Thứ Ba, 24 Tháng Năm 2022
Truyện ngắn Dốc mơ đồi mộng (phần 2)

Dốc mơ đồi mộng (phần 2)

HĐ  Nồi cơm vừa chín tới, tỏa hơi thơm khắp nhà. Tháng 9 ở Mỹ đã có gạo mới nhập, dẻo và ngon. Ông Nam Lĩnh lui cui giúp vợ dọn cơm trưa. Vợ ông đang xắt ngò om, ngò gai, ớt đỏ để rắc lên nồi canh măng chua.

Chợt có tiếng chuông. Ông police mặc sắc phục đang đứng trước khung cửa; tự nhiên hai chân của ông run lập cập.

“Trời ơi, chắc có ai tố cáo mình chứa kẻ ở lậu! Mà đã nửa năm nay, thằng Mễ Hugo đã không còn đến đây, lẽ nào có chuyện lôi thôi…!”
– Chào ông! Tôi là Robert, nhân viên cảnh sát, muốn tìm ông Linh Lee tại địa chỉ này.
– Tôi là Linh Lee.
Ông trả lời bằng giọng nói đứt quãng, mặt mày tái xanh.
Sau cái bắt tay, chàng cảnh sát trẻ như đoán được nỗi lo sợ của người đối diện, tỏ vẻ thân thiện hơn:
– Ông có quà!
Không đợi han hỏi, chàng cảnh sát Mỹ tiếp luôn:
– Dù sao đây cũng là một tin buồn. Một người homeless tên là Hugo, đã chết trước cửa tiệm ăn V.T vào tối hôm qua. Trong người anh ta có một bao thư này, đề tên ông. Xin ông mở ra xem và ký nhận cho!

Mặt đất như đang rung chuyển dưới chân ông Nam Lĩnh. Phải khó khăn lắm ông mới mở được cái phong bì vàng, khá nặng mà người cảnh sát giao cho ông. Thì ra đây là cuốn nhật ký, trong ấy có kèm một bì thư nhỏ, cũng đề tên ông. Chỉ là một tờ thư mỏng, gói vài đồng bạc lẻ và tấm vé số.

Anh cảnh sát viên ghi vội những chi tiết này vào tờ biên bản, đưa ông Nam Lĩnh ký rồi bắt tay từ giã.

“Nó chết rồi, chết cóng, chết đói, trời ơi, khổ thân con tôi!”

Hình ảnh chàng thanh niên Mễ thất thời lỡ vận, lang thang không cửa không nhà hiện rõ trong trí ông… Hugo đang nhìn ông, nửa như van lơn, nửa như thất vọng…

“Mình đuổi nó đi nên nó mới chết! Đành rằng mình chẳng thể cưu mang nó suốt đời nhưng quyết định ấy tàn nhẫn quá! Gián tiếp, vô tình giết một mạng người, tội này đâu nhỏ! Cái nhà kho bé xíu kia có thể cứu mạng người nhưng cái tâm địa mà mình tưởng là rộng lớn lắm lại chẳng thể dung nạp một kẻ cơ hàn!”
Người cảnh sát quay lưng đi xa rồi mà ông Nam Lĩnh vẫn còn run. Đóng ập cửa lại, ông ngồi khụy xuống, ôm ngực, há miệng ra thở, đầu óc quay mòng mòng, hoa đóm loe lóe trước mắt.

– Ông ơi ông! Có sao không?
Ông vịn cánh cửa, gượng đứng lên:
– Bà đỡ tôi vào trong… Không sao đâu, nằm nghỉ chút sẽ hết…
Bà vợ nóng lòng muốn hỏi nhiều câu nhưng thấy mặt chồng xanh dờn, hơi thở đứt quãng, mệt nhọc, bà phát lo, vội dìu ông vào phòng và đi pha một tách trà gừng.

***

Ánh đèn trong phòng khách như bừng sáng thêm vì những đôi mắt ngời hân hoan.
– Ba trúng số thiệt hả ba? Độc đắc phải không? Kỳ này mười triệu đó!

