Chủ Nhật, 22 Tháng Năm 2022
Truyện ngắn Cửa thiền vẫn mở

Cửa thiền vẫn mở

  Huy có một người bạn đạo. Một người bạn Mỹ với tâm hồn Á Đông. Chàng Stephen này khi mới vào sở người ta cho anh là kẻ lập dị: ai đời kĩ sư mà ngày nào đi làm cũng mặc quần jean cũ mèm, áo sơ mi thì “bạc màu đấu tranh”. Đặc biệt là những bữa ăn trưa, anh vào tiệm chỉ để lấy món xà lách, đôi khi kêu thêm củ khoai nướng.

Bạn đồng nghiệp ban đầu còn nhìn anh với đôi mắt lạ lùng, nghi kị, nhưng dần dần rồi quen; vả lại tánh tình Stephen cũng dễ mến: chân thật, hiền lành, vui vẻ.
Huy và Stephen kết thân với nhau bằng một sự tình cờ. Hôm ấy, nhằm ngày ăn chay, Huy vào tiệm ăn cũng mua đĩa xà lách như Stephen, hai người kéo nhau ngồi chung bàn cho vui.

Stephen hỏi:
– Anh có thường ăn xà lách không?
Huy thành thật đáp:
– Tôi không ăn xà lách hàng ngày như anh, nhưng một tháng tôi ăn chay mười ngày. Vào ngày chay cả gia đình tôi chỉ ăn toàn rau cải, đôi khi có nấm và tàu hủ.
– Anh có thể cho tôi biết tại sao anh ăn chay không?
Huy sốt sắng nói:
– Lý do thứ nhất là tôn giáo. Tôi là người theo đạo Phật. Tôi ăn chay để giảm bớt việc sát hại loài cầm thú, nuôi dưỡng lòng từ bi. Lý do thứ hai là để bảo vệ sức khỏe. Ăn chay tránh được rất nhiều thứ bệnh.
Bây giờ Huy mới có dịp hỏi lại:
– Còn anh thì sao?
Stephen nhún vai đáp:
– Tôi sợ thịt! Anh cũng biết người Mỹ khoái món beef steak lắm. Trước kia tôi cũng thường ăn nhưng có một lần nọ, khi tôi cắt miếng thịt ra, nhìn vào bên trong thấy còn đỏ tươi, máu đang tướm ra khiến tôi rùng mình phát sợ. Từ đó tôi không dám ăn thịt nữa. Tôi ăn rau cải thấy ngon miệng hơn.
Sau đó hai người im lặng ăn cho xong buổi trưa. Trước khi chia tay, Stephen thân mật hỏi Huy:
– Nếu anh không phiền, tôi có thể đến nhà anh để học hỏi thêm nhiều kiến thức về Phật giáo được không?
Huy gật đầu:
– Tôi rất vui lòng chia sẻ với anh nhưng không biết tôi có đủ chữ để trình bày với anh chăng? Dù sao, tôi cũng cố gắng.
Sau khi ghi vội địa chỉ của Huy, Stephen hẹn chiều thứ bảy đến chơi. Bỗng Huy nảy ra một ý kiến:
– À, hay là anh dùng cơm chiều với gia đình chúng tôi, anh sẽ thấy chúng tôi có nhiều món ăn chay ngon lắm, chắc anh chưa từng ăn bao giờ.
Stephen hí hửng như trẻ con được kẹo:
– Thế thì tốt quá! Cảm ơn anh nhiều lắm!
Trong lúc Mai đang chiên nốt mấy cuốn chả giò, Huy phụ vợ đặt bàn. Mai nhìn chồng hỏi:
– Anh xem có cần bình hoa ở bàn không? Nếu cần bảo bé Khanh ra vườn cắt vài đóa hồng
Huy cười:
– Đơn giản mới tự nhiên em à! Vả lại anh chàng Stephen này chẳng chú trọng hình thức bên ngoài đâu. Bữa nay anh sẽ tập cho chàng ta cầm đũa! À, này em, món canh bí đao nên dịch ra tiếng anh như thế nào? Và đồ kho nữa?
– Mình cứ đặt đại tên gì cũng được, đâu cần chính xác lắm! Món canh này có thể gọi là “squash soup”, còn đồ kho thì…
Thấy vợ ngập ngừng, Huy đỡ lời:
– Người Mỹ không có món kho như mình nên khó tìm được từ ngữ tương đương. Thôi cứ nói là “mixed vegetable cook” được không em.
Mai cười vui vẻ:
– Dạ, đại khái như thế cũng được. Mình đâu có mở quán ăn mà sợ ai bắt bẻ! Nhưng khi nói Phật pháp mình phải cố gắng dùng từ cho chính xác kẻo “ông nói gà, bà hiểu vịt” thì tai hại lắm đấy!
Huy cũng pha trò:
– Anh sẽ dùng “vô ngôn thiền” vậy!
Hai vợ chồng đang cười khúc khích thì có tiếng chuông reo.
Huy nhìn ra cửa và nói:
– Stephen đến đấy! Người Mỹ có thói quen rất đúng giờ, đó là điều mà người mình cần bắt chước.
Mai nói như có vẻ phân bua dù biết rằng Huy không có ám chỉ mình:
– Thì em cũng xong cả rồi mà!
Stephen lừng khừng bước theo Huy vào nhà. Hôm nay trông chàng có vẻ tươm tất hơn mọi ngày: áo trắng bỏ vào trong quần jean gọn gàng, sạch sẽ. Sau thủ tục giới thiệu, Huy dẫn Stephen lại bàn thờ Phật. Chàng ta đứng im lặng quan sát giây lâu rồi buột miệng nói:
– Bức ảnh ông này trông hạnh phúc lắm! Hạnh phúc này mình cũng được san sẻ nếu mình biết nhìn ngắm.
Huy ngạc nhiên vì sự nhạy bén của Stephen, chàng giải thích:
– Đấy là Đức Phật Thích Ca. Ông là vị Thầy tối cao của tất cả các Phật tử trên thế giới, người dạy cho chúng tôi cách sống có hạnh phúc và tránh những điều sai lầm. Ngài là người thật. Ngài ra đời tại xứ Ấn Độ, trước Thiên Chúa hơn sáu trăm năm. Nếu anh thích tôi sẽ cho anh mượn một quyển sách nói về cuộc đời của Ngài.
Stephen gật gù:
– Cám ơn, đó là điều tôi cần biết!
Huy nhìn vào bếp, thấy Mai ra hiệu, chàng biết Mai muốn bắt đầu bữa ăn ngay vì sợ thức ăn nguội mất ngon, nhất là món chả giò chay đặc biệt của nàng.
Huy nói:
– Chúng ta bắt đầu bữa chiều nhé!
Sau khi phân ngôi chủ khách, Huy quay qua nói với Stephen:
– Chúng tôi không cầu nguyện hay tạ ơn trước bữa ăn như những tôn giáo khác. Nhưng chúng tôi luôn đọc thầm ba lời nguyện này:

