch như mới dù đã hơn 20 năm xây cất rồi. Anh kĩ lưỡng, sạch sẽ quá nên mỗi lần đến nhà, Quang ngại. Thấy nhà bếp của anh chị sạch bóng, mà bà già hay bày ra nấu món nọ món kia, Quang nhắc chừng mẹ:
– Ảnh chỉ ăn cơm tháng nên nhà bếp sạch trơn mẹ nhỉ?
– Ờ, tụi nó kỹ lưỡng lắm mà tánh tao hay bày, nhưng thấy vợ chồng nó cũng không phiền.
Quang lặng thinh, có tiền thì ở đâu cũng thoải mái dễ dàng thôi.
Càng trải đời và có cuộc sống trên đất Mỹ, Quang mới thấy rõ thế lực của đồng tiền, chả trách gì bao nhiêu người đảo điên vì nó. Quang thấy cuộc sống ở đây sao mà tẻ nhạt! Ai nấy hùng hục đi cày, người 2 job, người 3 job, chẳng thấy được mặt trời, rốt cuộc kiếm tiền chỉ để trả nợ hoặc là để vào nhà băng đếm số mà chơi.

Tuy nhiên, Quang vẫn còn có được niềm vui vì vợ con chàng vẫn dễ thương. Xuân sẵn giỏi Anh văn, ban ngày đi làm, ban đêm học ngành điện toán, hy vọng sau 4, 5 năm lấy được mảnh bằng đại học, cuộc đời sẽ khá hơn nên tất cả thì giờ Xuân dành cho sách vở. Dù mệt nhọc với sở làm, với việc học, nàng không hề than thở, lúc nào cũng giữ nụ cười khích lệ an ủi chồng. Hằng, con gái chàng, hồi ở Việt Nam cũng thuộc loại sắm sửa ăn diện nhưng chẳng hiểu sao khi sang đây, Hằng không thiết tha gì đến phấn son, quần áo. Cô bé ăn mặc đơn giản nhưng tươm tất. Hằng chăm học lắm. Cô có nhóm bạn học vốn là sinh viên Phật tử. Nhóm trẻ này sống vui tươi lành mạnh và hữu ích, họ đã lôi cuốn Hằng vào những sinh hoạt Phật sự: nhận dạy lớp tiếng việt cho các trẻ em, học giáo lý, tụng kinh, tọa thiền, làm công quả…

Nghĩ đến vợ con, Quang cảm thấy vui, những lo nghĩ ưu phiền, những chán chường bực dọc tạm lắng xuống. Quang nằm yên nghe giấc ngủ đến từ từ theo tiếng mưa rơi càng lúc càng nặng hạt. Khi Quang thức dậy, chàng thấy Xuân và Hằng đang sửa soạn bữa cơm chiều. Tuy lấy cơm tháng nhưng ngày nào rảnh, Xuân cũng nấu thêm một món mà cả nhà đều ưa.
– Bếp mà không nấu nướng trông lạnh tanh – Xuân nói – Ăn cơm tháng mãi con Hằng không biết nấu nướng gì cả.

Quang tắm xong thấy thoải mái, chàng ngồi xuống bàn ăn, nhìn tô canh chua tôm mới nấu còn bốc hơi thơm mùi rau om, ngò gai, chàng mỉm cười:
– Hằng ráng học nấu món canh chua của mẹ con, ngon tuyệt!
Hằng nũng nịu:
– Con lúc này biết nấu nhiều món chay lắm đó! Tới ngày ăn chay để con trổ tài cho ba mẹ xem!
Quang nhìn con âu yếm:
– Con đi chùa có vui không? Chủ nhật nào cũng chỉ có mẹ con ở nhà, sợ mẹ buồn.
Xuân cười:
– Con nó ham đi chùa là tốt lắm, mình nên khuyến khích con. Còn anh, thứ Bảy, Chủ nhật phải đi làm thêm, em lo ngại sức khỏe của anh, dạo này trông anh ốm.
Quang pha trò:
– Người ta tốn tiền uống thuốc cho ốm, mình đi làm vừa được tiền, vừa được ốm, như thế gọi là “nhất cử lưỡng tiện” đấy. Thôi chúng ta dùng cơm kẻo nguội. Nghe mùi canh chua anh đói bụng rồi!