Kim Oanh, cô con dâu vốn ít nói, bỗng nhiên líu lo, ríu rít như chim.
Bà Nam Lĩnh có dịp giảng:
– “Ăn khế trả vàng”. Chuyện xưa tích cũ thật không ngoa. Tụi bây tưởng tượng có ai không hề mua vé số mà lại trúng số không?
Nghe vợ nói, ông cảm thấy cao hứng:
– Ờ, chính police đem tới nhà, trao tận tay.

Chuyện này Hào được nghe mẹ kể trên phone rồi nhưng chàng vẫn muốn nghe lại, do chính ba kể mới hay. Thế là ông già có dịp tỉ mỉ kể đầu đuôi câu chuyện về chàng thanh niên Mễ xấu số. Hình như niềm vui lớn lao về tờ vé số độc đắc đã lấn áp sự ân hận của ông về cái chết của Hugo.

Tuy nhiên, khi đề cập đến quyển nhật ký, ông cảm thấy xấu hổ. “Nó ca ngợi mình như một ân nhân hiếm có!”

– Nếu Hugo còn sống, gia đình nó sẽ được vinh quang. Nhưng ba phải thay nó mà giúp họ.
Nó đã tin tưởng trao tấm vé số cho mình với hy vọng khi nào trúng, mình sẽ lo cho gia đình nó… Hugo cũng biết chọn mặt gửi vàng, mình đâu nỡ tham lam giành hết. Phải chia cho gia đình nó một phần đích đáng!

Kim Oanh hỏi dò, đôi mắt sắc sảo, đen láy của cô như mở to hơn:
– Đích đáng là bao nhiêu hở ba?
– Ít nhất cũng một phần tư tờ vé số!

Hào cố ngăn cái cười nhếch mép – không dại gì làm mất lòng ông già triệu phú – tìm cách đưa ông về với thực tế:
– Con đề nghị hai việc quan trọng: thứ nhất kiểm lại tờ vé số xem có đúng ngày xổ, đúng cả sáu số hay không rồi đề tên phía sau cho cẩn thận. Thứ hai, phải nhờ luật sư lãnh vì trường hợp của ba rất đặt biệt; báo chí, truyền hình hay được, ba sẽ không yên với họ đâu!
– Phải đó ông! Tốn kém bao nhiêu cũng được, miễn mình yên ổn sống đời bình thường như cũ.
Hào giải sẵn cho ông già bài toán:
– Ba ơi, tuy trúng mười triệu nhưng nếu mình lãnh một lần, trừ thuế, trừ huê hồng của luật sư thì tiền mặt đem về chỉ ngoài hai triệu thôi.
– Ủa, sao ít vậy? Tao mong trúng số sẽ giúp tiền cơ quan từ thiện lo cho những người homeless.


Bà Nam Lĩnh háy chồng một cái:
– Bao nhiêu đó thấm thía gì mà đòi làm việc lớn! Ông nên nhớ, ở Việt Nam, mình còn bà con nghèo nhiều lắm, bên ông cũng như phía bên tui. Phải giúp cho đều, nếu không thì kẻ trách người hờn…

Hình như Hào sợ mất phần, anh xen vào ngay, giọng nói hơi kém bình tĩnh:
– Ba má tính gì tính nhưng nhớ cho con tiền “pay off” hai cái nhà. Nợ nhà băng trả hoài ngán quá!

Ông già cảm thấy chóng mặt. Y như là nợ vây tứ phía! Ông lẳng lặng bỏ ra sân nhìn hai đứa cháu nội đang chơi banh.

Trong lúc bà già vào bếp châm thêm trà, Kim Oanh ghé tai chồng thì thầm: “Mình là con một thì tiền của ba là của mình. Anh phải theo sát ba, đừng để ổng hứa lung tung. Đụng ai cũng cho, bao nhiêu cũng không đủ!” Hào gật đầu đồng tình: “Ông làm gì thì làm, nhưng ít nhất mình phải có một triệu. Trả nợ nhà năm trăm, còn lại năm trăm, quá khỏe!”