Miếng thứ nhất trừ xong nghiệp dữ.
Miếng thứ hai nguyện tạo duyên lành.
Miếng thứ ba thệ độ quần sinh.

Stephen chăm chú lắng nghe, sau đó chàng có vẻ suy nghĩ nhưng ngại hỏi nhiều trước bữa ăn, anh lặng thinh.

Hai đứa con của Huy có vẻ háo hức chờ xem Stephen cầm đũa, nhất là bé Thanh, nó cầm đũa lên rồi nhìn ông khách Mỹ mà cười, khoe hai cái răng cửa mới thay to như hai tấm thớt.
Stephen hiểu ý, cầm đôi đũa lên, rồi như muốn tạo bầu không khí vui nhộn, chàng cầm mỗi tay một chiếc đũa rồi kẹp lấy cuốn chả giò bỏ vào chén.

Hai đứa bé được dịp cười thoải mái…
Mai kín đáo quan sát ông khách, thấy Stephen ăn ngon lành; khen rồi ăn, ăn rồi khen, Mai vui thầm, biết mình không uổng công nấu nướng. Rồi không ngăn được sự tò mò thường tình của một người nữ đầu bếp. Mai nhìn Stephen hỏi:
– Thường ngày anh nấu những món gì?
– Tôi chỉ biết luộc. Tôi thay đổi các loại rau cải nhưng nấu thì chỉ có một cách đó thôi. Luộc xong tôi chấm với những loại dressing mà người ta dùng ăn xà lách.
Mai cười:
– Anh nên cưới vợ, vợ anh sẽ nấu nhiều món cho anh ăn.
Stephen thành thật nói:
– Tôi đã ba mươi bốn tuổi rồi mà chưa gặp được một người bạn gái cùng chung quan niệm sống. Đó là điều đáng tiếc nhưng tôi không vội vàng trong vấn đề hôn nhân.
Hai đứa nhỏ ăn xong đã xin phép rời bàn ăn sớm để xem ti vi. Người lớn chậm rãi ăn bánh ngọt uống trà.
Vui miệng, Stephen nói tiếp:
– Tôi thích lối sinh hoạt của người Á Đông. Ăn buổi chiều thoải mái, vui vẻ, đủ mặt mọi người trong nhà. Ăn xong nhâm nhi tách trà nóng; đời sống an nhàn, không có gì phải vội vã.