Ba người im lặng dùng bữa cơm gia đình đơn giản nhưng ấm cúng. Họ cùng ý thức rằng đây là những giờ phút quý báu. Gia đình họ tuy nghèo nhưng hạnh phúc không thiếu.
Chờ cha mẹ ăn xong, Hằng xẻ cam, gọt táo mời. Sẵn có dịp cha mẹ đang vui, Hằng lên tiếng:
– Con đi chùa hơn nửa năm nay mà ba mẹ không có dịp viếng chùa. Sư bà hỏi thăm ba mẹ hoài. Lễ Vu Lan sắp đến, Sư bà sẽ gửi thư mời. Thế nào ba mẹ cũng ráng đi nhé!
Quang nhìn vợ như hội ý, gật đầu:
– Ba mẹ sẽ cố gắng. Nhưng con biết rõ ngày nào chưa?
– Dạ vào ngày Chủ nhật tuần sau, khai mạc lúc 10 giờ sáng. Có văn nghệ và cơm chay nữa. Con góp mặt trong màn vũ dân tộc và phụ bếp.
Trong lúc Hằng lo dọn bàn. Quang và Xuân cùng đến ngồi trên chiếc sofa duy nhất trong phòng khách, Xuân mở nhạc nho nhỏ và nhìn chồng hỏi:
– Vậy anh có thể xin nghỉ làm vào ngày Chủ nhật tới để đi chùa với em không? Đi hai người mới vui.
Quang trầm ngâm:
– Muốn nghỉ thì cứ nói trước thôi. Nhưng em tính xem, mất đi mấy chục bạc uổng lắm chứ! Mỗi tuần chịu khó làm hai ngày, mình có tiền chu cấp cho má xài!
Xuân ngập ngừng:
– Mà em hỏi thiệt anh, anh đi làm thêm job rửa chén như vậy rủi gặp lại bạn bè, anh có thấy mắc cỡ không?
Quang lắc đầu:
– Ở Mỹ này anh thấy có cái hay, là cần tiền người ta có thể làm bất cứ nghề gì, không kể sang hèn. Nếu bạn bè khi dể anh, vì anh không còn là một công tử phong lưu thì anh không tiếc chi những người bạn đó.
Xuân tiếp:
– Hồi đó má xài mỗi tháng 500 còn than thiếu, bây giờ anh đưa 300, chắc cũng không thấm vào đâu! Má xài lớn quá!
Quang công nhận:
– Nghe nói lúc này má bớt đi shopping; nhưng cũng vì vậy mà má thấy buồn bực lắm.
– Vào tuổi của má có lẽ nên tìm những niềm vui khác như đi chùa, làm việc thiện… thì tốt hơn.
Quang gật gù:
– Anh cũng nghĩ như vậy nhưng mỗi người một thói quen, biết làm sao bây giờ?
Hằng đến gặp bà nội từ sáng sớm. Hai bà cháu đều nôn nao.
Bà Tân Tân hỏi:
Nội già rồi, con có chắc là Sư bà mướn nội không?
Hằng gật đầu:
– Dạ, chắc mà nội. Sư bà nói người lớn tuổi thường cẩn thận, giữ phòng sách rất tốt. Mà ở đây nội đi làm tiện quá, đi bộ năm phút là tới ngay.
Bà Tân Tân mở tủ áo:
Con thấy bà nội nên mặc bộ nào?
Hằng lục lạo trong mớ đồ màu sắc bông hoa của bà, tìm ra được bộ đồ nâu trơn, Hằng dịu dàng:
– Bộ này đẹp nè nội. Đi chùa người ta ít mặc bông hoặc màu tươi.
Hai bà cháu đến chùa đúng 8 giờ sáng. Chùa còn vắng. Chỉ có mấy trẻ em học lớp chữ Việt do Hằng phụ trách đang chạy loanh quanh trong sân. Thấy cô giáo, các em cúi đầu chào rồi im lặng đi vào lớp.

Bà Tân Tân đưa mắt quan sát: Khuôn viên chùa rộng quá, bãi đậu xe có thể chưa được mấy chục chiếc. Ngôi chùa mới đang xây thật là đồ sộ, phảng phất hình ảnh chùa Vĩnh Nghiêm ở Việt Nam với những bực thang bằng đá rửa nằm trải rộng ra theo chiều ngang bề thế của ngôi chùa. Mái ngói vừa lợp xong, bốn góc cong cong theo truyền thống.
Chùa cũ nằm cạnh đấy, trước kia có lẽ chỉ là một căn nhà, mà vách phòng được phá ra cho rộng. Những giò lan treo ở mái hiên trổ hoa tim tím trong khung cảnh cũ kĩ gây một ấn tượng cổ kính, xa xăm.