Bà Nam Lĩnh bưng khay trà trở ra, thấy vợ chồng Hào rù rì to nhỏ, tự nhiên phát bực. “Tụi nó giàu mà còn tham!” Bà đồng ý với chồng là nên bố thí nhưng phải lo cho họ hàng trước. Mỗi người một ý kiến. Ai cũng thấy mình đúng, còn người kia sai. Nhưng oái oăm thay, họ cùng gặp nhau ở một điểm: mình là sở hữu chủ của tờ vé số độc đắc.

Sự bất hòa ngày càng tăng. Nỗi mừng trúng số đâu không thấy. Bây giờ chỉ là những ngày căng thẳng giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái. Chữ “tiền” như đám mây đen khổng lồ đã che lấp cuộc sống êm đềm hòa thuận của họ. Chẳng ai chịu nhường ai.

Mỗi tối, bà Nam Lĩnh vẫn tiếp tục tụng kinh nhưng hình như lời kinh chỉ là những âm thanh rời rạc, bà chỉ mong thời khóa chóng xong. Ông chồng rầu rĩ bên tách trà, không còn cái thú vị thanh tao lắng nghe pháp âm vi diệu…

Vợ chồng con cái Hòa “đóng đô” ở đây gần một tuần rồi, tụi nó xin nghỉ phép, cho thằng Luân con Thúy nghỉ học… Thế nhưng không khí chẳng đầm ấm vui nhộn như thuở xưa, lúc tụi nó thỉnh thoảng về đây nghỉ hè, nghỉ lễ…

***

Tự viện nằm trên sườn núi cao, chênh vênh trên gộp đá gie ra vịnh Mission bát ngát. Núp sau những hàng dương tha thướt, nó có vẻ là căn nhà nghỉ mát hơn là một ngôi chùa truyền thống.

Thầy M.N nhận “gia tài” này từ một người Mỹ triệu phú sùng đạo Phật. Ông hiến tặng Đại đức sau một năm theo thầy học giáo lý Đại thừa, xin thí phát xuất gia rồi đi ẩn tu. Ông ta chuyên tu Tịnh độ.

Thầy M.N thuộc giới trẻ, hấp thụ nhiều kiến thức Âu Mỹ với bằng M.A. Dáng dấp khỏe mạnh, gương mặt tươi vui, thầy hay cười và làm cho người đối diện phải bật cười luôn vì cách nói chuyện dí dỏm, hay pha trò.

Ít người biết tới ngôi tự viện này. Thầy nói: “Chùa mới lập mà tôi thì không muốn quảng cáo!” Thế nhưng thầy có những người bạn trẻ thường lui tới học hỏi giáo pháp và giúp thầy trong việc sửa sang phòng ốc, khai hoang trồng trọt. Có hai chú tiểu, vốn là anh em song sinh mồ côi cha, được mẹ chú giao cho thầy lúc vừa lên tám khi bà biết mình mắc bệnh nan y.

Ông Nam Lĩnh khám phá ra Thanh Sơn tự viện do một sự tình cờ, lúc cùng gia đình Hào đi nghỉ mát ở thắng cảnh du lịch gần đấy. Gặp thầy một lần là ông muốn trở lại để được cười, được gột rửa trần lao trong khung cảnh hùng vĩ của núi rừng với tầm nhìn bao la của biển cả và sự thanh tịnh của già lam.