Ở xứ này cái gì cũng phải vội vàng, người nào cũng có vẻ bận rộn. Khi cái đầu ham muốn nhiều thứ quá, thì cái chân phải chạy. Lắm lúc tôi tự suy nghĩ như vầy: nhu cầu thiết yếu của con người thật ra chẳng có bao nhiêu. Thức ăn để sống, quần áo để che thân, một mái nhà để trú ngụ, một chiếc xe làm phương tiện di chuyển. Nếu sống cuộc đời giản đơn không xa xỉ theo hình thức bên ngoài, không chạy theo thời thượng, mình có thể tiết kiệm được rất nhiều tiền và có thể dùng tiền này giúp cho những người nghèo đói. Tôi chủ trương sống đơn giản, người ta cho là tôi lập dị, nhưng họ chê tôi mà không nhìn lại mình. Họ là những người kiểu cách rườm rà vô ích trong cách sinh hoạt hàng ngày, chính họ mới là những người lập dị phải không?

Stephen ngưng một chút rồi nói tiếp:
– Giao thiệp với bạn gái, tôi không hề khen kiểu áo này đẹp, kiểu tóc kia hợp thời trang… Cho nên, các cô lấy làm phật ý. Tôi cũng không hợp với những người chỉ chú trọng làm dáng, hoặc kiểu cách bên ngoài mà tâm hồn thì trống rỗng. Cách sống của họ là bắt chước người khác, thật ra họ cũng không biết mình đang sống như thế nào? Theo tôi, họ là những người không có bản lĩnh, không có lập trường, nói cách khác, họ không làm chủ lấy họ được.

Thấy câu chuyện đã đổi sang chiều hướng nghiêm trang. Mai lẳng lặng dẹp bàn và rút lui để cho Huy và Stephen được tự do đàm đạo. Rồi chợt nhớ ra, Stephen nhìn Huy hỏi:
– Hồi nãy, anh bảo trước khi ăn, anh đọc ba lời nguyện. Tại sao không tạ ơn mà là nguyện?
– Theo tôi, nguyện tránh điều dữ, làm điều lành là để xứng đáng thọ dụng thức ăn mà nuôi mạng sống. Khi mạng sống được nuôi dưỡng bằng công sức của biết bao người lao động không tên tuổi thì đó là một cái ơn rất sâu nặng. Mình không thể thốt lên lời cám ơn suông là đủ. Phải phát nguyện sống với tâm hồn rộng rãi, phát nguyện sống cuộc đời giải thoát để có thể cứu giúp muôn vàn chúng sanh, mới mong đền đáp ơn này.
Stephen khẽ gật gù:
– Hay! Hay! Nhưng tôi nghĩ là khó lắm! – anh tằng hắng lấy giọng rồi thẳng thắn nói tiếp – Giúp vài ba người đã là khó huống hồ chi giúp cả thế gian này! Nhưng giúp như thế nào mới được chứ?
Huy trả lời, giọng nói có vẻ cảm kích:
– Điều khó làm ấy, Đức Phật đã làm. Ngài giúp chúng sinh phương pháp diệt trừ phiền não để được sống an vui.
Stephen giương đôi mắt xanh lơ nhìn Huy, anh nói thật chậm:
– Tôi đã đọc một cuốn sách Phật giáo, trong đó có nói rằng: “Đời là bể khổ” và con người có tám cái khổ chính là: sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, mong cầu được khổ, yêu mà phải chia lìa khổ, oán ghét mà gặp nhau là khổ… còn cái khổ thứ tám là gì tôi không nhớ, có lẽ vì tôi không hiểu, cho nên, không nhớ được.
Huy biết đó là “ngũ ấm xí thạnh khổ”, nhưng không biết giải thích làm sao. Chàng cầu cứu Mai vì nàng rành những thuật ngữ chuyên môn hơn:
– Mai à, em xong chưa, đến đây phụ anh cái này.
Chén cũng vừa rửa xong. Mai gọi con gái lớn vào úp chén; nàng lau tay rồi đến với Huy.
Huy quay sang stephen:
– Mai sẽ nói cho anh nghe về cái khổ thứ tám. Tôi hiểu nhưng không thể giải thích rõ bằng Mai.
Mai khiêm tốn:
– Tôi thường đọc sách Phật giáo viết bằng anh ngữ nên có thể phiên dịch chút đỉnh nhưng anh ráng nghe vì tôi ưa nhấn giọng sai.
Stephen cười, tỏ ý lắng nghe:
Mai nói:
– Thân và tâm con người theo Phật giáo là do năm món hiệp lại, gọi là ngũ ấm, gồm có: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Năm món này đều không điều hòa với nhau, có món nào vượt trội hơn sẽ làm mình khổ. Thí dụ nếu sắc quá thịnh làm cho hình vóc phì nộn nặng nề thì thấy khó chịu, khổ sở; cảm thọ nhiều cũng khổ, tư tưởng mơ ước nhiều quá là tướng khổ, nhọc lòng liệu mưu tính kế là hành khổ, thường phải cố ý phân biệt, nhớ biết là thức thịnh khổ.
Chờ Mai dứt lời Stephen lịch sự nói:
– Cám ơn chị đã giải thích cặn kẽ. Giờ thì tôi hiểu rồi. Nhưng tôi tự hỏi như vầy. Phải chăng muốn vào ngưỡng cửa đạo Phật, người ta phải chấp nhận “tiền đề” khổ? Nếu không thấy khổ, người ta sẽ không tha thiết với đạo?
Huy đã quen tiếp xúc và làm việc với người Mỹ. Họ nhìn vấn đề rất thực tế và đặt vấn đề thẳng thắn. Huy chậm rãi đáp, nói từng tiếng rõ ràng:
– “Khổ” không phải là một tiền đề, một điều kiện tiên quyết để từ đó Đức Phật xây dựng hệ thống giáo lý của Ngài. Nhưng “khổ” là một thực tại, một sự thật mà ai cũng có kinh nghiệm trải qua. Thí dụ như khổ vì bệnh. Bị nhức răng một buổi thôi là đã thấy khó chịu lắm rồi, vì cảm thấy khổ sở nên mình phải cầu cứu đến nha sĩ, phải không?
Mai tiếp lời, giọng nhẹ nhàng hơn:
– Tôi cũng đồng ý với Stephen rằng nếu không thấy khổ, người ta sẽ không tìm đến với đạo Phật. Để chứng minh điều đó, tôi xin kể câu chuyện này:

“Tôi nhớ hồi còn ở Việt Nam, lúc đó tôi là đoàn sinh trong Gia đình Phật tử nên tôi đến chùa sinh hoạt mỗi Chủ nhật rất đều đặn. Tôi có người bạn thân – Kim Oanh – chị học cùng lớp với tôi ở Trung học. Chị là con của một bác sĩ nổi danh. Kim Oanh là người con thứ sáu, trong gia đình có bảy anh chị em. Anh trai cả sắp tốt nghiệp trường Đại học Y khoa, cô em út – Hoàng Yến – là một bông hoa mỹ miều mà nhan sắc và tài đàn dương cầm của cô đã làm bao nhiêu người trầm trồ khen ngợi.

Gia đình cô bạn tôi là điển hình của hạnh phúc thế gian, mà không phải ai cũng có thể đạt được: giàu có, danh vọng, anh em hòa thuận sum vầy, chồng vợ tâm đầu ý hợp. Hoàng Yến được bố mẹ cưng lắm, chẳng hiểu vì đó là lẽ thường xưa nay “giàu út ăn, khó út chịu” hay vì tánh tình vui vẻ hồn nhiên của Yến gây không khí yêu đời cho mọi người trong nhà. Yến học trường đầm nên từ cách ăn mặc đến sự giao thiệp với bạn bè đều thoải mái, khác hẳn Kim Oanh, luôn luôn có khuynh hướng bảo thủ với đời sống nội tâm thâm trầm. Tuy vậy, hai chị em rất thân nhau.

Trong lớp Kim Oanh ngồi bên cạnh nên tôi thường có dịp kể và cho Oanh xem những hình ảnh về sinh hoạt của Gia đình Phật tử, những buổi cấm trại có nhiều môn thi đua, những buổi trình diễn văn nghệ, những ngày thi lên cấp… Tôi kể với tất cả sự say sưa làm Kim Oanh cũng cảm thấy hứng thú.

Một hôm Kim Oanh rụt rè nói:
– Nhà tôi cũng theo đạo Phật. Thỉnh thoảng mẹ tôi có dẫn tôi đi chùa nhưng chỉ đến lạy Phật cúng chùa rồi về. Ba tôi không hoan nghinh lắm trong việc đi chùa nên mẹ tôi cũng ít đi.
Tôi không dằn lòng được, hỏi tới:
– Tại sao ba của Oanh không thích đi chùa?
– Ba tôi nói: ở nhà mình thờ Phật, thờ không bà cũng đủ rồi. Chỉ những người muốn cầu nguyện, những người yếu đuối về tinh thần, những người có sự đau khổ trong lòng mới cần chỗ nương tựa và thường xuyên đến chùa.

(còn tiếp)

Diệu Nga

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!