Bà theo Hằng bước vào phòng. Một Ni cô trẻ lễ phép chắp tay chào, mời bà ngồi, rồi nhẹ nhàng rót tách trà nóng cho khách. Cô lui ra chừng đôi phút thì Sư bà bước vào, Hằng nhắc bà nội đứng lên chào Sư bà rồi cô bé xin phép vào lớp dạy.
Sư bà không già lắm, chỉ độ ngoài sáu mươi, người thấp, đẫy đà, nhưng cử chỉ nhanh nhẹn. Dưới cái mũ ni màu xám tro là khuôn mặt tròn trịa, phúc hậu. Đặc biệt nhất là đôi mắt tuy nhỏ nhưng sắc và những tia nhìn đầy thị lực như soi thấu tâm can người đối diện.
Sư bà cười thân thiện
– Mô Phật, chào bà cụ. Bữa nay trở gió thu rồi, bà có thấy lạnh không?
Bà Tân Tân đáp nho nhỏ:
– Dạ không lạnh lắm!
– Mời bà dùng trà cho ấm.
Bà Tân Tân bưng tách trà, hơi luống cuống vì những móng tay sơn đỏ của mình.
– Xin phép Sư bà!
Sư bà kín đáo nhìn bà cụ. Tuy tuổi đã cao mà bà vẫn cố giữ lại phần nào vẻ thanh tân ngày trước. Mái tóc bạc được uốn và chải khéo, đôi mày kẻ nhỏ, cong như vòng nguyệt trang điểm cho đôi mắt đã đục màu thời gian, nhuộm lắm nỗi ưu phiền.
Sư bà vào đề:
– Dạo này chùa mới đang xây nên công việc bừa bộn quá, bà cụ có thể trông giúp tôi phòng đọc sách vào hai ngày cuối tuần được không? Rồi không chờ bà Tân Tân đáp, Sư bà tiếp:
– Bình thường thì khách cũng chẳng đông lắm, ra vào lai rai thôi nên không mấy bận rộn. Vào những ngày lễ lớn tôi sẽ cho người phụ với bà cụ.
Bà Tân Tân thắc mắc:
– Ngày thường, chắc phòng này đóng cửa?
– Mở chứ, nhưng có mấy người Phật tử tình nguyện thay phiên nhau trông nom.
Bà Tân Tân làm thinh. Sư bà chậm rãi tiếp:
– Nếu bà cụ có thể giúp cho trọn ngày thứ bảy và Chủ nhật, chùa sẽ thù lao cho bà 300, nay được 300 một tháng. Số tiền này tuy không đáng là bao nhưng khả năng của chúng tôi chỉ có thế.
Bà Tân Tân tính rất nhanh: “Quang mỗi tháng cấp dưỡng cho bà 300 nữa, vị chi là 600, mình có thể phụ tiền nhà với con gái cho nó vui vẻ trở lại, mà tiền tiêu xài cũng rộng rãi hơn”.
Bà sốt sắng đáp:
– Dạ vâng, nhà tôi gần đây, đến phụ chùa cũng tiện. Rồi bà đổi giọng phân trần:
– Làm việc cho chùa, lẽ ra không nên tính chuyện tiền nong nhưng Sư bà hiểu cho hoàn cảnh của tôi hiện nay… Thuở nào còn làm ra tiền thì con cái còn tùng phục, kính nể; bây giờ gìa cả không bạc tiền, không nhà cửa, bất đắc dĩ phải nhờ vả con cái thì thái độ chúng nó khác cả. Thật là “Cha mẹ nuôi con như biển trời lai láng, con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.” Nói xong, bà rơm rớm nước mắt.
Sư bà an ủi:
– Sang đây tưởng sướng mà thật ra là khổ, già cũng khổ mà trẻ cũng khổ. Chỉ khi nào biết thoát ra mới hết khổ thôi. Tôi hy vọng những ngày làm việc ở đây, trong khung cảnh êm đềm của tự viện, sẽ làm bà tìm được sự an ổn, bớt ưu phiền.
Sư bà đứng lên:
– Mời bà theo lối này đi viếng chùa… À chừng nào bà có thể bắt đầu được?
– Dạ hôm nay cũng tiện.
Sư bà gật đầu:
– Để tôi bảo cô Huệ Chánh chỉ dẫn công việc cho bà. Buổi trưa, mời bà dùng cơm chay, đừng ngại. Khi nào cảm thấy mệt, bà cứ gọi cô Huệ chánh ra thay, đừng ráng sức không tốt.

Bà Tân Tân cảm thấy mến Sư bà vì cách đối xử thật tình và tế nhị. Sự mến mộ kèm theo lòng kính nể, không phải vì ngôi chùa to lớn đang xây mà vì mọi thứ, mọi việc trong chùa đều được sắp đặt gọn gàng, sạch sẽ, và các Ni cô tuy còn trẻ mà đã có cung cách của người đang tu hành đàng hoàng.

Bích Thu

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!