Ông Nam Lĩnh đã thường lái xe hai tiếng đồng hồ chở vợ về đây để tu tập trong một hoặc hai ngày và cảm thấy những lạc thú thế gian không còn có thể quyến rũ được ông nữa.
Lần này, ông trở lại một mình với nỗi sầu nặng trĩu. “Quả là thọ thì khổ! Chỉ mới biết tin trúng số, chưa thấy được đồng nào, mình đã khổ rồi. Đem đồng tiền về nhà chắc sẽ khổ nhiều hơn, khổ dài dài… ”

Trời mới bước vào thu, núi rừng đã se lạnh, những cây phong nhuộm đỏ một vùng. Ông xuống xe, đội nón len, quấn khăn quàng cổ rồi lững thững theo hàng thông già đi vào chùa.
Cửa chùa khép hờ, bên trong chẳng có ai. Ông quày trở ra đi xuống vùng thung lũng bên hông tự viện. Nắng đã lên cao, chiếu lấp lánh trên những đợt sống nhấp nhô, mặt biển xanh rờn.

Từ xa, ông đã thấy thầy M.N đang lom khom nhổ đậu; hai chú tiểu đang tranh nhau hái cà chua, nhanh như vượn bẻ bắp.

Ông hăng hái bước tới. Thầy đã thấy ông:
– Lại đây, bác ơi! Giúp tôi một tay cho xong đám đậu này! Chiều nay mưa xuống thì hỏng cả! Đậu bị nước không thể để lâu được.
– Đậu nành là món ăn chánh trong chùa. Nếu biết cất giữ cẩn thận, quanh năm sẽ có đủ tương, chao, đậu hủ, sữa đậu nành đầy bổ dưỡng.

Ông Nam Lĩnh thích khoảnh đất này lắm! Theo mùa, thầy trồng đủ cả: từ cà đến bí, rau thơm, cải ngọt, cải làm dưa, ớt, chanh, đậu phộng, đậu hòa lan… Khoai mì viền chung quanh, lên cao và đều như hàng giậu thế mà cũng không che được mắt mấy chú khỉ tinh khôn thường hay chui vào đây đào khoai lang.
Phía bên kia là vùng đất “An Tiêm”, nơi đó bí rợ, dưa hấu không trồng mà mọc, đúng mùa cũng thu hoạch bộn bàng.

Phật tử nào tới chùa cũng trở nên thân thiết: Khi ra về bao giờ cũng có rau quả tươi làm quà và ai cũng sốt sắng giúp thầy một tay.

Bốn người hăng hái làm việc. Những chùm đậu no tròn, chín vàng làm họ say mê. Mùi thơm hăng hăng của mấy giàn cà chua, mùi thơm của đậu tươi như lan tỏa khắp không gian hiền hòa ở chung quanh.

