Chuỗi sự kiện 8 tháng 3 – Một bản anh hùng ca

240

  Lịch sử ngày Quốc tế Phụ nữ bắt nguồn từ sự kiện 08/3/1857, các công nhân ngành dệt chống lại những điều kiện làm việc khó khăn và tồi tàn của họ tại Thành phố New York: 12 giờ làm việc một ngày. Hai năm sau, cũng trong tháng 3, các nữ công nhân Mỹ trong hãng dệt thành lập công đoàn (syndicat) đầu tiên đã được bảo vệ và giành được một số quyền lợi.

Năm mươi năm sau, ngày 08/3/1908, 15.000 phụ nữ diễu hành trên các đường phố New York để đòi được giảm giờ làm việc, lương cao hơn và hủy bỏ việc bắt trẻ con làm việc. Khẩu hiệu của họ là “Bánh mì và Hoa hồng” (Bread and Roses). Bánh mì tượng trưng cho bảo đảm kinh tế gia đình, Hoa hồng tượng trưng cho đời sống tốt đẹp hơn. Sau đó, Đảng Xã hội Mỹ tuyên bố Ngày Quốc tế Phụ nữ là ngày 28/02/1909.

Trong Hội nghị phụ nữ do Quốc tế thứ II (Quốc tế Xã hội chủ nghĩa) tổ chức ngày 08/3/1910, 100 đại biểu phụ nữ thuộc 17 nước đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Chủ tịch là bà Clara Zetkin, người Đức, đã đề nghị chọn một ngày để nhớ ơn những phụ nữ đã đấu tranh trên toàn thế giới. Hội nghị đã chọn ngày 08/3 làm Ngày Quốc tế Phụ nữ.
Năm 1971, Thụy Sĩ chấp nhận quyền bầu cử cho phụ nữ.

Ngày 08/3/1975, Liên hiệp quốc bắt đầu chú ý và tổ chức ngày Quốc tế Phụ nữ.
Năm 1977, hai năm sau ngày Quốc tế Phụ nữ, Liên hiệp quốc quyết định mời các nước dành một ngày để nói lên quyền lợi của người phụ nữ và hòa bình thế giới. Kể từ đó, ngày 08/3 được chọn để trở thành ngày lễ chung cho nhiều quốc gia trên thế giới.

Ở nước ta, ngày 08/3 còn là dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, hai vị nữ anh hùng đầu tiên của dân tộc đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ nguyên bờ cõi, giang sơn đất Việt.

Từ năm 1950 tại Việt Nam, vào ngày mùng 06/02 âm lịch mỗi năm đều có tổ chức ngày lễ Hai Bà Trưng ở Sài Gòn và sau đó đã dùng ngày lễ này làm ngày Phụ nữ. Mỗi năm đều chọn một nữ sinh Trường Trưng Vương và một nữ sinh Trường Gia Long đóng vai Hai Bà Trưng ngồi trên bành voi trong dịp cử hành lễ.

Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa và nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt của các Lạc hầu, Lạc tướng cùng những người yêu nước ở khắp các thị quận và đông đảo lực lượng là phụ nữ tham gia khởi nghĩa.

Dưới sự lãnh đạo tài tình của Hai Bà Trưng, cuộc khởi nghĩa đã giành thắng lợi, đập tan chính quyền đô hộ, buộc tướng Tô Định phải cải trang, cắt tóc, cạo râu trốn về nước.
Sau cuộc khởi nghĩa thắng lợi, Bà Trưng Trắc được các tướng lĩnh và nhân dân suy tôn làm vua. Bà lên ngôi lấy niên hiệu là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh (huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay).

Năm 42, nhà Hán lại kéo quân sang xâm lược nước ta. Hai Bà lại một lần nữa ra quân, phất cờ bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, do chênh lệch thế lực với địch quá lớn nên cuộc khởi nghĩa chỉ kéo dài 2 năm. Hai Bà đã hy sinh anh dũng để bảo vệ dân tộc.

Cuộc khởi nghĩa đã diễn ra cách đây gần hai thế kỷ, biết bao nhiêu biến đổi “bãi bể nương dâu” nhưng hai vị nữ anh hùng vẫn sống mãi trong trang sử hào hùng của dân tộc.

“Trưng Trắc, Trưng Nhị là phái nữ, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng; việc dựng nước, xưng vương dễ như trở bàn tay, đủ biết tình thế đất Việt ta có thể dựng cơ nghiệp bá vương. Tiếc rằng sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, phái nam chỉ cúi đầu bó tay, làm thần bộc cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà ư? Ôi! Có thể gọi là tự bỏ mình vậy” (Ngô Đức Thọ dịch và chú thích (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ Trưng Nữ Vương, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 156 – 157).

Ngô Sĩ Liên viết rằng: “Họ Trưng giận Thái thú nhà Hán bạo ngược, vung tay hô một tiếng mà quốc thống nước ta suýt được khôi phục; khí khái anh hùng không những là lúc sống dựng nước xưng vương mà sau khi chết có thể chống ngăn tai họa; phàm gặp những việc tai ương hạn lụt, đều cầu đảo không việc gì là không ứng. Cả bà Trưng em cũng thế. Vì là đàn bà mà có đức hạnh kẻ sĩ, cái khí hùng dũng trong khoảng trời đất không phải vì thần chết mà kém đi. Bọn trượng phu chẳng nên nuốt lấy cái khí phách cương trực chính đại ư?” (Sđd, Kỷ Thuộc Đông Hán, tr. 157 – 158).

