Đâu là mùa xuân (kỳ cuối)

415

  Cha mẹ Loan không phải là loại người ham tiền, chỉ cần đủ ăn không thiếu nợ là ông bà mừng rồi… Ông bà chỉ thích sống cuộc đời thanh bạch đơn sơ mà được mọi người thương yêu kính nể vì danh dự uy tín của mình. Nay bỗng dưng phải nhờ vả con mình mà biết con mình đã và đang làm những việc mờ ám để kiếm tiền, ông bà lâm vào tình trạng khó xử. Muốn rầy con mạnh mẽ như thuở nào, ông bà không thể làm được vì Loan nắm quyền chi xuất cho cả gia đình, mặc nhiên Loan được coi như trụ cột của cả nhà. Loan tập cho các em lối sống hưởng thụ xa hoa nên ông bà không còn đủ sức cung cấp cho các con được nữa. Tiếp tục gánh nồi bún riêu ra chợ bán để tự trấn an rằng mình sống bằng đồng tiền chính đáng do mình làm ra thì bị các bạn hàng nói gần nói xa, nói bóng nói gió khiến bà khó chịu.

Gia đình tự nhiên chia làm hai phe: hai vợ chồng già như hai cây cổ thụ cằn cỗi đứng cô đơn trước cơn bão tố của đời sống vật chất xa hoa. Còn Loan và các em như những con thiêu thân cứ muốn tắm mình trong ánh sáng quyến rũ của văn minh hưởng thụ mà không cần biết đến sự nguy hại lớn lao của nó. Không khí gia đình vì vậy sinh ra ngột ngạt khó chịu.

Một lúc sau, bà mẹ mới cất tiếng:
– Con gánh vác cho gia đình bao nhiêu đó cũng đủ rồi… Giờ là lúc con phải nghĩ đến tương lai của con, hãy kiếm người bạn trăm năm xứng đáng, hãy nghĩ tới chuyện hôn nhân.
Đề nghị của mẹ khiến Loan bối rối. Một là Loan chưa bao giờ nghĩ đến vấn đề đó, lúc nào Loan cũng chỉ lo làm ra tiền, vì cho rằng tiền bạc mới là nguồn hạnh phúc của con người. Hai là ở xã hội Việt Nam thời đó, một người con gái trót giao du thân mật với Mỹ kiều thì khó trở lại được với đời sống êm đềm của người nội trợ bên một người chồng đứng đắn, đàng hoàng.

Mặc cảm nghèo nàn thuở xưa chưa xóa nhòa lại thêm một mặc cảm khác trong Loan, tuy còn mơ hồ nhưng cũng khá ray rứt; làm sao tính chuyện hôn nhân? Ngay cả tính chuyện hôn nhân với Mỹ kiều – dĩ nhiên là với viên chức có địa vị – đã khó vì đa số đều có gia đình tại bản xứ, họ đến đây công tác thời gian ngắn rồi trở về với vợ con. Còn với thanh niên Việt Nam con nhà nho giáo lại càng khó hơn nửa, vì hình như một bức tường vô hình nào đó đã ngăn cách Loan với họ từ lâu rồi.

Loan cảm thấy nhức đầu, cuộc sống không giản dị như Loan tưởng. Hễ được cái này, mất cái kia! Chưa đầy hai mươi tuổi mà Loan phải đối phó với quá nhiều vấn đề. Loan che miệng ngáp:
– Con mệt quá, con đi ngủ mẹ ạ!
Những ngày tháng 4 năm 1975, Sài Gòn như lên cơn sốt. Mọi sinh hoạt đều khẩn trương theo những chuyển biến nhanh chóng của lịch sử. Ông nhân tình Mỹ đã lên phi cơ về nước không kịp từ giã Loan. Kim Loan nhận thấy tình thế nguy ngập nên suốt tuần lễ bỏ ăn quên ngủ để xin được giấy nhập cảnh cho cả gia đình. Bây giờ đã là 20 tháng 4, bộ đội cách mạng đang tiến dần về miền Nam.