Thầy đã thấm mệt. Ông ngưng tay, quẹt mồ hôi trán đang tuôn nhễ nhại.
– Tâm Từ, Tâm Bi, vào lo cúng ngọ đi con, thầy đã bắt sẵn nồi cơm rồi đó!
– Trưa nay mình ăn gì, sư phụ?
– Cà chua chấm mắm đậu, canh cải bẹ xanh.
Một chú xuýt xoa:
– Con đói bụng rồi! Có khách chắc phải bắt thêm cơm.
Thầy trả lời bằng cái lắc đầu; cười, nói nhỏ với ông Nam Lĩnh:
– Một đứa tham ăn, một đứa tham ngủ. Tôi chăn tụi nó phát mệt!
Ông già cũng dừng tay, góp chuyện:
– Còn nhỏ thì ham ngủ, ham ăn; lớn lên ham muốn nhiều thứ khác nữa, thầy ơi! Biết tu sớm như mấy chú là phước mấy đời để lại. Không phải ai cũng ở chùa được đâu!
Thầy M.N tháo cái khăn đang cột ngang hông ra lau mặt. Khuôn mặt thanh tú của thầy sáng rỡ trong nắng; cái đầu mới cạo bóng loáng như tỏa hào quang. Trông thầy đẹp như pho tượng. Tự nhiên ông Nam Lĩnh buột miệng hỏi:
– Sao thầy đi tu?
Thầy bậc cười ra tiếng, hỏi ngược lại:
– Bác tiếc cho tôi hả?
Bác Nam Lĩnh rất phục thầy vì thầy như luôn luôn đọc được ý nghĩ của người đối diện:
– Dạ, không dám!
Nhà sư trẻ ôm từng thúng đậu nành đổ vào xe cút kít:
– Đài báo tối nay mưa, tôi phải đem đậu vào kho. Có thân thì cực vì thân, bác thấy không? May mà mình chỉ có một cái miệng!
Ông Nam Lĩnh giúp thầy chất đậu vào kho xong, đi vòng ra ngoài, bước xuống thềm đá, ngồi ngâm chân trong nước biển, nhìn ngắm vu vơ.
Trời xanh, biển rộng, sóng vỗ rì rào, bờ cát trắng phau. Nhưng “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!”
Trước đây, tháng tháng lãnh tiền già, chi phí tiêu xài xong, còn thấy dư, đời sống an nhàn chẳng âu lo, bây giờ trúng số thì cảm thấy thiếu trước hụt sau, lạ thật!
– Bác nghĩ ngợi gì đấy!
Giọng nói trầm ấm của thầy cất lên phía sau lưng. Ông già quay lại. Hình như thầy vừa tắm gội xong, tươi mát như Đức Phật Đản Sinh. “Đây là cơ hội tốt chăng? Để mình tâm sự và tham vấn?”
– Dạ, mời thầy ngồi. Con cũng có đôi điều muốn thưa.
– Cứ xem tôi như bạn đi, người bạn vong niên.
Thầy lúc nào cũng dễ dãi và cởi mở. Nhờ vậy thầy có dịp tháo gút cho nhiều nỗi niềm tâm sự.
Hai người cùng nhìn ra biển. Đột nhiên thầy hỏi:
– Nhìn ra biển khơi, bác thấy gì?
– Con thấy sóng nhấp nhô, bọt tung trắng xóa.
– Vâng, tâm chúng sinh cũng thế, không bao giờ dứt phiền não.
“Hình như thầy hiểu được lòng mình.” Ông Nam Lĩnh mạnh dạn vào đề.
– Thưa thầy, phiền não do đâu mà sinh khởi? Nếu từ tâm khởi thì tại sao nó không khởi lên được mà phải chờ có dịp, có cơ hội mới hiện hành?
Nhà sư gật đầu khen:
– Câu hỏi rất hay! Nhưng bác nên nhớ rằng tất cả pháp đều phải hội đủ nhân và duyên mới sinh khởi được.

Bác còn nhớ câu chuyện “Quan huyện thanh liêm” trong sách giáo khoa không? Xưa có ông quan nổi tiếng thanh liêm, không hề ăn hối lộ, không nhận của đút lót nên trị dân rất công bình, sống đời rất mẫu mực. Nhiều người đã đem vàng bạc, lụa là, gấm vóc đến tặng để nhờ giúp đỡ chuyện riêng, ông đều khước từ.

Nhân có vụ án mạng liên quan đến ông nhà giàu nọ, ông này tặng ông một trăm lượng vàng, ông từ chối. Lần thứ hai tặng năm trăm lượng, ông mời đi ra. Cuối cùng, ông phú hộ sai người mang đến hai ngàn lượng vàng, để ở cửa sau. Vợ quan huyện ôm vàng vào nhà, đếm vàng hoa cả mắt, còn ông thì lặng im, chấp nhận.

Cái “nhân” tham của ông quan huyện quá vi tế nên bình thường không khởi lên mới tưởng là thanh liêm nhưng ở một mức độ nào đó, gọi là đủ “duyên” thì thấy được, như dùng kính hiển vi phóng đại vậy.

Ông Nam Lĩnh toát mồ hôi trán. “Thầy có thần thông chăng? Thầy đọc được tâm tư mình! Phải rồi, đối với năm, ba ngàn đô mình thấy dửng dưng nhưng khi có bạc triệu thì khác. Cho ai, mình cũng thấy tiếc rẻ, vì lẽ đó mà sinh bực dọc, phiền muộn… Vậy tham lam bỏn xẻn là gốc rễ của khổ đau mà mình đang gánh chịu.

