Thứ Bảy, 21 Tháng Năm 2022
Sức khỏe Cần biết Có cần dùng thuốc dự phòng đột quỵ ở bệnh nhân hậu...

Có cần dùng thuốc dự phòng đột quỵ ở bệnh nhân hậu COVID-19?

Di chứng hậu COVID-19 khiến nhiều người lo lắng, trong đó có đột quỵ. Vậy làm thế nào để phòng ngừa đột quỵ hậu COVID-19…

1. Nguyên nhân đột quỵ hậu COVID-19?

Nhiều bệnh nhân COVID-19 sau khi đã khỏi bệnh có thể gặp các di chứng cục máu đông, nguyên nhân dẫn đến đột quỵ, nhồi máu cơ tim, thuyên tắc phổi. Một năm sau mắc COVID-19, nguy cơ mắc đột quỵ giảm rõ rệt nhưng vẫn cao hơn ở bệnh nhân có tiền sử nhiễm COVID-19 trước đó.

Nguyên nhân đột quỵ hậu COVID-19 là do:
  • Tăng phản ứng viêm, dẫn đến tình trạng viêm mạch máu não.
  •  Gây ra tình trạng tăng đông, dẫn đến sự hình thành huyết khối trong hệ động mạch, hệ tĩnh mạch và các cơ quan.
  •  Thuyên tắc huyết khối ngược dòng, đặc biệt trên bệnh nhân còn tồn tại lỗ bầu dục PFO (là một lỗ nằm giữa tâm nhĩ trái và phải -buồng trên của tim).

Ngoài ra, việc nhiễm COVID-19 có thể gây co thắt mạch máu, tăng huyết áp dẫn đến xuất huyết não.

Nhiều bệnh nhân bị tổn thương mạch máu do phản ứng miễn dịch kéo dài trong mạch máu sau khi hồi phục COVID-19

2. Dùng thuốc kháng đông dự phòng đột quỵ ở bệnh nhân COVID-19 khi nào?

Mặc dù cơ chế gây đột quỵ của COVID-19 liên quan rất nhiều đến việc hình thành huyết khối gây thuyên tắc mạch máu, tuy nhiên không chứng minh được lợi ích của việc sử dụng thường quy thuốc kháng đông hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu trên bệnh nhân nhiễm COVID-19 nhằm mục đích dự phòng đột quỵ.

Trên bệnh nhân nhiễm COVID-19 sau xuất viện, có nguy cơ thuyên tắc tĩnh mạch cao, nghiên cứu cho thấy lợi ích của rivaroxaban trong việc làm giảm các biến cố thuyên tắc tĩnh mạch, mà không làm tăng các biến cố xuất huyết. Ngoài ra, việc sử dụng heparin trong lượng phân tử thấp cũng có thể làm giảm đáng kể nguy cơ thuyên tắc phổi và hệ thống ở bệnh nhân nhiễm COVID-19 nặng hoặc thở máy. Do đó, có thể cân nhắc chỉ định kháng đông trên các đối tượng phù hợp.

Tuy vậy, trong giai đoạn cấp, trên những bệnh nhân đột quỵ mức độ nặng (nhồi máu não diện rộng), việc sử dụng thuốc kháng đông hoặc kháng kết tập tiểu cầu cần phải cân nhắc đến nguy cơ chuyển dạng xuất huyết trong ổ nhồi máu.

3. Dự phòng đột quỵ hậu COVID-19 thế nào?

3.1. Biện pháp không dùng thuốc

Để tránh đột quỵ hậu COVID-19, bệnh nhân cần thực hiện lối sống lành mạnh:

– Tập thể dục phù hợp, ít nhất 30 phút/ngày: Đi bộ, đạp xe, cầu lông…

– Ngủ đủ giấc (7-8 tiếng/ngày).

– Không thức quá khuya.

– Hạn chế uống rượu, bia…

– Bỏ thuốc lá.

– Có chế độ dinh dưỡng lành mạnh: Giảm chất béo, ít đạm, bột đường, đồ ăn cay nóng, chiên xào, tăng rau xanh, hoa quả tươi….

– Uống đủ lượng nước mỗi ngày (2-2,5 lít).

3.2. Biện pháp dùng thuốc

Những bệnh nhân hậu COVID-19 được xem là nhóm nguy cơ cao bị đột quỵ khi đang đồng thời có nhiều yếu tố nguy cơ khác, như: Tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid, rung nhĩ, hút thuốc, béo phì…

Cho đến nay, việc phòng ngừa đột quỵ tiên phát trên bệnh nhân hậu COVID-19 chỉ bao gồm việc kiểm soát chặt các yếu tố nguy cơ. Chưa có bằng chứng cho thấy hiệu quả của thuốc kháng đông, hoặc kháng kết tập tiểu cầu trong phòng ngừa đột quỵ.

3.3. Lưu ý khi dùng thuốc

– Với các bệnh nhân đã bị đột quỵ và đồng thời nhiễm COVID-19, việc sử dụng kháng đông hoặc kháng kết tập tiểu cầu nên được duy trì (theo chỉ định của thầy thuốc). Việc lựa chọn sẽ tuỳ thuộc vào cơ chế đột quỵ trước đó, không nên chuyển sang thuốc kháng đông chỉ vì hậu nhiễm COVID-19.

– Với các bệnh nhân sau mắc COVID-19 nếu có mắc đồng thời các bệnh mạn tính khác vẫn cần duy trì sử dụng các thuốc điều trị dự phòng như trước đây.

– Tuy nhiên, một số bác sĩ còn thói quen sử dụng thuốc kháng đông hoặc aspirin cho bệnh nhân COVID-19. Việc này cần tham khảo các thuốc dự phòng đột quỵ sẵn có của bệnh nhân trước đây để tránh việc trùng lắp, có thể làm tăng nguy cơ chảy máu.

Một năm sau mắc COVID-19, nguy cơ mắc đột quỵ giảm rõ rệt nhưng vẫn cao hơn ở bệnh nhân có tiền sử nhiễm COVID-19 trước đó.

4. Có nên tầm soát đột quỵ sau khi nhiễm COVID-19?

– Nếu bệnh nhân mắc COVID-19 nhẹ, không có các yếu tố nguy cơ đột quỵ kèm theo, nguy cơ đột quỵ sẽ rất thấp. Do vậy, không cần thiết phải tầm soát đột quỵ một cách thường quy.

– Nếu bệnh nhân có yếu tố nguy cơ khác kèm theo, việc tầm soát đột quỵ cũng nên tập trung vào mục tiêu cần hướng đến trong việc kiểm soát chặt các yếu tố nguy cơ này. Không nên lạm dụng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh nếu như bệnh nhân không có triệu chứng đột quỵ.

– Hầu hết mọi người đã quá hoảng loạn vì đại dịch và những thông tin nhiễu trên truyền thông. Do vậy, nhiệm vụ của thầy thuốc lúc này là xoa dịu và giúp họ bình tâm trở lại.

PGS.TS.BS Nguyễn Huy ThắngPhó chủ tịch Hội Đột quỵ Việt Nam, Chủ tịch Hội Đột quỵ TP.HCM Trưởng Khoa Bệnh lý mạch máu não Bệnh viện Nhân dân 115

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!