Cầm giấy nhập cảnh trên tay, Loan trở về hối thúc gia đình lo chuẩn bị di tản. Nghe nói được đi Mỹ các em Loan mừng rỡ, nhưng cha Loan thì do dự, ông nói: Bỏ xứ ra đi là một niềm đau đớn. Hồi trước từ miền Bắc di cư vào Nam, tuy lạ phong thổ nhưng cũng còn là đồng bào với nhau, còn cùng chung lịch sử, ngôn ngữ, tập quán; vậy mà cũng còn tơ tưởng nhớ nhung Hà Nội 36 phố phường, còn bây giờ thì…

Mẹ Loan giản dị hơn:
– Các con ở đâu thì mẹ ở đó, nhưng mẹ chỉ bằng lòng đi khi nào anh Bằng của các con về đây đi chung. Mẹ không thể nào bỏ nó lại đây một mình.
Thế là Loan chạy đôn chạy đáo khắp nơi để kêu anh về nhưng bây giờ đơn vị nào cũng cấm quân tại chỗ, Loan đành bất lực thôi. Mẹ khóc lu bù như nhà có đám tang làm lòng Loan rối bời, may mà một ngày trước khi lên phi cơ, Loan bắt được tin anh nhắn về hẹn sẽ gặp nhau ở đảo Guam vì mọi người Việt Nam di tản đều sẽ được tập trung tại đây.

Mỗi người chỉ mang được cái xắc tay nhỏ, ngồi chen chút nhau trên chiếc máy bay quân sự, mặt ai cũng lộ vẻ đăm chiêu. Loan nhìn lại thành phố Sài Gòn lần cuối lòng mênh mang buồn. Ai dè chuyện đời biến chuyển đột ngột và ác liệt đến thế! Mấy năm nay Loan gánh chịu búa rìu dư luận cốt chỉ để làm giàu, bao nhiêu tiền bạc đều bỏ vào nhà băng sinh lợi, nay bỗng thành mây khói. Gia tài còn lại chỉ vỏn vẹn vài món tư trang…

Những ngày sống ở đảo chờ định cư thật rảnh rang. Mẹ có dịp gần gũi Loan nhiều hơn. Biết con buồn, bà an ủi:
– Con mới di cư một lần chưa quen chứ cảnh này xảy ra những hai lần trong đời mẹ rồi. Còn người còn của con ạ, hơi đâu mà buồn. Riêng mẹ, mẹ không tiếc gì cả. Phật dạy rằng: “Đời là vô thường, không có chi tồn tại mãi được”. Bởi vậy, mẹ chẳng ham làm giàu. Tiền bạc chỉ cần đủ sống thôi, có nhiều tiền không hẳn là hạnh phúc, mà cũng không chắc gì mình giữ nó được.
Được dịp, bà nhắc khéo con:
– Ba mẹ quan niệm rằng ở đời sống sao cho không thẹn với người, không xấu hổ với lương tâm thì tâm hồn được yên ổn, đó là hạnh phúc rồi. Càng sống giản dị càng hạnh phúc con ạ. Chứ một khi mình khởi tâm ham muốn rồi thì chẳng thể dừng lại vì hễ được cái này xong là mong có thêm cái khác, cứ như phải trèo dốc núi mà đi cực khổ song chẳng dừng chân được. Tội chi chạy theo những thứ phù phiếm đó, như dã tràng se cát biển Đông, nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.

Mẹ càng nói Loan càng thấm thía. Nhờ có trải qua rồi Loan mới thức tỉnh và công nhận mẹ có lý. Loan tự nhủ: “Mình phải làm lại cuộc đời mới nơi môi trường mới này.”

Được định cư tại Florida, vùng khí hậu ấm áp ven biển, ba mẹ Loan mừng lắm. Mướn được căn nhà ba phòng có sân chung quanh khá rộng, cả nhà đều vừa ý.

Ba vui vẻ, nhìn cây đào trước ngõ, nói:
– Thế là Xuân về mình được ngắm hoa đào đấy nhé!
Mẹ thì thích cây xoài ở sân sau:
– Ông xem, ai dè xứ này cũng có xoài, thật quý hóa, còn đòi hỏi gì hơn!
Loan bây giờ có thêm anh Bằng bên cạnh để cùng lo cho gia đình. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của người bảo trợ, ba và anh Bằng được làm việc ở cây xăng. Loan khá tiếng Anh và nhanh nhẹn được nhận làm chiêu đãi viên nhà hàng. Mẹ ở nhà lo việc nội trợ, còn bốn người em nhỏ tiếp tục cắp sách đến trường.
Ba mẹ vui lòng thấy Loan trở lại cuộc sống lành mạnh, Bằng khỏi phải đi lính xa nhà và các cô cậu học sinh đều tỏ ra siêng năng. Hai ông bà mừng thầm: “Nhờ hồng phúc Tổ tiên, các con mình cũng còn ngoan. Chỉ sợ chúng quen lối sống hưởng thụ ngày trước rồi sinh ra lười biếng, chùn bước trước những khó khăn…”