Mình muốn cho gia đình Hugo một phần tư số tiền, chừng tính lại, thấy con số quá to! Định giúp đỡ cho dân homeless thì nghĩ tiền mình quá ít! Muốn chia số tiền làm ba phần cho vợ, cho con, và cho mình thì sợ họ xài không đúng chỗ.

Ôi, có trăm ngàn lý do che cho tật xấu của mình! Hôm nay nhờ thầy, mình mới có dịp phản tỉnh, biết nhìn lại sự sái quấy của tự thân”.

Bác cảm động, nhìn thầy nhưng rồi bắt sang chuyện khác:
– Cảnh chùa ở đây đẹp quá! Đất đai lại mầu mỡ, trồng trọt đủ sống quanh năm. Nhưng con thấy chánh điện cần xây cất lại cho rộng rãi khang trang hơn.
Nhà sư vừa cười vừa lắc đầu:
– Tôi sắp dọn đi nên chuyện đó khỏi cần lo.
Sự ngạc nhiên làm ông sững sờ một giây:
– Thưa thầy nói thật hay đùa? Mà tại sao?
– Con của triệu phú Mỹ muốn lấy lại chỗ này để thành lập khu giải trí, thể thao, sân golf…
– Nhưng thầy có quyền từ chối!
– Đúng vậy! Nhưng tôi nhớ rõ trong Kinh Đại Bửu Tích, đức Phật dạy các Tỳ kheo không nên ở một nơi nào quá lâu, phải như nai rừng, không sống chỗ nào nhất định.
– Thưa, vì sao?
– Yêu thích cái gì, cái đó sẽ trói buộc mình. Phải biết xa rời cái gì mình ưa chuộng, dù đó là cái chùa, chiếc xe hay cái y. Đấy là hạnh xả ly. Đây thật là cơ hội tốt cho tôi.
“Chùa này, cảnh trí này, nương rẫy kia không phải là của mình thế mà hay tin sắp sửa mất đi, mình còn xót của, thế sao thầy lại bình thản như không?”
– Con có cảm tưởng thầy đã đạt đạo mặc dù thầy còn rất trẻ.
– Không dám! Nhưng đạo Phật không có gì để đạt, không có chi để chứng đắc. Vấn đề là mình phải thấy biết chân tướng của vũ trụ nhân sinh để sống không vướng mắc, không bị ràng buộc.
– Con vẫn hiểu “Sắc bất dị không, không bất dị sắc” nhưng hầu như biết là một chuyện mà nghĩ và làm lại là chuyện khác.


Thầy khiêm tốn:
– Tôi cũng vậy! Nhưng nhờ quán MỘNG, luôn luôn tâm niệm rằng mình đang sống trong cảnh mộng hư ảo vô thường nên dần dần tỉnh ra, bác à!
– Có lẽ vì thế, lúc nào thầy cũng an ổn, thong dong.
Thầy có dịp đùa:
– Thấy vậy chứ không phải vậy!
Đột nhiên, thầy sửa giọng nghiêm trang:
– Bác có bao giờ quán sát một giấc mộng chưa? Nó có đủ hết: nào cảnh, nào người, nào vật, đủ cảm thọ vui buồn, sợ hãi theo các biến chuyển éo le… Trong mộng thì quả nhiên mình thấy nó là thật nhưng nếu tỉnh giấc chiêm bao, biết nó không thật thì mình buông hết. Hãy nhìn sâu vào mộng thì có ngày tỉnh dậy, bác à.
Nói xong, nhà sư đứng lên:
– Thôi, chúng ta vào dùng ngọ kẻo trễ.
…Một năm sau, ông Nam Lĩnh có dịp trở lại chốn xưa. Ngôi già lam không còn dấu vết, tiếng chuông chùa không còn thong thả ngân nga trong gió sớm, sương chiều để thức người trong cõi mộng…

Diệu Nga

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!