Người Hán cũng vậy. Mặc dù coi Hai Bà là làm phản, Hậu Hán Thư đã dùng ba chữ “thậm hùng dũng” (rất hùng dũng) để diễn tả khí thế của Hai Bà.

Thắng lợi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được đánh giá là một bản anh hùng ca bất diệt, thể hiện ý chí độc lập và niềm tự hào dân tộc. Đây không phải là một cuộc nổi dậy nhỏ, giới hạn trong một địa phương mà là một cuộc khởi nghĩa có quy mô rộng lớn bao trùm tất cả các quận thuộc Giao Chỉ Bộ từ Hợp Phố trở xuống. Nó đã làm chấn động triều đình nhà Hán. Phải mất hai năm dài sửa soạn, dưới sự chỉ huy của vị lão tướng nổi danh nhất đương thời, nhà Hán mới bắt đầu cuộc tái xâm lược lần hai.

Cuộc khởi nghĩa này biểu dương cho tinh thần bất khuất của dân tộc ta trước sự tràn lấn thường trực và vô cùng mãnh liệt của Hán tộc. Đồng thời thể hiện khả năng lãnh đạo của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam thời cổ. Đồng thời, cuộc khởi nghĩa cũng là một minh chứng cho sức mạnh của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử nhân loại vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bác Hồ đã dành tặng cho phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Những từ này không phải chỉ nói cho vui mà mọi thứ đều có nguyên do. Ngoài việc tề gia nội trợ, những lúc đất nước có chiến tranh, chị em đều xung phong tham gia. Cuộc khởi nghĩa chống quân Hán xâm lược của Hai Bà Trưng vào thế kỷ thứ nhất là một minh chứng hùng hồn. Vào thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chị em trên cả nước theo lời kêu gọi của Bác Hồ đứng lên kháng chiến, góp phần công sức to lớn làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954. Lúc giặc Mỹ xâm lược, phụ nữ hai miền Nam Bắc hăng hái, tỏ rõ quyết tâm đập tan ách đô hộ. Hình ảnh những cô gái Việt nhỏ bé chiến đấu với quân đội hùng hậu đã trở thành biểu tượng hào hùng của quân và dân ta.

Trong thời bình, người phụ nữ không còn chiến đấu nhưng với phương châm: “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, người phụ nữ đã và đang đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội. Ngày càng có nhiều người nữ trở thành chính trị gia, nhà khoa học nổi tiếng, nhà quản lý năng động; những lĩnh vực trước đây chỉ dành cho nam giới, phụ nữ cũng làm rất tốt như: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân; Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến; nữ doanh nhân Nguyễn Thị Mai Thanh – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh; Đinh Thị Hoa – Chủ tịch HĐQT Công ty Thiên Ngân; Mai Kiều Liên – Chủ tịch & CEO, Vinamilk; Nguyễn Thị Nga – Chủ tịch HĐQT BRG Group – Intimex – SeAbank… Trong đó, có không ít những phụ nữ tham gia các hoạt động thiện nguyện, các hoạt động giải trí mang lại bản sắc cũng như quảng bá đất nước Việt Nam ra bạn bè thế giới.

Tuy vị thế của người phụ nữ ngày càng được coi trọng xứng ngang với phái mạnh nhưng chúng ta cũng cần phải giữ gìn vẻ đẹp truyền thống vốn có của người phụ nữ, biết lo toan, chăm sóc cho gia đình, biết những việc làm cơ bản nhất trên cương vị một người vợ, người mẹ, người “nội tướng” của gia đình. Thực tế đã ghi nhận rất nhiều gia đình khi cả vợ chồng đều quá bận rộn với công việc mà xao nhãng trách nhiệm, dẫn đến kết cục ly hôn, đổ vỡ hôn nhân và hạnh phúc gia đình.

Có câu nói: “Đằng sau mỗi một người đàn ông thành đạt là người phụ nữ biết hy sinh.” Nếu gia đình là tế bào của xã hội thì phụ nữ là hạt nhân của tế bào này, đóng vai trò “thắp lửa” và “giữ lửa” cho mái ấm chung.

Trong 365 ngày của một năm, phụ nữ có riêng một ngày để được xã hội quan tâm và bù đắp những thiệt thòi, vất vả trong cuộc sống. Họ luôn âm thầm hy sinh và chịu đựng để xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy, họ xứng đáng nhận được sự tôn trọng và quan tâm hơn nữa từ một nửa kia còn lại của thế giới, chia sẻ với họ những khó khăn trong công việc và gia đình. Nhân ngày Quốc tế Phụ nữ 08/3, chúc cho tất cả những người phụ nữ luôn mạnh khỏe, tươi trẻ và luôn mang trong mình hào khí Trưng Vương.

Trăm năm trong cõi người ta,
Khí thiêng chung đúc một nhà lạ thay,
Kìa xem sử Việt xưa nay,
Thoa quần mà cũng có ngày đế vương.
Giai nhân nan tái đắc,
Trong danh hoàn dễ được mấy Trưng Vương?

Nguyễn Ngô Đoan (1851 – 1945)

Hoa Đàm