Bốn năm sau, người em kế Loan – Kim Yến – tốt nghiệp ngành y tá và có việc làm tại địa phương; cậu em út bắt đầu vào đại học. Kim Yến tánh sôi nổi, nhiệt tình và có nhiều bạn. Thấy chị mình từ dạo sang Mỹ tới nay cứ rút mình trong sự trầm lặng cô đơn. Yến luôn luôn tìm cách giúp chị lấy lại phong độ trẻ trung ngày xưa nhưng Loan vẫn lừng khừng thế nào ấy… Yến đâu hiểu được rằng từ nơi sâu thẳm tâm tư Loan, mặc cảm nghèo nàn thời thơ ấu tuy không còn nữa nhưng mặc cảm tội lỗi của thời gian sống buông thả vẫn còn đeo đẳng giày vò khiến Loan trở nên nhút nhát và sợ bạn bè, sợ đám đông. Mẹ hiểu được điều ấy nhưng giải tỏa mặc cảm của một người không phải là chuyện dễ dàng. Mặc cảm là một sự ám ảnh, một nghiệp lực vô hình chi phối tư tưởng và hành động của con người một cách mãnh liệt. Người sống với mặc cảm như một kẻ mộng du, họ cũng đi đứng, nói năng mà thật ra không có một chút ý thức nào về hành động của mình.

Loan chợt cảm thấy lạnh, cô trở vào nhà. Ba Loan đang vén bức màn ngắm cây đào trước sân. Thấy cô, ông vui vẻ nói:
– Cây đào năm nay có nhiều nụ hơn năm ngoái, chắc nhà mình sắp có tin vui.
Hiểu ý cha, Loan mỉm cười rồi im lặng đi xuống bếp. Thấy mẹ đang đãi đậu, Loan đến gần hỏi:
– Hôm nay, sao mẹ làm cơm sớm thế? Mà mẹ định làm món gì?
– Mẹ làm món bánh xèo cho cậu Nhân cùng ăn với gia đình ta.
Loan làm thinh nghĩ ngợi: “Nhân được lòng cả nhà, Nhân hoàn toàn quá, nhưng chính vì sự hoàn toàn ấy mà mình ngại ngùng. Phải chi Nhân chỉ là một anh chàng thư ký, một y tá điều dưỡng thì mình sẵn sàng… Mình đâu còn xứng đáng với ai, huống hồ chi Nhân lại là một bác sĩ y khoa.
Loan buột miệng nói:
– Nếu anh Nhân cầu hôn Yến thì tốt hơn mẹ nhỉ?
Mẹ mắng yêu:
– Cậu Nhân cảm con sao lại hỏi Yến cho được? “Ruộng ai thì nấy đắp bờ, duyên ai nấy gặp”, con à! Mẹ nghĩ theo luật nhân quả của nhà Phật, trước đây con đã hy sinh, lo lắng cho gia đình, bây giờ là lúc con được hưởng quả phúc đấy.
– Nhưng con sợ…
Mẹ hiểu ý Loan nên đỡ lời:
– Người ta chỉ sợ khi nào người ta cố tình che giấu, như cây kim trong bọc thế nào cũng có ngày lòi ra. Trái lại, nếu con thẳng thắn trình bày mọi sự…
Loan cúi đầu:
– Thưa mẹ, con đã kể hết cho anh ấy nghe rồi.
– Thế cậu ấy nói sao?
– Anh ấy bảo: Quá khứ là chuyện đã qua, anh không cần biết đến, anh chỉ thương cô Loan của hiện tại thôi.
Mẹ mau mắn tiếp lời:
– Phải rồi. Thầy cũng đã dạy rằng: Quá khứ không còn nữa, tương lai thì chưa đến, chúng ta chỉ nên sống trọn vẹn với hiện tại thôi. Bám víu vào quá khứ dễ sinh ra mặc cảm, hoặc là tự tôn hoặc là tự ti. Còn mãi nghĩ về tương lai, mình dễ sinh sợ hãi rất vô lý do tưởng tượng mà ra.
Loan ôm vai mẹ nói đùa:
– Mẹ tôi triết lý hay thế!
Nhưng mẹ nghiêm giọng không nói đùa:
– Đó là lời Thầy dạy, mẹ nhớ rõ và áp dụng trong đời sống hàng ngày, bởi vậy ba mẹ sống rất thoải mái, ít lo âu, sầu muộn.
Loan có vẻ suy nghĩ. Cô ngẩng nhìn mảnh trời trong qua khung cửa sổ và nhủ thầm:
– Bấy lâu nay, tự mình đã đánh mất mùa Xuân!
Bỗng có tiếng chuông và khi Loan mở cửa, một bó hoa hồng tươi thắm được trao tận tay nàng. Loan nhìn tấm danh thiếp, khẽ đọc: “Mong ước sao mỗi ngày có một nụ hoa nở trong tâm hồn Loan cho mùa Xuân còn mãi”.

Diệu Nga